Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan
trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra được khối lượng nông sản không
chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu cao mang về hàng tỉ đô
la. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ cao và ổn định, hình thành
những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá với quy mô lớn. Sự phát triển nhanh của
ngành nông nghiệp đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp
phần đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Là một trong những
mặt hàng nông sản chủ lực, cà phê Việt Nam có tốc độ phát triển rất cao, hàng năm
thu về hàng trăm triệu đô la từ việc xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhập ổn định,
thường xuyên cho một nhóm đông dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi. Tuy
nhiên, bên cạnh những thế mạnh của mình, ngành cà phê vẫn tồn tại những hạn chế
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Do đó, làm sao phát huy hết nội lực, hết lợi thế
để cà phê Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trên thị trường thế giới vẫn là
một câu hỏi bất cập cần có lời giải đáp.
Đề tài “Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cà phê
Việt Nam “ mà em chọn là một đóng góp nhỏ ý kiến của bản thân mong góp phần
giải quyết câu hỏi đó.
Tuy đây là lần đầu tiên tiếp cận với cách thức viết đề án môn chuyên ngành,
nhưng dưới sự hướng dẫn tận tình của Ths Nguyễn Đình Trung, em đã hoàn thành
đề án này. Em xin chân thành cảm ơn thầy!
Sinh viên thực hiện
Tạ Thị Bình Minh
Trang 1
I. Thực chất và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.
I.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong
những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị
trường. Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp
trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của
mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể.

vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn
đến sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
3.3. Cạnh tranh sản phẩm.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường của các doanh nghiệp,
vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng được coi trọng hàng đầu. Bởi sản phẩm là
đại diện cho thương hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hoặc yếu kém trong
lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng. Cạnh tranh về sản phẩm thường
được thể hiện qua các mặt:
Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta
lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản
phẩm. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản
phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh về chất lượng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau để lựa
chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu
này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp còn
phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hàng hóa và cơ cấu chủng
loại hợp lý.
Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm. Doanh nghiệp sử dụng công cụ này để
đánh trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng.
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm. Sử dụng biện pháp này,
doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ra một sản phẩm mới
hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
I.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.
4.1. Các nhân tố chủ quan.
4.1.1 Nhân tố con người
Trang 3
Con người ở đây phản ánh đến đội ngũ lao động. Đội ngũ lao động tác động
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố như trình độ lao
động, năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự sáng tạo trong sản xuất...

vay. Do đó khi lãi suất tăng lên sẽ dẫn tới chi phí sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp tăng và ngược lại. Như vậy, doanh nghiệp nào có lượng vốn chủ sở hữu lớn
xét về mặt nào đó sẽ thuận lợi hơn trong cạnh tranh và rõ ràng năng lực cạnh tranh
về tài chính của doanh nghiệp sẽ tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của sản phẩm
của doanh nghiệp trong các ngành. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá được
tác động của nó để tìm ra những cơ hội cũng như thách thức.
4.2.2. Các nhân tố về chính trị pháp luật.
Các nhân tố về chính trị pháp luật là nền tảng quy định các yếu tố khác của
môi trường kinh tế. Nền kinh tế ảnh hưởng đến hệ thống chính trị nhưng ngược lại
hệ thống chính trị cũng tác động trở lại các hoạt động kinh tế. Pháp luật và chính trị
ổn định sẽ tạo ra một cơ chế chính sách trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong
từng lĩnh vực cụ thể có được lợi thế cạnh tranh trong xu thế toàn cầu hoá của thế
giới.
Nói tóm lại, khi xem xét khả năng cạnh tranh của một ngành, của một doanh
nghiệp thậm chí kể cả của đối thủ cạnh tranh, cần phải xem xét đầy đủ các nhân tố
tác động, từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
của ngành hay của doanh nghiệp đó.
II. Thực trạng về thị trường cà phê thế giới và ngành cà phê Việt Nam
II.1. Tổng quan về thị trường cà phê thế giới.
Nhìn lại sự phát triển thị trường tiêu thụ cà phê thế giới cho thấy sau thế
chiến II, nhu cầu dùng cà phê ở nhiều quốc gia tăng lên nhanh chóng. Bắt đầu từ Mỹ
ở thập niên 1950-1960 khi những cựu chiến binh mang sở thích uống cà phê về
truyền bá trong quân đội và dân chúng, rồi dần dần phát triển sang Châu Âu ở
những năm 1960-1970. Vào cuối thập niên 1970, khi thị trường Mỹ và Châu Âu gần
như chững lại thì những thị trường mới lại mở ra ở vùng Viễn Đông như Nhật Bản
và gần đây là thị trường Đông Âu, Trung Quốc có dấu hiệu tăng. Cùng với sự mở
rộng thị trường ở khắp nơi, sản lượng cà phê thế giới không ngừng tăng lên, đáp
ứng nhu cầu ngày cao của người tiêu dùng. Sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ
Trang 5

về xuất khẩu cà phê Arabica toàn cầu, chiếm khoảng 19%, chủ yếu là loại cà phê
Arabica dịu. Đứng thứ ba về xuất khẩu cà phê Arabica là Guatêmala, chiếm khoảng
5% tổng sản lượng xuất khẩu cà phê toàn cầu.
Trang 6
Mỹ là nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 29% tổng sản
lượng cà phê nhập khẩu. Đứng thứ hai là Đức với tỷ trọng khoảng 18% tổng lượng
nhập khẩu. Nhập khẩu cà phê của Nhật Bản tăng nhanh, đưa Nhật Bản trở thành
nước đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu cà phê trong những năm qua với tỷ trọng
khoảng 9% tổng lượng cà phê nhập khẩu toàn cầu.
Do mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân cung-cầu, giá cà phê đã liên tục
giảm trong những năm gần đây, giảm xuống tới mức kỷ lục trong năm 2002 chỉ
bằng 1/3 mức giá bình quân của thập niên 60 ( tính theo giá thực tế ). Theo dự báo
của WB( ngân hàng thế giới ), giá cả hai loại cà phê Rôbusta và Arabica đều tăng
lên trong năm 2003 và sẽ tiếp tục tăng trong năm 2004. Tuy nhiên, giá cà phê khó có
thể tăng nhanh do nguồn cung vẫn ở trong tình trạng dư thừa. Về dài hạn, giá cà phê
có thể hồi phục nhưng chắc chắn khó có thể trở lại mức giá kỷ lục của những năm
70 hay đầu thập niên 90 của thế kỷ 20.
II.2. Thực trạng ngành cà phê Việt Nam.
2.1. Về sản xuất.
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế
kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Năm 1930 ở
Việt Nam có 5900 ha. Trong thời kì những năm 1960-1970, cây cà phê được phát
triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất
( 1964-1966 ) đã đạt tới 13000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê
Arabica và do các yếu tố tự nhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn
diện tích cà phê phải thanh lý.
Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của các nước có
khoảng trên 13000 ha, cho sản lượng 6000 tấn. Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được
phát triển mạnh tại các tỉnh Tây Nguyên nhờ có vốn từ các hiệp định hợp tác liên
chính phủ với các nước : Liên Xô cũ, CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, đến

( số liệu theo trang web : vicofa.com )
2.2. Về công nghệ.
Sau 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, chúng ta mới có một ít
xưởng chế biến cũ kỹ, chắp vá. Ở phía bắc có một số xưởng chế biến ở Đồng Giao,
Phủ Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do CHDC Đức chế tạo. Ở phía nam
có một số xưởng của các doanh điền cũ như Rossi, Delphante để lại công suất
không lớn. Cùng với việc mở rộng diện tích trồng cà phê, chúng ta cũng đã bắt tay
vào xây dựng các xưởng chế biến mới, bắt đầu từ những thiết bị lẻ, rồi đến các dây
chuyền sản xuất sao chép theo mẫu của Hang-xa như nhà máy 1/5 Hải Phòng, nhà
máy A74 Bộ Công Nghiệp ở Thủ Đức-TpHCM. Những năm gần đây, nhiều công ty,
nông trưòng đã xây dựng các xưởng chế biến mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập
Trang 8
từ CHLB Đức, Brazil. Một loạt hơn chục dây chuyền chế biến cà phê của hãng
Pinhalense-Brazil được đưa vào Việt Nam. Tiếp đó lại xuất hiện nhiều xưởng lắp
ráp thiết bị do cơ sở công nghiệp Việt Nam chế tạo mô phỏng có cải tiến công nghệ
của Brazil. Như thế so với thời gian trước đây thì hiện tại vấn đề công nghệ trong
sản xuất và chế biến cà phê đã được quan tâm chặt chẽ hơn.
2.3. Về nguyên liệu.
Về nguyên liệu, nhờ có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi và đất đai màu
mỡ, phì nhiêu nên đã tạo điều kiện cho các giống cà phê phát triển tốt. Cả nước hiện
có khoảng 390 ngàn ha cà phê phân bố trên nhiều địa bàn từ bắc chí nam. Cây trồng
được chăm sóc tốt, đảm bảo chất lượng cho sản xuất. Vì vậy mà nguồn nguyên liệu
rất dồi dào, luôn đảm bảo cung cấp đủ sản lượng cho sản xuất, xuất khẩu và dự trữ.
2.4. Về lao động.
Nhờ tạo được công ăn việc làm và mang lại nguồn thu nhập ổn định thường
xuyên nên ngành cà phê đã thu hút hàng triệu lao động. Trong đó chiếm một lượng
lớn là dân cư các vùng nông thôn, trung du và miền núi có điều kiện tự nhiên thuận
lợi như các tỉnh miền núi phía bắc, Tây Nguyên, Gia Lai, Đăk Lăk… và tỉnh Thanh
Hoá là một ví dụ điển hình. Đến năm 2001, diện tích cà phê của tỉnh trồng được là
3996 ha với 3213 hộ gia đình tham gia ở 46 xã cung cấp 6000 lao động. Riêng xã

động cao đã góp phần giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm.
Nhờ đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam trênthị trường quốc
tế. Ngoài ra, do nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới tăng nhanh nên sản phẩm cà
phê cũng ngày càng được tiêu thụ mạnh.
3.1.2. Lợi thế chủ quan.
Với môi trường chính trị ổn định được cả thế giới công nhận, đã tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm khi làm ăn với Việt Nam. Đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi để phát triển sản xuất và
xuất khẩu cà phê. Như chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất, vườn cây cho
người lao động đã nâng ý thức làm chủ lên cao, nhờ đó vườn cây được chăm sóc tốt,
đầu tư thâm canh tăng cao, đất đai được sử dụng triệt để. Ngoài ra ngay từ năm
1994, thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo thành lập quỹ hỗ trợ hay bảo hiểm ngành cà
phê. ( Văn bản số 140/TB ngày 1/11/1994 của văn phòng chính phủ). Các năm sau
chính phủ liên tiếp chỉ đạo và yêu cầu Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ
trì và phối hợp với Bộ Tài chính, Ban vật giá chính phủ, Bộ Thương mại xây dựng
Trang 10
quỹ hỗ trợ hay quỹ bảo hiểm cho ngành cà phê. Chính phủ chủ trương “ngân sách
Nhà nước sẽ hỗ trợ ban đầu một lần khi thành lập qũy” ( Văn bản số 589/KTTH
ngày 3/2/1997 của chính phủ ). Ngoài ra còn huy động ngân sách Nhà nước để giúp
đỡ nông dân qua khỏi những giai đoạn khó khăn như mua cà phê tạm trữ để nâng
cao giá cho nông dân, miễn thuế nông nghiệp cho đất trồng cà phê, hoãn nợ và tiếp
tục cho nông dân vay tiền chăm sóc vườn cây... Bên cạnh đó, những sửa đổi các
chính sách hành chính cho nhanh và đơn giản thuận tiện, cùng với các chính sách
mở cửa thu hút đầu tư, kêu gọi đầu tư cũng góp phần phát triển ngành. Đây chính là
những thế mạnh, lợi thế của cà phê Việt Nam trên con đường cạnh tranh quốc tế.
3.2. Những hạn chế của ngành cà phê Việt Nam và nguyên nhân.
Tuy có nhiều lợi thế và thu được những thành quả đáng khích lệ nhưng
trong tình hình diễn biến phức tạp của thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt, ngành cà phê Việt Nam đã và đang bộc lộ những nhược điểm và hạn
chế từ sản xuất đến xuất khẩu, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.

đồng; trong khi đó, lượng cà phê tồn kho tính đến đầu tháng 10/2000 là xấp xỉ
30000 tấn.
Qua nhìn nhận lại niên vụ cà phê 1999-2000 trên đây có thể khẳng định lại
tính bền vững của ngành cà phê chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế
giới
3.2.2. Cơ cấu cây trồng thiếu hợp lý.
Cơ cấu cây trồng không hợp lí, tập trung quá nhiều vào cà phê Robusta là loại cà
phê phải cạnh tranh với những nước có bề dày kinh nghiệm và thị trường xuất khẩu
ổn định như Brazil,Achentina, Indonesia...Chưa quan tâm đến mở rộng diện tích cà
phê Arabica, loại cà phê có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, được thị trường ưa
chuộng hơn, giá lại cao và có tiềm năng phát triển lớn. Những năm gần đây tuy có
một số doanh nghiệp có quan tâm chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng diện
tích cà phê Arabica, nhưng giải pháp chưa đồng bộ nên kết quả thấp.
3.2.3. Chất lượng cà phê chưa cao.
Chất lượng cà phê Việt Nam còn thấp chưa tương xứng với lợi thế về đất
đai và khí hậu Việt Nam, còn khoảng cách xa so với yêu cầu của thị trường thế giới.
Ông Daniele Giovannucci, cố vấn cao cấp của Ngân hàng Thế giới, lấy hình ảnh
Brazil, một đất nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới và so sánh:“ Chất lượng ổn
định là điều dễ nhận thấy nhất đối với cà phê Brazil, trong khi đó vấn đề này đối với
Trang 12

Trích đoạn Mở rộng thị trường cà phê và tăng cường hợp tác quốc tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status