MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................... 1
Lời mở đầu ........................................................................................................ 1
Phần 1. Cơ sỏ lí luận về khả năng cạnh tranh .................................................. 3
Phần 2. Thực trạng và định hướng nâng cao khả năng cạnh tranh ngành cà
phê Việt Nam ................................................................................................... 14
Lời kết luận ...................................................................................................... 29
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 31
Lời mở đầu
Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng, đặc biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra được khối lượng nông sản không chỉ đáp
ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu cao mang về hàng tỉ đô
la. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ cao và ổn định, hình
thành những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá với quy mô lớn. Sự phát
triển nhanh của ngành nông nghiệp đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị
trường quốc tế, góp phần đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất
nước. Là một trong những mặt hàng nông sản chủ lực, cà phê Việt Nam có
tốc độ phát triển rất cao, hàng năm thu về hàng trăm triệu đô la từ việc xuất
khẩu, mang lại nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho một nhóm đông
dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi. Tuy nhiên, bên cạnh những thế
mạnh của mình, ngành cà phê vẫn tồn tại những hạn chế ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh. Do đó, làm sao phát huy hết nội lực, hết lợi thế để cà phê
Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trên thị trường thế giới vẫn là một
câu hỏi bất cập cần có lời giải đáp.
Đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành cà phê Việt
Nam” mà em chọn là một đóng góp nhỏ ý kiến của bản thân mong góp phần
giải quyết câu hỏi đó.
Tuy đây là lần đầu tiên tiếp cận với cách thức viết đề án môn chuyên
ngành, nhưng dưới sự hướng dẫn tận tình của Ths.Ngô Thị Việt Nga, em
đã hoàn thành đề án này. Em xin chân thành cảm ơn cô!
Sinh viên thực
để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo
thực hiện mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện mục
tiêu của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là : khả năng doanh nghiệp đó
tạo ra, duy trì và phát triển được những lợi thế của mình về hàng hóa dịch vụ
so với trung bình của nghành hoặc có khả năng cắt giảm chi phí sản xuất kinh
doanh nhờ việc sử dụng hợp lí và có hiệu quả tất cả các nguồn lực của doanh
nghiệp đó để giúp cho doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận hoặc thị phần
cao hay sự tin tưởng trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp cũng
như sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp một cách lâu dài, bền vững.
2. Phân loại khả năng cạnh tranh
2.1. Cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền
kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định
kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
2.2. Cạnh tranh ngành
Xét theo phạm vi nghành kinh tế, cạnh tranh được chia thành 2 loại :
Cạnh tranh trong nội bộ ngành : là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng sản xuất kinh doanh một loại dịch vụ. Cạnh tranh trong nội bộ
ngành là một cuộc cạnh tranh tất yếu phải xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục
tiêu cao nhất là lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp
phải cải tiến kỹ thuật, năng lực quản lý...nhằm nâng cao năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm để tìm lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành : là cạnh tranh giữa các chủ doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế khác
nhau nhằm mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn. Cạnh tranh giữa các ngành
tạo ra xu hướng di chuyển của vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu
4
được lợi nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân.
3.1. Thị phần, chất lượng và chủng loại, giá thành sản phẩm
3.1.1. Thị phần sản phẩm của ngành trên thị trường
Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá triển vọng tăng trưởng, phát triển
của ngành. Những số liệu về tổng thị phần trong và ngoài nước nói lên kết
quả của hoạt động thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường, xúc tiến thương mại,
múc độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tính năng động của ngành.
Ngoài ra, thị phần cũng phản ánh mức độ tập trung trong sản xuất kinh
doanh đối với loại sản phẩm hàng hóa của ngành trên thị trường. Bên cạnh đó,
thị phần còn phản ánh độ liên kết giữa vị thế của ngành với vị thế của người
mua đối với một loại sản phẩm hay hàng hóa nhất định, biểu hiện uy tín của
ngành, sự tin cậy của người mua trong việc cung ứng, thanh toán, giá cả, chất
lượng và dịch vụ sau bán hàng của hàng hóa đó trên thị trường.
MS = (%)
Trong đó:
MS: thị phần của ngành trên thị trường trong nước
P : sản lượng của ngành được tính bằng hiện vật hoặc doanh thu
M : số lượng nhập khẩu mặt hàng đang xét hoặc giá trị hàng nhập
khẩu
3.1.2. Chỉ tiêu về chất lượng và chủng loại sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng của sản phẩm là yếu tố quan
trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu cùng một loại sản phẩm có công
dụng sử dụng và giá cả như nhau thì sản phẩm có chất lượng tốt hơn sẽ được
6
thị trường chấp nhận. Yếu tố chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào điều
kiện kỹ thuật, trình độ lao động của từng ngành, từng vùng, từng quốc gia
nhưng nâng cao chất lượng sản phẩm của ngành là mục tiêu của mọi ngành ở
bất kì quốc gia nào. Bên cạnh đó, kinh tế thế giới và kinh tế các quốc gia đều
tăng trưởng mạnh mẽ, mức sống của mọi tầng lớp dân cư đều được cải thiện,
nhu cầu tiêu dùng tăng lên, người tiêu dùng sẵn sàng tiêu thụ sản phẩm có
chất lượng tốt với giá cả cao hơn nhưng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao
vận hành.
Chất lượng tài sản hiện có: phản ánh sức khoẻ của một doanh nghiệp,
nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỉ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có,
(Nợ xấu-Bad debt- là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể
thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ
nợ. Nợ xấu được coi là chi phí khác của doanh nghiệp cho vay, chính vậy nên
làm giảm thu nhập dòng. Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính
trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số
liệu nợ xấu ở kì trước. Đa số các công ty đều cho phép một tỉ lệ nợ xấu
nhất định trên tổng nợ vì chắc chắn một điều là không thể thu hồi được mọi
khoản nợ một cách đầy đủ nhất), mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi
các khoản nợ xấu. Mức độ tập trung và đa dạng hoá của danh mục tín dụng,
rủi ro tín dụng tiềm ẩm…
Mức sinh lời: là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp,
cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của doanh, nó có thể được phân
tích qua những chỉ tiêu: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (lợi nhuận được hình thành từ nguồn
8
nào?), tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE tính bằng % của thu nhập
sau thuế/ vốn chủ sở hữu) tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA tính
bằng % của thu nhập sau thuế/ tổng tài sản có), các chỉ tiêu về mức simh lời
trong mối tương quan với chi phí…
Khả năng thanh toán (solvency): khả năng bảo đảm trả được các khoản
nợ đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng
giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực
sẵn có (resource). Investopedia định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng
đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở
rộng và phát triển”.
3.3. Công nghệ
Trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập toàn cầu, việc tham
nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khoa học - kỹ thuật, công nghệ,... dù có nhiều
bao nhiêu cũng vẫn là hữu hạn, chúng không có sức mạnh tự thân và sẽ cạn
kiệt dần trong quá trình khai thác. Hơn thế nữa, các nguồn lực này chỉ phát
huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi chúng được kết hợp với nguồn
lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.
3.5. Năng lực quả lí và cơ cấu tổ chức
Năng lực quản lí phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị
cũng như ban giám đốc doanh nghiệp nó thể hiện ở mức độ chi phối và khả
năng giám sát của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc: mục tiêu, động cơ,
mức cam kết của ban giám đốc, hội đồng quản trị trong công tác duy tri, nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực quản lí quyết định hiệu
quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Ban giám đốc luôn phải đưa ra
những chính sách, chiến lược nhằm đảm bảo sử dụng hợp lí các nguồn lực tạo
10
ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức một phần phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực của
doanh nghiệp có phù hợp với qui mô, trình độ quản lí, đặc trưng cạnh tranh
cũng như nhu cầu thị trường hay không? Nó thể hiện sự phân chia các phòng
ban chức năng, bộ phận tác nghiệp, đơn vị trực thuộc…Một cơ cấu tổ chức
được xem là có hiệu quả khi nó thể hiện sự phân công phân cấp giữa các
phòng ban một cách hợp lí đồng thời với sự phối kết hợp một cách hài hoà
giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai thực hiện các chiến lược
kinh doanh cũng như khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu tổ chức đó
trước những biến đổi của môi trường kinh doanh đầy biến động.
Năng lực quản lí và cơ cấu tổ chức cũng là một trong những chỉ tiêu
quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
3.6. Hệ thống kênh phân phối và các dịch vụ cung cấp
Hệ thống kênh phân phối: "Mạng lưới nhà phân phối hoặc tổng đại lý
chính là cánh tay chính là cánh tay nối dài, giúp sản phẩm được bao trùm rộng
khắp các địa bàn,...Tuy nhiên đây lại là mô hình phức tạp nhất trong việc
tranh trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới.
4.3. Nhân tố con người
Con người ở đây phản ánh đến đội ngũ lao động. Đội ngũ lao động
tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố
như trình độ lao động, năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự
sáng tạo trong sản xuất... Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng
cao chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa.
4.4. Khả năng về tài chính
Bất cứ hoạt động đầu tư, sản xuất phân phối nào cũng đều phải xem xét
12