mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm nhân thọ ra đời từ rất sớm và đã trở nên quen thuộc đối với
ngời dân của các nớc phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hình
bảo hiểm này vẫn còn khá mới mẻ. Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đợc
triển khai ở Việt Nam vào năm 1996 bởi Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam
(Bảo Việt). Sau đó, mãi đến năm 1999 một số doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ đợc thành lập và hình thành nên thị trờng bảo hiểm nhân thọ thực sự ở
Việt Nam.
Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm con ngời, thực hiện theo
nguyên tắc số đông bù số ít và đặc điểm vừa khắc phục hậu quả rủi ro, vừa
là hình thức tiết kiệm có kế hoạch. Vì vậy, bảo hiểm nhân thọ ra đời nhằm bảo
đảm ổn định cuộc sống cho ngời dân và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về bảo đảm an toàn
của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã hội ngày càng cao, từ đó sẽ phát
sinh nhu cầu tham gia bảo hiểm nhân thọ.
Hiện nay, bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam đã và đang phát triển với tốc
độ tăng trởng cao, quy mô thị trờng ngày càng mở rộng, mạng lới hoạt động
đợc triển khai hầu hết các tỉnh, thành trong cả nớc. Tuy nhiên, thị trờng bảo
hiểm nhân thọ ở Việt Nam, với một lợng dân số trên 80 triệu ngời, là một thị
trờng đầy tiềm năng nhng mức độ khai thác thị trờng còn rất nhỏ bé cha đáp
ứng đợc nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ của các tầng lớp dân c trong xã hội.
Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu và đa ra những giải pháp nhằm phát triển thị tr-
ờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam là hết sức cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý
luận và thực tiễn . Do đó tôi lựa chọn đề tài: Phát triển thị trờng bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Kinh tế phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phát triển thị trờng bảo hiểm đã đợc đề cập nhiều trên sách báo, tạp
chí và các diễn đàn khoa học. Nhng nội dung nghiên cứu còn nhiều hạn chế,
nh:
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Tìm hiểu thị trờng bảo hiểm nhân thọ và thực
trạng ở một số nớc trên thế giới và bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam trong những
năm qua.
2
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ trên thị trờng Việt Nam từ năm 1996 trở lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài
còn sử dụng tổng hợp các phơng pháp nghiên cứu nh: thống kê, phân tích,
tổng hợp, so sánh, khảo sát để thực hiện mục đích nghiên cứu.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài này là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chiến lợc phát
triển và quản lý thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam, các doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng, ngoài ra còn
phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập cho các trờng đại học, cao đẳng
khối kinh tế, tài chính có chuyên ngành bảo hiểm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết.
3
Chơng 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về Bảo hiểm nhân
thọ và thị trờng bảo hiểm nhân thọ
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm nhân thọ
ở mỗi quốc gia, trong mọi thời kỳ, con ngời luôn đợc coi là lực lợng
sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội. Song
trong lao động sản xuất cũng nh trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, con ng-
ời cũng không tránh khỏi những rủi ro nh: Tai nạn, ốm đau, bệnh tật, mất việc
làm, già yếu v.v. và tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, vấn
cần thiết nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của các tầng lớp dân c trong xã hội.
Bảo hiểm nhân thọ, nằm trong bảo hiểm con ngời và là loại hình của
bảo hiểm thơng mại, là hình thức bổ sung cho bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y
tế, nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho mọi thành viên trong xã hội trớc
những rủi ro tai nạn bất ngờ đối với thân thể, tính mạng, sự giảm sút hoặc mất
thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác của ngời tham gia bảo hiểm. So với
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ có đối tợng tham gia rộng
hơn, quỹ bảo hiểm đợc hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm do những ngời
tham gia đóng góp, số tiền chi trả căn cứ vào sự thỏa thuận và cam kết trong
hợp đồng. Hình thức bảo hiểm là tự nguyện. Còn đối với bảo hiểm xã hội, phí
bảo hiểm đợc xác định căn cứ vào tiền lơng của ngời lao động do Nhà nớc quy
định. Ngoài ra, sự khác nhau còn đợc thể hiện ở cơ sở pháp lý của sự cam kết,
cơ quan tổ chức thực hiện v.v
Tuy nhiên sự khác nhau giữa hai hệ thống bảo hiểm này không tạo ra sự
đối lập, mâu thuẫn, mà trái lại chúng bổ sung cho nhau. Các sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ có thể thay thế bảo hiểm xã hội trong những trờng hợp, những
khu vực của nền kinh tế, những nơi mà bảo hiểm xã hội cha đợc thực hiện
hoặc có nhng không đủ bù đắp thu nhập của ngời lao động bị giảm sút. Mặc
dù ngời lao động làm công ăn lơng đợc hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, nhng
đôi khi có những rủi ro, những nhu cầu nằm ngoài phạm vi bảo hiểm xã hội
hoặc các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội không đáp ứng đợc những nhu cầu
khắc phục hậu quả rủi ro. Phần chênh lệch và thiếu hụt về mặt tài chính sẽ đợc
bảo hiểm nhân thọ bù đắp.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
1.1.2.1. Khái niệm
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa ngời bảo hiểm và ngời
tham gia bảo hiểm, mà trong đó ngời bảo hiểm sẽ trả cho ngời tham gia (hoặc
ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện
đã định trớc xảy ra (ngời đợc bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm
nhất định), còn ngời tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói
ời tham gia bảo hiểm:
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng đợc một
mục đích là góp phần khắc phục hậu quả rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài
chính cho ngời tham gia, thì BHNT ngoài mục đích đó còn đáp ứng nhiều mục
đích khác. Mỗi mục đích đợc thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng
hạn, hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hu trí sẽ đáp ứng nhu cầu của ngời tham gia
những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống
của họ khi già yếu. HĐBH tử vong sẽ giúp ngời đợc bảo hiểm để lại cho gia
đình một STBH khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng đợc rất nhiều mục đích
của ngời quá cố, nh: Trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phục dỡng bố mẹ già
6
v.v HĐBH nhân thọ đôi khi còn có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn
hoặc BHNT tín dụng thờng đợc bán cho các đối tợng đi vay để họ mua xe hơi, đồ
dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác v.v Chính vì đáp ứng
đợc nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trờng ngày
càng rộng và đợc rất nhiều ngời quan tâm.
- Thời hạn bảo hiểm nhân thọ thờng rất dài, quan hệ giữa các bên trong
mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp:
Thời hạn trong BHNT thờng kéo dài từ 5 năm trở lên. Mỗi sản phẩm
BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có
các hợp đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng lại có sự khác nhau về STBH, ph-
ơng thức đóng phí, độ tuổi của ngời tham gia Ngay cả trong một bản hợp
đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp. Khác với các bản HĐBH
phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhân thọ có thể có 4 ngời có liên quan: Ngời
bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm và ngời thụ hởng quyền
lợi bảo hiểm. Ngời bảo hiểm chính là các công ty BHNT, còn ngời đợc bảo
hiểm là ngời mà tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan
đến tuổi thọ của họ đợc bảo hiểm hoặc là ngời giao tên tuổi của mình cho ngời
khác đi ký HĐBH. Còn ngời tham gia BHNT thực chất là những ngời trực tiếp
đứng ra ký kết hợp đồng và nộp phí bảo hiểm. Ngời tham gia bảo hiểm phải có
phẩm trên thị trờng nói chung.
- Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định:
ở các nớc có nền kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng
trăm năm nay. Ngợc lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn cha triển
khai đợc BHNT, mặc dù ngời ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý giải
vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra
đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển.
Những điều kiện về kinh tế, nh:
+ Tốc độ tăng trởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP);
+ Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu ngời dân;
+ Mức thu nhập của dân c;
+ Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền;
+ Tỷ giá hối đoái
Những điều kiện xã hội bao gồm:
+ Điều kiện về dân số;
+ Tuổi thọ bình quân của ngời dân;
+ Trình độ học vấn;
+ Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội, thì môi trờng pháp lý cũng ảnh hởng
không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Thông thờng ở các nớc, luật
kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trớc
khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ
đề cập cụ thể đến các vấn đề, nh: Tài chính, đầu t , hợp đồng, thuế v.v Đây là
những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT.
Chẳng hạn, ở một số nớc phát triển nh: Anh, Pháp, Đức v.v Nhà nớc thờng
8
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp BHNT bằng các chính sách thuế
u đãi. Mục đích là nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình
lập nên quỹ hu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nớc. Mặt
lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động. Ngoài những ngời
làm công ăn lơng trong các doanh nghiệp BHNT, đội ngũ đại lý, môi giới
BHNT cũng ngày càng đông và thực sự đã góp phần giảm tỷ lệ lao động bị
thất nghiệp ở rất nhiều nớc trên thế giới. Theo số liệu thống kê năm 2003, ở
Mỹ đã có tới 1,97 triệu lao động, ở Pháp là 0,62 triệu lao động làm việc cho
các công ty BHNT. ở Việt Nam, tính đến thời điểm ngày 31/12/2005 đã có gần
100.000 ngời làm đại lý cho các công ty BHNT.
1.1.3.3. Đối với các tổ chức kinh tế - xã hội
Bảo hiểm nhân thọ còn thỏa mãn đợc những nhu cầu cần thiết của họ
trong điều kiện nền kinh tế thị trờng. Những nhu cầu của các tổ chức kinh tế -
xã hội ở đây là: Tạo ra sự tự chủ về mặt tài chính, khi những ngời giữ các cơng
vị quan trọng của họ bị tử vong. Một doanh nghiệp có thể mua BHNT cho
những ngời này với số tiền bảo hiểm tơng đơng với chi phí mà họ phải bỏ ra
để đào tạo hoặc thuê mớn. Không chỉ có thế các doanh nghiệp, các tổ chức xã
hội với biện pháp này họ còn giữ chân và khuyến khích ngời lao động, đặc
biệt là những ngời chủ chốt làm việc hết mình, gắn bó với doanh nghiệp. Bởi
lẽ thông qua các hợp đồng BHNT theo nhóm, doanh nghiệp có thể tạo ra sự
đảm bảo cho ngời lao động và những ngời sống phụ thuộc một cuộc sống ổn
định khi gặp phải rủi ro. Cung cấp các khoản tiền hu trí khi hết tuổi lao động
hoặc các khoản phúc lợi bổ sung ngoài bảo hiểm xã hội.
1.1.4. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản
Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau. Đối với
những ngời tham gia mục đích chính của họ hoặc là để bảo vệ con cái và
những ngời ăn theo tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ
hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tơng lai Do vậy,
ngời bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm BHNT, thực chất là đa
10
dạng hóa các loại hợp đồng nhằm đáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của ngời
tham gia bảo hiểm. Trong thực tế, có 3 loại hình BHNT cơ bản:
1.1.4.1. Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong
+ Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay
đổi trong suốt quá trình bảo hiểm;
+ Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, vì rủi ro
chết chắc chắn sẽ xảy ra, nên STBH chắc chắn phải chi trả;
11
BHNT trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, do đó đã tạo nên một
khoản tiết kiệm cho ngời thụ hởng bảo hiểm vì chắc chắn ngời bảo hiểm sẽ chi
trả STBH.
Mục đích:
+ Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất;
+ Bảo đảm thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình;
+ Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.
1.1.4.2. Bảo hiểm trong trờng hợp còn sống (còn gọi là bảo hiểm sinh
kỳ)
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là ngời bảo hiểm cam kết chi trả
những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong
suốt cuộc đời ngời tham gia bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc ngày
đến hạn thanh toán thì sẽ không đợc chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
Đặc điểm:
+ Trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc
cho đến khi chết;
+ Phí bảo hiểm đóng một lần;
+ Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định.
Mục đích:
+ Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hu hay tuổi cao sức yếu;
+ Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già;
+ Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Nh vậy, với một khoản phí bảo hiểm phải nộp khi ký hợp đồng mà ngời
tham gia lựa chọn, ngời bảo hiểm sẽ thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ
hàng tháng cho ngời đợc bảo hiểm. Nếu khoản trợ cấp này thanh toán định kỳ
1.1.4.4. Các điều khoản bảo hiểm bổ sung
Khi triển khai các loại hình BHNT, nhà bảo hiểm còn nghiên cứu, đa ra
các điều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngời tham gia bảo
hiểm. Các điều khoản bổ sung sau đây thờng hay đợc vận dụng.
- Bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật: Có nghĩa là nhà bảo hiểm cam kết
trả các chi phí nằm viện và phẫu thuật cho ngời đợc bảo hiểm khi họ bị ốm
đau, thơng tích. Tuy nhiên, nếu ngời đợc bảo hiểm tự gây thơng tích, tự tử,
mang thai và sinh nở thì không đợc hởng quyền lợi bảo hiểm. Mục đích của
điều khoản này nhằm trợ giúp ngời tham gia giảm nhẹ gánh nặng chi phí trong
điều trị phẫu thuật, đặc biệt là trong các trờng hợp ốm đau, thơng tích bất ngờ.
- Bảo hiểm tai nạn: Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong điều trị th-
ơng tật, từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thơng
tích của ngời đợc bảo hiểm. Điều khoản bảo hiểm này có đặc điểm là bảo
hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn nh: Ngời đợc bảo hiểm bị tàn phế, th-
ơng tật toàn bộ, thơng tích tạm thời và bị tai nạn sau đó bị chết. Những trờng
hợp tự thơng, tai nạn do nghiện rợu, ma túy, tự tử sẽ không đợc hởng quyền
lợi bảo hiểm.
13
- Bảo hiểm sức khỏe: Thực chất của điều khoản này là nhà bảo hiểm sẽ
cam kết thanh toán khi ngời đợc bảo hiểm bị các chứng bệnh hiểm nghèo nh:
Đau tim, ung th, suy gan, suy thận, suy hô hấp
Mục đích tham gia bảo hiểm ở đây nhằm có đợc những khoản tài chính
nhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn và góp phần giải
quyết, lo liệu các nhu cầu sinh hoạt ngay trong thời gian điều trị.
Ngoài ra, trong một số hợp đồng BHNT, các công ty bảo hiểm còn đa
ra những điểm bổ sung khác nh: Hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí
khi bị tai nạn, thơng tật v.v nhằm tăng tính hấp dẫn để thu hút ngời tham
gia.
Mặc dù khi áp dụng các điều khoản bổ sung thì mức phí đóng cao hơn,
nhng các HĐBH nhân thọ đã đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng của ngời tham gia
thế của mình, biết kiểm soát và loại trừ rủi ro.
Trên thực tế, thị trờng có thể đợc phân ra nhiều loại khác nhau: thị trờng
chính - thị trờng phụ; thị trờng trong nớc (nội địa) - thị trờng ngoài nớc (quốc
tế); thị trờng hàng hóa - thị trờng dịch vụ; thị trờng sức lao động; thị trờng
chứng khoán; thị trờng bảo hiểm Ngoài những điểm chung giống nhau nh
chứa đựng tổng số cung, tổng số cầu, yếu tố không gian và thời gian, đều diễn
ra các hoạt động mua bán và các quan hệ hàng hóa, tiền tệ mỗi thị trờng
khác nhau lại chứa đựng những đặc trng khác nhau đã tạo nên tính đa dạng và
phong phú của hệ thống thị trờng trong nền kinh tế xã hội.
Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt trong xã hội. Để hoạt động
kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng ra đời và phát triển, cũng
đòi hỏi phải có thị trờng.
Theo thuật ngữ bảo hiểm:Thị trờng BHNT đợc hiểu là nơi diễn ra các
hoạt động mua và bán các sản phẩm BHNT.
Nh vậy, cấu thành của thị trờng BHNT bao gồm:
Hàng hóa của BHNT: Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trờng, sản
phẩm BHNT không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thớc, trọng lợng,
mà nó là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt, là loại sản phẩm vô hình và là loại sản
phẩm không đợc bảo hộ bản quyền, là loại sản phẩm mà ngời mua không bao
giờ muốn nó xảy ra với mình để đợc thực hiện quyền đòi bồi thờng hay trả tiền
bảo hiểm. Ngời mua sản phẩm BHNT chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện
bảo hiểm xảy ra vẫn đảm bảo đợc an toàn về mặt tài chính và mục đích tiết
kiệm để thỏa mãn các nhu cầu khác trong tơng lai.
Chủ thể tham gia vào thị trờng BHNT bao gồm: ngời mua (khách hàng),
ngời bán (các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ) và các tổ chức
trung gian bảo hiểm:
- Ngời mua BHNT là những tổ chức hay cá nhân có nhu cầu tham gia
bảo hiểm.
- Ngời bán bảo hiểm hay còn gọi là ngời bảo hiểm là các doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, họ là ngời ký hợp đồng bảo hiểm và cam kết
các tổ chức xã hội, của các đơn vị sản xuất và kinh doanh ngày càng đợc
tăng lên. Khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng
phát triển theo, đời sống vật chất, tinh thần của dân c cũng đợc cải thiện do
đó nhu cầu đa dạng về dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Những năm đầu của
thế kỷ XX trên thị trờng BHNT mới chỉ có vài chục sản phẩm nhng đến nay
con số này đã lên tới hàng trăm và đã đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống
kinh tế - xã hội cũng nh của mọi tầng lớp dân c.
16
- Giá cả của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ luôn biến động và phụ thuộc
vào nhiều yếu tố:
Trên thị trờng, giá cả của sản phẩm BHNT chính là phí bảo hiểm. Phí
bảo hiểm là một khoản tiền mà ngời mua bảo hiểm phải trả cho ngời bán bảo
hiểm để đợc chi trả khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Phí bảo hiểm đợc xác
định dựa trên những cơ sở chủ yếu nh: số tiền bảo hiểm, số năm của một hợp
đồng, tuổi của ngời đợc bảo hiểm, lãi suất kỹ thuật mà các doanh nghiệp
BHNT dùng để tính phí.
Tuy nhiên, phí BHNT luôn thay đổi theo thời gian. Bởi vì mỗi thời gian
có xác suất rủi ro, chi phí quản lý, chi phí khai thác, lãi suất đầu t v.vcũng
khác nhau. Ngoài những yếu tố trên, phí bảo hiểm nhân thọ còn phụ thuộc vào
quy luật cạnh tranh, cung cầu trên thị trờng.
- Cạnh tranh và hợp tác luôn diễn ra trên thị trờng bảo hiểm nói chung
và thị trờng bảo hiểm nhân thọ nói riêng:
Giống nh các thị trờng khác, trên thị trờng bảo hiểm sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, thu lợi nhuận cũng diễn ra liên
tục, gay go và quyết liệt. Cạnh tranh trên nhiều khía cạnh với nhiều thủ thuật,
bởi lẽ sản phẩm bảo hiểm là không có bảo hộ bản quyền và dễ bắt chớc cho
nên các doanh nghiệp bảo hiểm thờng tập trung vào kinh doanh các sản phẩm
đợc thị trờng chấp nhận bằng cách cải tiến, hoàn thiện sản phẩm đó hơn các
doanh nghiệp khác, bằng cách quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách
hàng, bằng cách giảm phí, tăng tỷ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng,
Điều kiện kinh tế - xã hội phải kể đến đó là: Tốc độ tăng trởng và ổn
định của nền kinh tế; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; cơ cấu dân số v.v Một
khi kinh tế - xã hội phát triển thì trình độ dân trí sẽ ngày càng đợc nâng cao và
mức thu nhập của ngời dân sẽ ngày càng đợc cải thiện và chỉ có nh vậy mới
phát sinh nhu cầu BHNT. Abraham Maslow - một nhà tâm lý học nổi tiếng đã
đa ra mô hình sắp xếp thứ tự các nhu cầu của con ngời nh sau:
Biểu đồ 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
Theo tháp nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu đầu tiên và quan
trọng nhất, cơ bản nhất là nhu cầu sinh học hay còn gọi là nhu cầu vật chất tối
thiểu (ăn, mặc, ở, đi lại ). Một khi nhu cầu này cha đợc đáp ứng thì các nhu
cầu khác của con ngời cha đợc coi trọng. Chỉ khi con ngời đợc đáp ứng những
18
Nhu cầu
tự hoàn
thiện
Nhu cầu đ ợc
tôn trọng
Nhu cầu giao tiếp xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh học
nhu cầu tối thiểu thì họ mới quan tâm đến các loại nhu cầu khác cao hơn. Do
vậy, khi điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, thu nhập của ngời dân còn thấp
và cha đủ để trang trải các nhu cầu sinh học thì dẫu họ có nhận thức đợc vai
trò của BHNT họ cũng không thể quan tâm đến việc tham gia BHNT. Vì thế,
điều kiện kinh tế - xã hội và mức sống của ngời dân là nhân tố có tác động
trực tiếp đến nhu cầu bảo hiểm và thị trờng BHNT. ở những nớc có nền kinh
tế phát triển, con ngời ý thức hơn trong vấn đề phải đối mặt với ốm đau, bệnh
tật, với các loại rủi ro. Cho nên, nhu cầu bảo hiểm nói chung và BHNT nói
riêng thờng rất cao, bởi họ muốn đợc đảm bảo an toàn trên nhiều phơng
diện. Trái lại, ở các nớc kém phát triển ngoài lý do thu nhập chi phối ngời
trên thị trờng mạnh mẽ hơn bao giờ hết, để tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp BHNT phải luôn có sự đổi mới về mọi phơng diện: sản phẩm, giá cả,
chất lợng phục vụ v.v Từ đó, đã tích cực góp phần kích cầu trên thị trờng
BHNT.
1.2.3. Phân loại thị trờng bảo hiểm nhân thọ
Thị trờng bảo hiểm rất đa dạng và phong phú, ngời ta có thể đa ra các tiêu
thức khác nhau để phân loại thị trờng tùy theo mục đích nghiên cứu. Song điều
cốt lõi của phân loại thị trờng là nhằm phục vụ cho việc khai thác, thâm nhập thị
trờng, thu hút khách hàng để nâng cao thị phần, đạt hiệu quả trong kinh doanh.
Thị trờng BHNT thờng đợc phân loại theo các tiêu thức sau đây.
1.2.3.1. Phân loại theo địa lý
Cách phân loại này là chia thị trờng theo các đơn vị địa lý khác nhau
nh thị trờng BHNT trong nớc, thị trờng BHNT quốc tế. Ngay thị trờng BHNT
quốc tế cũng có thể chia thành thị trờng bảo hiểm khu vực nh châu á, Đông
Nam á, Châu âu, Bắc Mỹ Hay thị trờng bảo hiểm trong nớc cũng có thể
chia ra thị trờng vùng, tỉnh
1.2.3.2. Phân loại theo nhân khẩu học
Đây là phơng pháp phân loại thị trờng tiên tiến và tổng hợp. Phơng pháp
này dựa trên cơ sở về tuổi, giới tính, quy mô gia đình, thu nhập, nghề nghiệp,
trình độ văn hóa hay tôn giáo, dân tộc Những yếu tố này là cơ sở thông dụng
nhất để phân biệt nhóm khách hàng này với nhóm khách hàng khác, bởi vì nhu
cầu, mong muốn và mức độ sử dụng một loại sản phẩm của các nhóm có sự
khác nhau. Chẳng hạn, nữ giới luôn có ý thức tiết kiệm và quan tâm rất nhiều
đến việc giáo dục con cái, vì vậy sản phẩm BHNT an sinh giáo dục là rất phù
hợp với họ. Hoặc những ngời có thu nhập cao, họ rất quan tâm đến các sản
phẩm BHNT trọn đời, bởi đây là những sản phẩm đáp ứng đợc các nhu cầu giữ
gìn tài sản và khởi nghiệp kinh doanh của con em họ.
1.2.3.3. Phân loại theo tâm lý ngời tiêu dùng
Cách phân loại này là dựa vào đặc tính của các tầng lớp dân c trong xã
hội. Tầng lớp xã hội là một trong những yếu tố ảnh hởng rất lớn đến nhu cầu
một nhóm các nhà bảo hiểm hàng hải của Luân Đôn đã phát hành hợp đồng
BHNT đầu tiên cho một công dân nớc Anh - ông William Gybbons. Đây là
đơn BHNT tử kỳ, thời hạn 1 năm với số tiền bảo hiểm là 400 bảng Anh. Thật
không may, ngay trong năm đó ông Gybbons qua đời và những nhà bảo hiểm
đã phải trả 400 bảng Anh cho thân nhân ngời quá cố.
Mặc dù hợp đồng BHNT đầu tiên đã đợc ký kết tại Luân Đôn vào năm
1536 nhng phải sau đó hơn 100 năm khi Edmund Halley xây dựng đợc
Bảng tỷ lệ tử vong vào năm 1693, công ty BHNT đầu tiên mới ra đời tại Luân
Đôn vào năm 1699 với tên gọi là Society for the Assurance of Widows and
Orphans (Hội bảo hiểm trẻ mồ côi và góa phụ). Công ty BHNT đầu tiên này
và một số công ty BHNT khác sau đó đều đa ra mức phí BHNT nh nhau cho
tất cả những ngời tham gia bảo hiểm và đã không thành công. Vào năm 1762,
công ty Equitable Society for the Assurance of Life and Survivorship (Hội
21
bằng hữu bảo hiểm sinh mạng và cuộc sống) đã đa ra các hợp đồng BHNT với
mức phí bảo hiểm thay đổi theo độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm và công ty này
ngay lập tức đã thành công [10, tr.47]. Nh vậy ngành BHNT thế giới đã có bề
dày lịch sử gần 250 năm.
Trên thế giới, từ năm 1980 trở lại đây, BHNT đã phát triển mạnh mẽ và
có những bớc tiến hơn hẳn so với bảo hiểm phi nhân thọ. Sự phát triển bùng
nổ của BHNT không chỉ do lãi suất suy giảm, mà còn do tầm quan trọng của
BHNT cá nhân trong các chính sách hu trí quốc gia.
Năm 1999, thị trờng BHNT thế giới cất cánh. Các công ty bảo hiểm
trên thế giới đã khai thác đợc tổng số phí là 2.324 tỷ USD (Bảng 1.1), trong đó
doanh thu phí BHNT là 1.412 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 60,8%. Các công ty
BHNT đã có thuận lợi do lãi suất năm 1999 nhìn chung là thấp. Các nớc công
nghiệp phát triển vẫn là những nớc chiếm u thế trong thị trờng BHNT thế giới
(gần 91% thị phần phí BHNT thế giới), trong khi chỉ chiếm 15% dân số thế
giới. Cộng đồng châu Âu chiếm 30% tổng phí BHNT toàn thế giới. Nhật Bản
và Mỹ là hai nớc có vai trò quan trọng nhất trên thị trờng BHNT thế giới
1. Châu Mỹ 447,111 425,629 30,14 3,63 530,1
- Bắc Mỹ 422,713 414,357 29,34 4,17 1.369,0
- Mỹ Latinh và Caribê 24,398 11,272 0,80 0,63 22,5
2. Châu Âu 297,601 464,044 32,86 4,69 576,3
- Tây Âu 287,131 459,487 32,53 4,97 995,0
- Trung và Đông Âu 10,47 4,558 0,33 0,72 13,5
3. Châu á 144,434 476,769 33,76 5,66 133,3
- Nhật Bản 101,977 392,908 27,82 8,87 3.103,4
- Đông và Nam á 34,531 80,274 5,68 2,46 25,2
- Trung á 7,926 3,587 0,26 0,49 13,6
4. Châu Phi 6,674 19,535 1,39 3,42 24,1
5. Châu Đại Dơng 15,848 26,329 1,86 5,75 900,7
Toàn thế giới 911,722 1.412,207 100 4,57 235,4
Các nớc công nghiệp phát
triển
827,630 1.293,031 91,55 5,37 1.408,6
22
Các thị trờng mới nổi 84,092 119,176 8,45 1,71 23,4
Khối OECD - - 94,48 5,29 1.199,0
Khối G7 - - 80,58 5,54 1.656,3
Khối EU - - 30,73 5,03 1.136,0
Khối NAFTA - - 29,62 4,01 1.049,8
Khối ASEAN - - 0,55 0,99 17,0
Trong năm 1999, ở các thị trờng mới nổi nh khu vực Trung và Đông Âu,
khu vực Đông và Nam á, khu vực châu Mỹ La tinh, doanh thu phí BHNT tăng
trởng mạnh. Cụ thể, khu vực Trung và Đông Âu, doanh thu phí tăng trung bình
32,5%. Nhu cầu rất lớn về sản phẩm BHNT gắn với đầu t đã đóng góp tỷ lệ tăng
trởng cao cho thị trờng BHNT Ba Lan. Thị trờng BHNT Hungary cũng tơng tự
nh vậy. Tỷ lệ tăng trởng của BHNT Nga đạt 54%. Tuy nhiên nhiều đơn BHNT ở
Nga đợc bán ra duy nhất với mục đích trốn thuế [6].
(triệu ngời)
Doanh thu
phí BHNT
bình quân
đầu ngời
(USD)
GDP
(tỷ USD)
Doanh thu
phí BHNT
trên GDP
(%)
23
1. Mỹ 480,452 31,28 289 1.662,46 10.446 4,59
2. Nhật Bản 354,553 23,08 127,4 2.782,99 4.102 8,64
3. Anh 159,656 10,39 59,6 2.678,79 1.567 10,18
4. Pháp 80,411 5,23 59,5 1.351,44 1.432 5,61
5. Đức 60,86 3,96 82,5 737,69 1.987 8,25
6. Italia 52,444 3,41 57,5 912,06 1.185 4,42
7. Hàn Quốc 39,272 2,56 47,8 821,58 477 8,23
8. Trung Quốc 25,054 1,63 1.284,5 19,50 1.237 2,02
9. Tây Ban Nha 23,840 1,55 40,5 588,64 653 3,65
10. Thụy Điển 22,566 1,47 8,9 2.535,50 241 9,36
ở khu vực châu á, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực
đã ảnh hởng đến hoạt động kinh tế những năm sau khủng hoảng, nhng chính
cuộc khủng hoảng đã thôi thúc các nhà quản lý tự do hóa thị trờng bảo hiểm
khu vực. Điều này đợc coi là nhân tố chính giúp thị trờng BHNT Châu á phát
triển trong những năm kế tiếp [12]. Vào năm 2002, châu á chiếm trên 1/4
doanh thu phí BHNT của toàn thế giới, (riêng Nhật Bản đã chiếm đến 80%
doanh thu phí BHNT của khu vực Châu á). Trong giai đoạn từ năm 1999 đến
- Thị trờng bảo hiểm nhân thọ tại các nớc có ngành bảo hiểm phát triển:
Thị trờng BHNT Mỹ:
Tại Mỹ, ngành bảo hiểm đợc xây dựng trên mô hình bảo hiểm của Anh.
Công ty BHNT đầu tiên ở Mỹ đợc thành lập vào năm 1759 - chỉ sau 7 năm kể
từ ngày công ty bảo hiểm hỏa hoạn tơng hỗ của Benjamin Franklin đợc thành
lập. Đây là công ty bảo hiểm cổ phần có tên gọi là The Corporation for Relief of
Poor and Distressed Presbyterian Ministers and the Poor and Distressed Widows
and Children of Presbyterian Ministers (Công ty Cứu tế các mục s tôn giáo
nghèo khổ, khốn cùng và các góa phụ nghèo khổ, khốn cùng và con cái của các
mục s tôn giáo). Công ty này đợc Hội nghị Giáo hội Trởng lão Philadenphia bảo
trợ, hoạt động vì mục đích của các mục s và tín đồ. Ngày 22 tháng 5 năm 1761,
công ty BHNT này đã ký hợp đồng BHNT đầu tiên với công chúng Mỹ. Công ty
bảo hiểm này hiện nay vẫn còn hoạt động (chỉ bảo hiểm cho các tăng lữ) và là
công ty BHNT lâu đời nhất trên thế giới.
Từ một vài công ty ban đầu, ngành bảo hiểm của Mỹ đã trở thành một
ngành qui mô lớn, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Mỹ trở thành quốc
gia đứng đầu thế giới về kinh doanh bảo hiểm nói chung, BHNT nói riêng. Để
thấy rõ hơn, chúng ta sẽ đi vào xem xét cụ thể một số khía cạnh của thị trờng
BHNT Mỹ nh qui mô thị trờng về doanh thu phí BHNT khai thác, các sản
phẩm trên thị trờng.
+ Doanh thu phí BHNT:
Vào năm 1993, ở Mỹ có 6.200 công ty bảo hiểm tiến hành kinh doanh
các loại hình bảo hiểm. Các công ty này sử dụng hơn 2,1 triệu lao động và quản
lý tài sản trị giá 2,7 nghìn tỷ USD. Các công ty bảo hiểm Mỹ đã khai thác đợc
740 tỷ USD phí bảo hiểm các loại, chiếm 11,4% GDP; trong số này, có 2.100
công ty BHNT, khai thác đợc khoảng 252 tỷ USD doanh thu phí. Tại Mỹ, các
công ty BHNT là một trong những tổ chức quan trọng nhất cung cấp hơn 120 tỷ
USD cho thị trờng vốn chỉ sau các ngân hàng thơng mại [10, tr.62].
Năm 1999, Nhật Bản và Mỹ là 2 nớc có vai trò quan trọng nhất đối với
thị trờng BHNT thế giới (chiếm trên 50% doanh thu phí). Bảng 1.2 cho thấy