những biện pháp cơ bản đảm bảo vốn fdi và oda cho phát triển kinh tế việt nam giai đoạn 2001 - 2005 - Pdf 10

Mở đầu
Ngày nay, hội nhập quốc tế là một vấn đề cấp thiết, một vấn đề
sống còn đối với các quốc gia trên thế giới. Nhiều vấn đề nảy sinh trên
quy mô toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết
nếu không có sự hợp tác đa phơng. Xu hớng quốc tế hoá đang diễn ra
nhanh chóng và sôi động trên mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó phải
kể đến lĩnh vực kinh tế. Nhiều quốc gia, bao gồm cả các nớc phát triển
và các nớc đang phát triển, đã đạt đợc những thành tựu to lớn nhờ tham
gia tích cực vào tiến trình hội nhập dới các hình thức: liên kết khu vực,
liên minh thuế quan, khu vực mậu dịch tự do, liên minh tiền tệ, Trong
đó, nhóm các nớc NICs đợc biết đến nh là một minh chứng cho sự vơn
lên mạnh mẽ của các quốc gia vốn chỉ có một nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu
cách đây vài thập kỷ.
Việt Nam là một trong những nớc nghèo nhất thế giới với thu nhập
bình quân đầu ngời 1755 USD/ngời(tính theo PPP-1999). Chúng ta đã
tiến hành cải cách kinh tế khá chậm so với các nớc trong khu vực cũng
nh một số nớc có cùng trình độ trên thế giới. Mặc dù vậy chúng ta luôn
luôn cố gắng bắt kịp xu thế thời đại. Đảng và Nhà nớc đã xác định Việt
Nam không thể đứng ngoài xu thế chung của thế giới. Chúng ta phải nắm
bắt cơ hội, vợt qua thách thức, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển
mạnh mẽ trong thời kỳ mới. Đặc biệt, nớc ta lại nằm trong một khu vực
đợc đánh giá là năng động nhất trên thế giới hiện nay. Để tránh nguy cơ
tụt hậu xa hơn về kinh tế, chúng ta cần phải có nguồn vốn đủ lớn cho đầu
t phát triển. Vì vốn đầu t là yếu tố không thể thiếu đợc trong quá trình
phát triển của bất kỳ quốc gia nào, nhất là với những nớc đang trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vốn đầu t có thể đợc huy động ở
trong nớc hay từ nớc ngoài. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày
nay, mặc dù vốn đầu t trong nớc luôn luôn giữ vai trò quyết định nhng
nguồn vốn từ nớc ngoài ngày càng trở nên phổ biến và có vai trò không
nhỏ. Trong đó FDI và ODA là hai nguồn vốn đầu t nớc ngoài đáng kể
nhất.

kết quả hoạt động kinh doanh và đợc chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn
pháp định.
- FDI đợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,
mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động, có thể là
mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau.
2. Tầm quan trọng của FDI.
Vốn FDI đóng một vai trò vô cùng to lớn trong đời sống kinh tế
quốc tế. Nó tác động tích cực tới cả nớc đầu t và nớc nhận đầu t.
Đối với n ớc xuất khẩu vốn đầu t :
- Có khả năng trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và
đa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Do vậy, vốn đầu t đợc sử dụng
với hiệu quả cao.
- Giúp các chủ đầu t nớc ngoài chiếm lĩnh thị trờng tiêu thụ và
nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu của nớc sở tại.
- Giúp các chủ đầu t giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động
do khai thác đợc nguồn nhân công với giá rẻ.
- Tránh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nớc sở tại do xây
dựng đợc các doanh nghiệp nằm ngay trong lòng các nớc sở tại.
- 2 -
Đối với n ớc nhận vốn đầu t :
- FDI bổ sung nguồn vốn cho nớc chủ nhà giúp bù đắp sự thiếu
hụt của nguồn vốn trong nớc, mở rộng tích luỹ và góp phần vào việc
nâng cao tốc độ phát triển kinh tế. Hầu hết các nớc, nhất là các nớc đang
phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế
cho thấy nhiều nớc đang phát triển nhờ có FDI nên đã giải quyết đợc một
phần khó khăn về vốn và đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp
hoá đất nớc.
- Thông qua FDI các công ty đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ
sang các nớc chủ nhà. Nhờ sự chuyển giao này mà các nớc chủ nhà có
thể thu đợc kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh

- Song song với hoạt động đầu t của các nhà đầu t nớc ngoài đôi
khi còn kèm theo những hoạt động tình báo, gây rối an ninh, chính trị,
- 3 -
II. Tổng quan về nguồn vốn ODA.
1. Khái niệm.
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance -
ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc tín dụng u đãi
(cho vay dài hạn, lãi suất thấp, ) của các Chính phủ, các tổ chức thuộc
hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức
tài chính quốc tế (nh WB, IMF, ADB, ), gọi chung là các đối tác viện trợ
nớc ngoài, dành cho Chính phủ và nhân dân nớc nhận viện trợ.
Hỗ trợ phát triển chính thức có thể ràng buộc (phải chi tiêu ở nớc
cấp viện trợ) hoặc không ràng buộc (có thể chi tiêu ở bất cứ đâu) hoặc có
thể ràng buộc một phần (một phần chi ở nớc cấp viện trợ, phần còn lại
chi ở bất kỳ nơi nào).
Các hình thức của ODA :
- Hỗ trợ cán cân thanh toán, tức là viện trợ tài chính trực tiếp dới
hình thức hiện vật hay hỗ trợ nhập khẩu hoặc có thể là tiền mặt. Ngoại tệ
hoặc hàng hoá chuyển vào trong nớc qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh
toán có thể đợc chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi
hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này đợc bán ra trên thị trờng trong nớc,
và số thu nhập bằng bản tệ đợc đa vào ngân sách của Chính phủ.
- Tín dụng thơng mại với các điều kiện u đãi, trên thực tế là một
dạng viện trợ hàng hoá có ràng buộc.
- Hỗ trợ các chơng trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án): là viện trợ
khi đạt đợc một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối l-
ợng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không
phải xác định một cách chính xác nó sẽ đợc sử dụng nh thế nào.
- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính
thức, nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật hoặc cả hai. Các dự

thay thế nhau giữa tiền tiết kiệm và ngoại hối). Có những quốc gia
khoảng trống này chiếm u thế, trong khi đó ở những quốc gia khác
khoảng trống kia lại chiếm u thế. Đối với những quốc gia có khoảng
trống tiết kiệm chiếm u thế, nguồn lực cho sản xuất trong nớc không đủ
để tiến hành các dự án đầu t, trong khi ngoại hối lại d thừa. Tuy nhiên,
hầu hết các nớc đang phát triển đều nằm ở khoảng trống ngoại hối.
Những nớc này có nguồn lực sản xuất d thừa (chủ yếu là lao động) và
toàn bộ ngoại hối đợc dùng để thanh toán hàng nhập khẩu. Bởi vậy, với
nguồn lực sẵn có các quốc gia này sẽ có thể thực hiện đợc các dự án đầu
t với sự trợ giúp của các nguồn tài chính bên ngoài.
- Thực hiện các chơng trình đầu t quốc gia, đặc biệt là các dự án
cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế (năng lợng, giao
thông vận tải, thuỷ lợi, nông-lâm nghiệp, thông tin liên lạc) để làm nền
tảng vững chắc cho ổn định và tăng trởng kinh tế, thúc đẩy đầu t của t
nhân trong và ngoài nớc.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm: chất lợng giáo dục, y tế,
dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trờng sinh thái, dinh dỡng, các vấn đề
về xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, miền núi, cấp nớc sinh
hoạt,
- Kèm theo các nguồn vốn là sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Để đảm
bảo tiền viện trợ đợc sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, các nớc cấp viện trợ
còn chuyển giao nguồn nhân lực có trình độ cao sang các nớc tiếp nhận
nhằm t vấn, hỗ trợ trong việc sử dụng vốn.
- Thực hiện các chơng trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ cho
chính phủ sở tại hoạch định chính sách, hay cung cấp thông tin cho đầu
t t nhân bằng các hoạt động điều tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện
trạng kinh tế-kỹ thuật, xã hội, các ngành, các vùng lãnh thổ.
Bên cạnh những yếu tố tích cực, nguồn vốn ODA cũng hàm chứa
trong nó những vấn đề mang sắc thái kinh tế chính trị tiêu cực xuất phát
- 5 -

năm trở lại đây đã phải chịu đựng hiện tợng đồng Yên tăng giá mạnh so
với đồng USD và tác động tiêu cực này đã làm cho nghĩa vụ trả nợ càng
thêm nặng nề.
3. Vai trò của nguồn vốn ODA trong việc thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài - kinh nghiệm từ các nớc Đông Nam á.
Những phân tích trên đây cho ta thấy đợc tầm quan trọng của
nguồn vốn ODA đối với các nớc đang phát triển. Cùng với FDI nó tạo
nên những đóng góp tích cực trong quá trình phát triển kinh tế. Để hiểu
rõ hơn vấn đề này ta cần xem xét mối tơng quan giữa vốn ODA và FDI.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế, điều cơ bản đối với nguồn vốn
nớc ngoài là cải tạo căn bản hệ thống hạ tầng kinh tế bằng nguồn vốn
ODA, tạo cơ sở gia tăng nhanh nguồn FDI - nguồn vốn giúp đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho ngời lao động và cho ngân sách, kích thích tăng trởng, đặc biệt
là tăng trởng xuất khẩu, mở rộng nguồn tích luỹ nội địa. Nền kinh tế có
mức tăng trởng lớn lại tác động đến việc khai thông nguồn ODA. Bởi vậy
- 6 -
cần phải cân đối về khối lợng và cơ cấu giữa hai nguồn vốn này. Việc
thiếu hụt bất cứ nguồn vốn nào cũng đều ảnh hởng đến quá trình thu hút
nguồn vốn còn lại và tác động không tốt đến quá trình tăng trởng kinh tế.
Điều này đã đợc chứng minh qua thực tế phát triển của các nớc Đông
Nam á.
Sau chiến tranh thế giới thứ II các nớc Đông Nam á đều thiếu vốn
để phát triển. Trong tình hình đó một số nớc đã tranh thủ nguồn viện trợ
Mỹ, Nhật Bản, EU để nhanh chóng vơn lên trở thành các nớc công
nghiệp phát triển nh các nớc NICs, và một số nớc trong khối ASEAN.
Nguồn vốn ODA của Mỹ, Nhật Bản và một số nớc khác chủ yếu đ-
ợc đầu t để phát triển cơ sở hạ tầng của các nớc Đông Nam á. Có thể
nhận thấy tác dụng của nguồn vốn này ở chỗ cơ sở hạ tầng của các nớc
Đông Nam á đã đợc cải thiện rõ rệt nh Singapo, Thái Lan, Malaixia,

kém, tích luỹ nội bộ nền kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, về cơ bản
vẫn là một nớc nông-công nghiệp với gần 80% dân số hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp.
- 7 -
Từ lý thuyết mô hình hai khoảng trống đem áp dụng vào nớc ta thì
thấy chúng ta thiếu ngoại hối một cách trầm trọng (luôn trong tình trạng
nhập siêu). Về tiết kiệm, mặc dù ta có một nguồn lực dồi dào song lại
không có điều kiện sử dụng nguồn lực ấy vì thiếu vốn đầu t cho xây dựng
cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị máy móc, áp dụng khoa học công
nghệ tiên tiến, Nguồn vốn trong nớc chỉ có thể đáp ứng đợc 2/3 nhu
cầu vốn cho phát triển, còn lại ta phải huy động từ các nguồn ở bên
ngoài. Trong đó ODA và FDI là hai nguồn vốn quan trọng hàng đầu.
Đảng ta đã xác định Việt Nam trong quá trình trở thành một nớc
công nghiệp phải có những bớc đi tuần tự hợp với quy luật phát triển,
đồng thời tranh thủ thời cơ thuận lợi đi tắt, đón đầu trong những
ngành, lĩnh vực cho phép nhằm bắt kịp xu thế của thời đại. Một trong
những thời cơ đó là việc tận dụng những lợi thế của hai nguồn vốn ODA
và FDI. Chúng không chỉ giúp ta thoả mãn nhu cầu về vốn đầu t mà kèm
theo đó còn là sự du nhập của khoa học công nghệ hiện đại, của trình độ
quản lý tiên tiến, của những đỉnh cao tri thức nhân loại.
Chơng II
Thực trạng vốn FDI và ODA tại Việt Nam
trong những năm vừa qua
I. Tình hình huy động vốn nớc ngoài.
1. FDI trong phát triển kinh tế Việt Nam.
a) Tình hình chung.
Đại hội IX của Đảng đã nêu ra một thành phần kinh tế mới, đó là
thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Đảng chủ trơng tạo mọi điều
kiện để thành phần kinh tế này phát triển thuận lợi, hớng vào xuất khẩu,
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện

Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc toàn quyền quyết
định phơng hớng, chiến lợc sản xuất kinh doanh, hoạt động độc
lập, tự chủ trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài có thể mở rộng chi
nhánh ở ngoài các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, nơi mà các
doanh nghiệp đăng ký đặt trụ sở. Những doanh nghiệp này đợc
phép mở tài khoản ở nớc ngoài. Trớc đây việc mở tài khoản chỉ
đợc phép thực hiện tại các ngân hàng ở Việt Nam.
- Trờng hợp doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đầu t vào các
lĩnh vực, địa bàn u đãi sẽ đợc giảm thuế suất thuế lợi tức 10, 15,
20%, đợc miễn giảm 50% thuế lợi tức với thời gian tối đa tới 8
năm.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc tự do tuyển dụng
lao động nhng phải u tiên ngời Việt Nam.
Các chính sách có tính chất u đãi thu hút đầu t nớc ngoài.
Bên cạnh Luật đầu t nớc ngoài còn có một loạt các nghị định,
quyết định của Thủ tớng Chính phủ, luật thuế, tựu trung đều có t tởng
tạo dựng môi trờng đầu t thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài. Nội dung
tập trung chủ yếu vào các điểm sau:
- Đơn giản hoá thủ tục cấp phép, rút ngắn thời gian cấp phép đầu
t, đổi mới việc cấp giấy phép lao động cho ngời nớc ngoài, thủ
tục xuất nhập cảnh, thủ tục hải quan,
- Giảm bớt chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp, từng bớc thực
hiện chính sách một giá nh giá dịch vụ cung cấp nớc, điện, lắp
đặt điện thoại,
- Ban hành các chính sách thuế có tính chất u đãi nh thuế đất,
thuế thu nhập, hoàn vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu; giảm và bỏ bớt một số loại phí.

Vốn FDI
Cụ thể vốn FDI của các năm là 22700 tỷ đồng vào năm 1996, năm
1997 là 30300 tỷ, 1998 là 24300 tỷ, 1999 là 18900 tỷ, năm 2000(sơ bộ)
là 22400 tỷ (số liệu thống kê mới nhất cho biết vốn đầu t nớc ngoài vào
Việt Nam năm 2000 đạt khoảng 30180 tỷ đồng).


Nh vậy, do chính sách
mở cửa còn nhiều hạn chế nên FDI có chiều hớng giảm trong năm 1998
và 1999. Chỉ sau khi Chính phủ thực hiện việc tháo gỡ những ràng buộc
áp đặt cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, ban hành những
chính sách u đãi, vốn FDI mới có dấu hiệu hồi phục vào năm 2000. Sự
hồi phục bớc đầu là rất khả quan, cho thấy một dấu hiệu nguồn vốn FDI
sẽ tăng trởng mạnh mẽ trong thời gian tới.
Các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam dới 3 hình thức chủ
yếu: Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài (chiếm khoảng 30% tổng số dự
án), doanh nghiệp liên doanh (chiếm gần 60%), hợp đồng hợp tác kinh
doanh (chiếm 10%). Ngoài ra còn có các hình thức BOT, BT, BTO. So
với các nớc khác trong khu vực nh Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung
Quốc, Luật đầu t nớc ngoài của Việt Nam hấp dẫn hơn vì nó cho phép sở
hữu 100% vốn nớc ngoài trong nhiều khu vực kinh tế. Hơn nữa, luật này
còn bảo vệ các nhà đầu t khỏi sự chiếm đoạt và quốc hữu hoá tài sản, cho
phép các nhà đầu t chuyển vốn và lợi nhuận về nớc một cách dễ dàng, tỷ
lệ vốn của phía nớc ngoài trong liên doanh không cứng nhắc và có nhiều
u đãi về thuế. Thêm vào đó, sự khác biệt giữa đầu t nớc ngoài và đầu t
trong nớc đã và đang từng bớc đợc xoá bỏ. Bởi vậy trong thời gian gần
đây các nhà đầu t nớc ngoài có xu thế xin thành lập doanh nghiệp 100%

Nguồn: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX của Đảng.


ngoài vào Việt Nam là Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng
Kông. So với một số nớc trong khu vực nh Campuchia, Lào, Myanmar n-
ớc ta có sức hút đầu t nớc ngoài mạnh hơn do có quy định cả hình thức
đầu t Hợp đồng hợp tác kinh doanh(BCC) và các hình thức BOT, BT,
BTO. Điều này cho phép các nhà đầu t có nhiều sự lựa chọn hơn. Để hiểu
rõ hơn tình hình hoạt động của vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt
Nam, ta xem xét các số liệu sau:
Số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc cấp giấy phép.
Năm Số dự án
Vốn đăng ký (triệu USD)
Tổng số
Trong đó vốn pháp
định
1996 345 4649,1 2334,4
1997 275 3897 1805,6
1998 311 1568 693,3
1999 354 1985,2 1513,7
Vốn đầu t thực hiện của các dự án đầu t trực tiếp của nớc ngoài.
Năm
Tổng số(triệu
USD)
Chia ra
Vốn từ nớc ngoài
Vốn của
Việt Nam
1996 2837 2447 390
1997 3032 2768 264
1998 2189 2062 127
- 11 -
1999 2153 1945 208

chuyển giao phơng thức quản lý hiện đại, trình độ cao cũng đợc tiến
hành. Vì thế năng lực và trình độ của cán bộ quản lý Việt Nam đợc nâng
lên đáng kể.
Về tình hình thu nộp Ngân sách nhà nớc.
Trong giai đoạn từ 1988 đến 1998, các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN đã đóng góp cho ngân sách Nhà nớc khoảng 64.852 tỷ đồng,
chiếm 19% tổng số thu về thuế và phí của ngân sách Nhà nớc, cụ thể nh
sau:
Thu từ lĩnh vực dầu khí: số thu nộp ngân sách từ lĩnh vực dầu khí
chiếm tới 70,6% số thu của cả khu vực FDI, đạt 45.780 tỷ đồng (số liệu
của giai đoạn 1998 trở về trớc), trong đó 35,7% là thuế tài nguyên,
- 12 -
33,7% là thuế lợi tức, 1,1% thuế chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài, 29,5% là
lãi bên Việt Nam đợc chia nộp ngân sách.
Thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài khác: Số thu từ
các doanh nghiệp này tăng với tốc độ 1995 - 85%, 1996 - 42%, 1997
46%, 1998 7,9%. Trong giai đoạn 1997-1998 mặc dù bị ảnh hởng bởi
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực nhng số thuế lợi tức vẫn tăng từ
685.366 triệu đồng lên đến 716.110 triệu đồng.
2. Thực trạng thu hút ODA.
Trong những năm qua, nguồn vốn ODA vào nớc ta tăng không
ngừng. Trải qua 8 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam, các
khoản cam kết ODA dành cho nớc ta từ 1993 đến 2000 lên tới 17,5 tỷ
USD và 1,2 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế, trong đó phần viện trợ không
hoàn lại chiếm gần 25%. Đặc biệt hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam
lần thứ 9 (7-8/12/2001) đã tuyên bố cộng đồng thế giới cam kết tài trợ
cho Việt Nam khoản vốn vay 2,4 tỷ USD trong năm 2002 để tiếp tục thực
hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mình. Trong khi nguồn vốn
này trên thị trờng quốc tế rất có hạn và bị cạnh tranh gay gắt giữa các n-
ớc đang phát triển thì lợng vốn vào Việt Nam nh vậy là rất khả quan. Đây

đợc vay vốn vay u đãi của ADB. ADB đã cam kết cho Việt Nam vay 1,6
tỷ USD vốn tín dụng để đầu t cho 19 dự án, thời hạn cho vay 40 năm,
trong đó có 10 năm ân hạn, lãi suất 0%, chi phí quản lý 1%/năm. Ngoài
ra còn có 70 khoản trợ giúp kỹ thuật trị giá 47 triệu USD không hoàn lại.
Từ 1999, Việt Nam đợc chuyển từ nhóm A lên B1 nên phải vay một phần
từ nguồn vốn thông thờng (OCR) với lãi suất thị trờng và thời gian ngắn
hơn. Nguồn ADF cũng giảm bớt tính u đãi, thời gian vay còn 32 năm,
trong đó có 8 năm ân hạn, chi phí quản lý sẽ nâng lên 1,5% cho thời kỳ
sau khi hết thời gian ân hạn. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của
ADB dùng để hỗ trợ cho việc cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, phát
triển cơ sở hạ tầng xã hội, tăng cờng thể chế và đào tạo nguồn nhân lực,
thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo, hợp tác tiểu vùng và tiểu vùng
Mêkông mở rộng nhằm phối hợp chung các nớc trong tiểu vùng. Ngoài
ra, nguồn vốn ODA của ADB còn hỗ trợ cho đầu t t nhân, cổ phần hoá và
cải cách doanh nghiệp nhà nớc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
các chủ thể kinh doanh.
Từ 1993 đến 2000 ta đã ký các hiệp định nhằm thực hiện các cam
kết. Nguồn vốn mà ta ký đợc bằng 80% nguồn ODA đã cam kết, trong
đó 85% là vốn vay, 15% là viện trợ không hoàn lại. Trong ba năm 1997,
1998, 1999, vốn ODA đợc giải ngân trung bình mỗi năm trên 1,1 tỷ
USD. Theo đánh giá của các chuyên gia WB thì tốc độ giải ngân nguồn
vốn ODA nh vậy vẫn là chậm, do đó chơng trình viện trợ của WB dành
cho Việt Nam đang từ 500 triệu USD năm 1996 xuống còn 431 triệu
USD vào năm 1999. Có thể thấy chơng trình viện trợ của WB đang có
chiều hớng thu hẹp lại. Trái ngợc với quan điểm của WB, Nhật Bản lại tỏ
ra lạc quan về tốc độ giải ngân nguồn vốn ODA, và ông chủ tịch Hội
đồng kinh tế Nhật Bản từng tuyên bố mặc dù nền kinh tế nớc này có gặp
nhiều khó khăn trong giai đoạn vừa qua nhng Nhật Bản vẫn cố gắng duy
trì vốn ODA cho Việt Nam, trong khi nguồn vốn này cho nhiều nớc đã bị
cắt giảm. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan thì mức giải ngân

nguồn điện, hệ thống đờng dây, trạm biến thế quan trọng đều đợc đầu t
hoặc hỗ trợ bằng ODA nh nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, Phả Lại,
Hàm Thuận-Đà My, nhiệt điện Phú Mỹ II.
Về giao thông vận tải và bu chính viễn thông, tỷ trọng ODA dành
cho hai lĩnh vực này đã tăng lên đáng kể. Các công trình giao thông
trọng điểm và cả các dự án giao thông nông thôn cũng đều đợc tài trợ
bằng ODA. Nhiều công trình lớn đợc hoàn thành với sự góp mặt của
ODA nh quốc lộ 1, quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 10, cầu Mỹ Thuận,
Về nông nghiệp, một lợng vốn không nhỏ đợc đầu t cho các vùng
nông thôn còn nhiều khó khăn, phần lớn là vốn viện trợ không hoàn lại.
Cơ sở hạ tầng của nhiều vùng nông thôn đã có những cải thiện rõ rệt (đ-
ờng giao thông, hệ thống thuỷ lợi, điện, nớc sạch cho sinh hoạt, ). Việc
đầu t nguồn vốn ODA vào nông nghiệp đã thúc đẩy sự gia tăng sản lợng
nông nghiệp với nhịp độ phát triển tơng đối cao trong thời gian qua.
Về khoa học công nghệ, tuy ODA đầu t vào khoa học công nghệ
không nhiều nhng nó đã đem lại những kết quả khả quan. Một đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ thuộc nhiều lĩnh vực đã đợc đào
tạo, cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại, phòng thí nghiệm, đợc nâng cấp.
Nhiều công nghệ hiện đại đã đợc đa vào sản xuất. Từ đó nâng cao năng
lực của nền kinh tế.
Nguồn ODA cho vay lại đã có hiệu quả thiết thực đối với sự phát
triển của các doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu bức bối về vốn để thực
hiện các mục tiêu đầu t của các doanh nghiệp, tạo tiền đề cho các doanh
nghiệp phát triển sản xuất nhằm nâng cao chất lợng hàng hoá và dịch vụ,
giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho ngời lao động. Ngoài ra,
nguồn vốn ODA còn phát huy u điểm ở một số ngành khác thuộc các
lĩnh vực văn hoá xã hội, y tế, giáo dục,
II. Những tồn tại và khó khăn trong thu hút vốn nớc ngoài.
1. Khó khăn ngoài nớc.
- 15 -

650 USD/đầu ngời vào năm 2010 (mức hiện nay khoảng 350 USD/ngời).
Mức thu nhập này vẫn còn là rất thấp so với các nớc đang phát triển
trong khu vực, do vậy hạn chế sức mua của thị trờng Việt Nam.
- Đầu t nớc ngoài vào nớc ta còn mang tính tự phát, không theo
quy hoạch ngành, vùng. ĐTNN đã cơ bản chiếm lĩnh tất cả các ngành và
địa bàn đầu t có lợi thế. Việc thu hút vốn đầu t vào các ngành nông-lâm-
ng nghiệp và vào các địa bàn có điều kiện kinh tế không thuận lợi sẽ là
rất khó khăn trong thời gian tới (đầu t kém hiệu quả, rủi ro cao, thu hồi
vốn lâu, đặc biệt sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hởng của thiên tai). Một
số ngành mũi nhọn nh dầu khí, ô tô, xi măng, thép cũng sẽ gặp khó
khăn trong thu hút vốn đầu t do trữ lợng dầu hạn chế hoặc sản xuất hiện
đang vợt quá nhu cầu trong nớc. Đầu t nớc ngoài vào các ngành công
nghệ cao cũng cha nhiều, nhất là đầu t chiều sâu và chuyển giao các
công nghệ gốc còn hạn chế.
- 16 -
- Khả năng tiếp nhận nguồn vốn bên ngoài còn hạn chế do
khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nớc
trong khu vực còn khá lớn. Điều này, một mặt làm giảm số lợng vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài thu hút đợc, mặt khác làm cho khả năng làm chủ
nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài còn ở mức độ thấp. Một số nguyên
nhân cụ thể của tình trạng trên nh sau:
Trình độ công nghệ sản xuất còn yếu kém, đặc biệt trong các
ngành công nghiệp chế tạo và chế biến.
Trình độ cán bộ quản lý cũng nh công nhân chuyên nghiệp
còn thấp, cha đáp ứng đợc yêu cầu đặt ra của tình hình mới.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động đều còn rất non
trẻ, không những thiếu vốn, non kém về trình độ quản lý mà còn
thiếu cả kinh nghiệm hoạt động. Phần lớn các doanh nghiệp mới
chỉ kinh doanh trên mặt hàng rộng nhng thiếu chuyên ngành,
mạng lới tiêu thụ còn mong manh; cha quan tâm và ít thành

hơn.
- 17 -
Hai là, thủ tục hành chính. Luật Đầu t nớc ngoài còn nhiều quy
định cha thực sự cụ thể và cha theo nguyên tắc một cửa. Nhiều quy
định tuy có thực hiện thí điểm ở một số nơi, nhng khi triển khai trên diện
rộng còn bộc lộ nhiều vớng mắc, nhất là các quy định về đất đai, về đền
bù và giải toả mặt bằng, về thiết kế, xây dựng, về quản lý dự án sau khi
đã cấp giấy phép.
Chế độ thẩm định và cấp giấy phép đầu t còn đợc duy trì đối với
phần lớn các dự án ĐTNN tại Việt Nam. Quy trình xét duyệt dự án còn
liên quan đến nhiều cơ quan phê duyệt và cấp phép, thời gian kéo dài,
làm gia tăng rủi ro và các chi phí cho dự án đầu t ngay từ giai đoạn khởi
động. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có vốn ĐTNN tiến hành
xin phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền đối với hầu hết những thay
đổi trong dự án (thay đổi cán bộ quản lý; tăng vốn; điều chỉnh lĩnh vực,
ngành nghề kinh doanh; tăng/giảm lao động ). Những thủ tục này làm
hạn chế đáng kể tính linh hoạt trong sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hiện nay cha có các quy định cụ thể cũng nh hệ thống tổ chức
hoàn chỉnh về quản lý các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sau khi đã đợc
cấp giấy phép. Bộ Kế hoạch và Đầu t là cơ quan chủ quản trong quản lý
nhà nớc về ĐTNN nhng thực sự cha có đủ khả năng theo dõi toàn bộ
hoạt động đầu t mà mới chỉ theo dõi đợc trong giai đoạn cấp giấy phép.
Các cơ quan chủ quản, các ngành, các tổng công ty sau khi cho các xí
nghiệp thành viên tham gia liên doanh thờng không có quyền kiểm soát,
quản lý điều hành vì vốn tham gia của phía Việt Nam thờng nhỏ hơn đối
tác nớc ngoài. Do thiếu các quy định cụ thể về quản lý doanh nghiệp có
vốn ĐTNN nên dẫn đến tình trạng kiểm tra, thanh tra tuỳ tiện của các cơ
quan quản lý Nhà nớc ở địa phơng, gây nhũng nhiễu đối với các doanh
nghiệp.

hành chính và tài chính (qui chế xử phạt cha rõ ràng). Chính vì vậy, các
nhà đầu t cảm thấy không yên tâm vì có thể bị xâm phạm lợi ích bất cứ
lúc nào và không đợc bồi thờng thiệt hại đầy đủ.
Năm là, các vấn đề về thuế. Hiện nay khu vực doanh nghiệp có
vốn ĐTNN hiện đang đợc áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp
chung thấp hơn so với doanh nghiệp trong nớc (25% so với mức 32% của
doanh nghiệp trong nớc). Tuy nhiên, các nhà ĐTNN phải nộp thuế
chuyển lợi nhuận về nớc ở mức từ 5-10%. Nh vậy, họ phải chịu hai lần
thuế và mức thuế suất thuế thu nhập thực tế đối với doanh nghiệp có vốn
ĐTNN là 30-35%, tơng đơng với mức thuế của doanh nghiệp trong nớc.
Ngoài ra, Luật thuế nhu nhập doanh nghiệp hiện tại cha cho phép doanh
nghiệp đợc khấu trừ một số khoản chi phí chính đáng mà doanh nghiệp
thực chi. Điều này càng làm thuế suất thực tế tăng có hơn rất nhiều so
với mức thuế danh nghĩa nêu trong các sắc thuế của Nhà nớc.
Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập cao của Uỷ ban
thờng vụ Quốc hội ban hành ngày 19/5/2001 tuy đã áp dụng mức thuế
suất chung cho ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài thờng trú trên 6 tháng,
nhng biểu thuế suất luỹ tiến với cao nhất là 50% hiện nay là quá cao so
với mức trung bình ở châu á (chỉ 30%). Mức thuế thu nhập cá nhân cao
trực tiếp ảnh hởng tới chi phí thuê lao động là ngời nớc ngoài và ngời
Việt Nam, làm giảm đáng kể lợi thế so sánh về lao động của nớc ta. Thuế
suất cao cũng khuyến khích công dân Việt Nam có kỹ năng đạt tiêu
chuẩn quốc tế tìm việc ở những nớc có thuế thu nhập thấp hơn, đồng thời
khuyến khích nạn trốn thuế và tham nhũng.
Hệ thống thuế của Việt Nam tuy đã đợc nghiên cứu và điều chỉnh
nhiều lần nhng vẫn cha thực sự phù hợp và ngang bằng với trình độ quản
lý của các nớc trong khu vực. Các quy định về thuế còn phức tạp, quá
nhiều mức thuế suất, thờng xuyên thay đổi nên đã gây ra nhiều khó khăn
cho doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp không thể ổn định kế hoạch
sản xuất. Cho tới nay Việt Nam cha có các quy định về chống chuyển

của dự án, mất nhiều thời gian chuẩn bị và ký kết các hợp đồng cho vay
lại.
Công tác quản lý dự án thờng bị buông lỏng nên không cập nhật đ-
ợc tình hình thực hiện dự án để khi cần có thể can thiệp kịp thời.
Thiếu một hệ thống thông tin đầy đủ về các dự án, thiếu sự kết nối
các cơ quan quản lý với đơn vị thụ hởng ODA và với các nhà tài trợ để
nâng cao hiệu quả quản lý các dự án ODA.
Về mặt nhận thức vẫn còn những quan niệm và cách hiểu khác
nhau về ODA, có ngời cho rằng đây là khoản cho không, quà biếu, vật
tặng. Một số địa phơng có quan niệm sử dụng ODA vay là đợc mà
không tính đến khả năng trả nợ và hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí
và tham nhũng, gây hậu quả xấu cho việc tiếp nhận ODA.
- 20 -
Chơng III
Phơng hớng và giải pháp thu hút vốn fdi và
oda phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam thời
kỳ 2001-2005.
I. Những mục tiêu cơ bản phát triển kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2001-2005.
1. Các mục tiêu phát triển kinh tế và yêu cầu về nguồn vốn.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định mục tiêu tổng quát của
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội nớc ta 2001 2010 nh sau: Đa n-
ớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất,
văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến 2020 nớc ta cơ bản
trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại. Nguồn lực con ngời,
năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế quốc
phòng, an ninh đợc tăng cờng; thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa đợc hình thành về cơ bản; vị thế của nớc ta trên trờng quốc tế
đợc nâng cao.
1

- Giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng 4,8%/năm.
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng 13%/năm.
- Giá trị dịch vụ tăng 7,5%/năm.
Cơ cấu ngành kinh tế GDP đến năm 2005 dự kiến:
- Tỷ trọng nông, lâm, ng nghiệp 20-21%.
- Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng 38-39%.
- Tỷ trọng các ngành dịch vụ 41-42%.
Cơ cấu lao động trong các ngành năm 2005 dự kiến:
- Tăng lao động công nghiệp và xây dựng lên 20-21%.
- Lao động trong các ngành dịch vụ 22-23%.
- Giảm lao động nông, lâm, ng nghiệp xuống còn 56-57%.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên ta cần phải có một nguồn lực
rất lớn, trong đó nguồn lực từ nớc ngoài đóng một vai trò không nhỏ.
Chúng ta cần thu hút nguồn lực của nớc ngoài và vận dụng một cách linh
hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nớc, đồng
thời thích ứng với xu thế thời đại, nắm bắt kịp thời xu hớng phát triển của
thế giới, phát hiện thời cơ, tranh thủ đợc những nhân tố có lợi nhất cho sự
phát triển của đất nớc.
- 22 -
Nguồn ngoại lực bao gồm cả vốn và công nghệ hiện đại. Song
công nghệ bao giờ cũng đi kèm theo các nguồn vốn. Vì vậy, mục tiêu
chủ yếu của chúng ta là thu hút đợc nguồn vốn từ bên ngoài đáp ứng nhu
cầu đầu t trong nớc. Dự kiến nguồn vốn từ bên ngoài mà nớc ta cần cho
giai đoạn 2001-2005 nh sau:
Tổng nguồn vốn bên ngoài cần thu hút khoảng trên 20 tỷ USD,
trong đó:
- Vốn ODA. Khả năng thực hiện nguồn vốn ODA khoảng 10-11
tỷ USD.
- Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP
của Chính phủ về tăng cờng thu hút và nâng cao hiệu quả FDI

trong giai đoạn này là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn trong nớc chỉ có
hạn nên nguồn vốn từ nớc ngoài trong đó có FDI sẽ tiếp tục đóng vai trò
- 23 -
quan trọng đối với phát triển kinh tế ở nớc ta. Để đạt đợc những mục tiêu
nêu trên, việc thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài là
một trong những nhân tố quyết định.
Xuất phát từ tình hình thực tế của việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài
trong những năm qua, để có thể huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu t n-
ớc ngoài, trong thời gian tới cần phải có những giải pháp và chính sách
mạnh bạo và đồng bộ. Trong giai đoạn tới, một số vấn đề quan điểm,
định hớng trong chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài cần quan tâm là:
- Khuyến khích việc chuyển dịch cơ cấu đầu t trong toàn bộ nền
kinh tế, hạn chế đầu t vào các lĩnh vực không có khả năng sinh
lợi và hiện đang có dấu hiệu d thừa hay bão hoà trên thị trờng
trong và ngoài nớc.
- Tập trung thu hút vốn FDI vào những ngành nghề, lĩnh vực mà
có thể tận dụng đợc lợi thế so sánh của Việt Nam về nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lao động. Ưu tiên gọi vốn vào những lĩnh
vực có sử dụng công nghệ tiên tiến, các dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng, phát triển công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, công
nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, khoáng sản, xây dựng các
vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lơng thực, thực
phẩm và nông sản khác.
- Thu hút vốn đầu t nớc ngoài phải gắn liền với việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả đầu t
phải đợc xem là yếu tố cân nhắc hàng đầu trong quyết định thu
hút vốn đầu t. Để làm đợc việc này, cần nâng cao hơn nữa vai
trò của thị trờng trong việc phân bổ một cách có hiệu quả các
nguồn vốn, đồng thời xác định lại vị trí của Nhà nớc trong phân
bổ nguồn lực để giảm thiểu các biện pháp quản lý hành chính

của nớc ngoài với định hớng quy hoạch phát triển chung của cả nớc, của
từng ngành và vùng lãnh thổ cả trung hạn cũng nh dài hạn.
Hai là, môi tr ờng pháp lý.
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong các lĩnh vực
hải quan, thuế, cấp phép đầu t, tuyển dụng lao động, tiến tới thực hiện cơ
chế một cửa, một đầu mối. Cải cách thủ tục hành chính phải đợc xem
là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc nâng cao sức hấp dẫn của môi
trờng đầu t trong nớc. Trong 2 năm qua, nhờ bắt tay thực thi Luật doanh
nghiệp chúng ta đã bãi bỏ đợc khoảng 160 loại giấy phép kinh doanh.
Nhng sắp tới cần xúc tiến việc bãi bỏ thêm 30 loại giấy phép không cần
thiết khác. Nghiên cứu và cho phép áp dụng hình thức đăng ký kinh
doanh thay vì cấp phép đầu t đối với các nhà đầu t nớc ngoài. Nhà nớc
chỉ công bố danh mục cấm đầu t và danh mục đầu t có điều kiện (các
lĩnh vực này có tính nhạy cảm cao; cần đảm bảo các yêu cầu về an ninh,
văn hoá, môi trờng , hoặc chỉ dành cho nhà đầu t Việt Nam). Các nhà
đầu t nớc ngoài đợc quyền đăng ký kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực
nằm ngoài hai danh sách này. Đồng thời tiến hành cải cách hành chính
trong quản lý dự án sau khi cấp giấy phép đầu t, tạo điều kiện để doanh
nghiệp nâng cao khả năng linh hoạt trong sản xuất kinh doanh: cho phép
đăng ký kinh doanh đa ngành nghề, hạn chế kiểm tra/kiểm soát, hạn chế
việc doanh nghiệp phải sửa đổi giấy đăng ký/giấy phép kinh doanh
Đa dạng hoá hình thức đầu t, góp vốn của các nhà đầu t nớc ngoài
tại Việt Nam. Cho phép các nhà đầu t nớc ngoài đợc thành lập công ty cổ
phần tại Việt Nam. Tiến hành thí điểm cổ phần hoá phần vốn góp của
Việt Nam tại các doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài. Xây dựng cơ sở
pháp lý cụ thể cho việc thành lập doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài
của khu vực t nhân (chính sách về góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền
sử dụng đất của t nhân, hình thức liên doanh ).
Chế độ một giá cần nhanh chóng đợc thực hiện. Bắt đầu từ
1/7/2002 Pháp lệnh giá chính thức có hiệu lực nhằm khuyến khích doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status