Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi
chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề khác nhau, trong đó hoàn thiện cơ chế
điều chỉnh pháp luật là một trong những vấn đề cơ bản, bức xúc. Hơn một thập
kỷ vừa qua, những bất cập trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo
vệ pháp luật đã từng bớc đợc khắc phục, cơ chế điều chỉnh pháp luật đợc đổi
mới một bớc quan trọng đã và đang phát huy tác dụng góp phần đảm bảo an
ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay cơ chế điều chỉnh pháp luật ở nớc ta
vẫn còn nhiều nhợc điểm, cha đáp ứng đợc những yêu cầu bức xúc đang đặt ra
trong công cuộc đổi mới, các giải pháp mà chúng ta đã thực hiện còn thiếu
đồng bộ, tản mạn, chắp vá và nhiều khi chỉ mang tính tình thế. Hệ thống pháp
luật cha hoàn thiện, tình trạng pháp luật vừa thiếu lại vừa thừa, những mâu
thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn khá phổ biến;
công tác tổ chức thực hiện pháp luật không đồng bộ dẫn đến tình trạng pháp
luật không đợc thực thi, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đợc ban hành
không phát huy đợc hiệu lực trên thực tế hiệu quả pháp luật không cao. Sở dĩ
có tình trạng đó là do chúng ta cha có đợc cơ sở khoa học toàn diện, đầy đủ và
thống nhất cho việc tổng kết, đánh giá thực tiễn pháp lý và xây dựng phơng h-
ớng, giải pháp đồng bộ để hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật.
3
Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đa đất nớc trở thành một nớc
công nghiệp; mở rộng quan hệ nhiều mặt song phơng và đa phơng, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực thì đòi hỏi cơ chế điều chỉnh pháp luật
của nớc ta phải có bớc phát triển tơng xứng. Vì vậy, cần phải có những giải
pháp tổng thể, đồng bộ để hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật thì mới có
thể mang lại kết quả mong muốn.
Bên cạnh đó, "Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và
lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động
Alecxeev; V. P. Kazimirchuc, V. M. Gorshenev, C. A. Komarov, V. V. Lazareva, N. I.
Matuzova, V. N. Khropanhiuc Những công trình khoa học của các tác giả
này đã đề cập đến nhiều vấn đề của cơ chế điều chỉnh pháp luật nh vị trí và vai
trò của các thành tố trong cơ chế điều chỉnh pháp luật cũng nh những đặc
điểm của cơ chế điều chỉnh pháp luật ở một số lĩnh vực pháp luật cụ thể nhng
nhiều điểm cha thống nhất với nhau.
5
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu một cách toàn diện về
pháp luật Việt Nam đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến ở những mức độ
và phạm vi khác nhau. Trong giáo trình lý luận về nhà nớc và pháp luật ở bậc
đại học và sau đại học của các cơ sở đào tạo luật cũng nh các công trình khoa
học trên các tạp chí chuyên ngành đã đề cập những vấn đề về điều chỉnh pháp
luật và cơ chế điều chỉnh pháp luật ở cả phơng diện lý luận và thực tiễn. Có
thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả nh Đào Trí úc, Lê Minh
Tâm, Lê Minh Thông, Lê Hồng Hạnh, Trần Ngọc Đờng, Hoàng Phớc Hiệp, Lê
Xuân Thảo, Nguyễn Minh Mẫn
Trong số các công trình nghiên cứu về pháp luật Việt Nam có hai công
trình khoa học đáng chú ý, trực tiếp nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp luật
Việt Nam là: "Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu t trực tiếp nớc
ngoài tại Việt Nam" của tác giả Hoàng Phớc Hiệp và "Đổi mới và hoàn thiện
cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị tr-
ờng ở Việt Nam" của tác giả Lê Xuân Thảo. Tuy nhiên, các công trình này mới
chỉ nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể, hơn nữa
lại dựa trên cơ sở của những quan điểm lý luận khác nhau về cơ chế điều
chỉnh pháp luật vì thế còn nhiều vấn đề cha đợc giải quyết triệt để.
Nh vậy, đến nay vẫn cha có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một
cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án
6
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ đã đợc xác định ở trên, luận án đợc thực
hiện trên cơ sở lý luận khoa học và các phơng pháp của chủ nghĩa Mác
-Lênin. Trong đó, vận dụng tổng hợp các phơng pháp duy vật biện chứng, ph-
ơng pháp duy vật lịch sử và các phơng pháp cụ thể nh phân tích và tổng hợp,
phơng pháp so sánh, phơng pháp tổng kết thực tiễn, tiếp cận hệ thống để lý
giải các vấn đề đã đợc đặt ra.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn
diện về cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích, so sánh đánh giá một số quan điểm khác nhau,
luận án xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về cơ chế điều chỉnh pháp luật, trong
đó xác định chức năng và những mối quan hệ giữa các thành tố trong cơ chế
điều chỉnh pháp luật cũng nh những nhân tố cơ bản ảnh hởng đến cơ chế điều
chỉnh pháp luật. Bên cạnh đó, luận án làm sáng tỏ một cách có hệ thống và
toàn diện những tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của cơ chế điều
chỉnh pháp luật Việt Nam.
8
Cùng với việc nghiên cứu và làm sáng tỏ quá trình phát triển cũng nh
thực trạng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất
những phơng hớng và giải pháp toàn diện cho việc hoàn thiện cơ chế điều
chỉnh pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả của pháp luật trong điều kiện phát
triển của một nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển những
vấn đề lý luận về cơ chế điều chỉnh pháp luật, tạo ra cơ sở khoa học thống
nhất để nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể.
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy
khoa học pháp lý cũng nh các nhà hoạt động thực tiễn trong các cơ quan pháp
luật.
động, chỉnh đốn, điều khiển một hoạt động hay một quá trình để tạo ra một
trật tự hài hòa, thờng dựa vào những nguyên tắc hay những quy tắc nhất định.
Đặc biệt, trong cuốn từ điển pháp luật bằng tiếng Anh "Blacks Law
Dictionary", thuật ngữ điều chỉnh đợc giải thích khá rõ ràng: "Điều chỉnh
(regulate) là sắp xếp, thiết lập, hoặc điều khiển, chỉnh đốn bằng quy tắc, phơng
pháp hoặc phơng thức đã đợc định ra; chỉ đạo bằng quy tắc hoặc khuôn mẫu;
kiểm soát bằng các nguyên tắc cai trị hoặc bằng pháp luật" [109, tr. 1286]. Nh
vậy, thuật ngữ "điều chỉnh" đợc giải thích tơng đối thống nhất, nội dung của
nó là sự tác động của chủ thể đến đối tợng bằng những hình thức và phơng
pháp cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định.
Để duy trì trật tự xã hội, định hớng cho sự vận động và phát triển của
các quan hệ xã hội, trong xã hội tồn tại nhiều dạng điều chỉnh khác nhau. Đó
là sự điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, tín điều tôn giáo, phong tục, tập quán,
pháp luật Trong đó, điều chỉnh bằng pháp luật (ở đây gọi là điều chỉnh pháp
luật) có vai trò quan trọng nhất do tính chất và đặc điểm vốn có của pháp luật.
11
Pháp luật do nhà nớc ban hành và đảm bảo thực hiện, vì thế nhà nớc là
chủ thể của điều chỉnh pháp luật. Với t cách là một tổ chức có quyền lực bao
trùm toàn bộ xã hội, nhà nớc có bộ máy cỡng chế đặc biệt có đủ khả năng
đảm bảo cho các quy phạm pháp luật đợc thực thi trên thực tế. Để thực hiện sự
điều chỉnh pháp luật, nhà nớc trớc hết xác định mục đích, nhiệm vụ của điều
chỉnh pháp luật, xác định phạm vi, đối tợng, phơng pháp điều chỉnh của pháp
luật. Trên cơ sở đó, nhà nớc tiến hành các hoạt động cụ thể để thực hiện sự
điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Các hoạt động cụ thể của nhà
nớc nhằm thực hiện sự điều chỉnh pháp luật thể hiện dới các hình thức cơ bản
là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong
đó, các cơ quan trong bộ máy nhà nớc với những chức năng và nhiệm vụ cụ
thể phối hợp với nhau để thực hiện sự điều chỉnh pháp luật. Thực chất, toàn bộ
hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc chính là các hoạt động để
thực hiện sự điều chỉnh pháp luật.
tính quy phạm của nhà nớc đối với các quan hệ xã hội thông qua hành vi
của các chủ thể nhằm đạt đợc những mục đích nhất định.
13
Với chức năng giáo dục, pháp luật luôn có sự tác động mạnh mẽ vào
nhận thức và t tởng của chủ thể để hình thành ở chủ thể pháp luật ý thức pháp
luật đúng đắn, làm cơ sở cho các chủ thể lựa chọn cách xử sự phù hợp với yêu
cầu của pháp luật. Mặc dù, hành vi mới là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa
con ngời với pháp luật nh Các Mác đã viết: "Ngoài những hành vi của mình
ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tợng của
nó" [13, tr. 27-28], nhng con ngời cụ thể tham gia các quan hệ xã hội hoạt
động không phải nh một cái máy, mà đó là hoạt động có ý chí, có mục đích rõ
ràng. Chính vì vậy, không thể đòi hỏi các chủ thể thực hiện các hành vi mà
nhà nớc mong muốn nếu pháp luật không tác động vào nhận thức của họ bởi
vì theo quan điểm mác - xít, hành vi của con ngời chính là biểu hiện bên ngoài
của hoạt động [16, tr. 11], [48, tr. 17]. Vì vậy, khi nói sự tác động của pháp
luật đối với các quan hệ xã hội thông qua hành vi của chủ thể thì đã bao hàm
sự tác động pháp luật đối với nhận thức của chủ thể. Nhờ vào sự tác động đó,
các chủ thể có thể biết đợc mình đợc làm gì, không đợc làm gì, phải làm gì
hay phải làm nh thế nào. Khi nhận thức đợc điều đó thì các chủ thể tiến hành
cách xử sự mà pháp luật đã đa ra.
14
Tuy nhiên, sự tác động của pháp luật đối với nhận thức của chủ thể có
hai cấp độ khác nhau, ở cấp độ chung đó là sự tác động của toàn bộ các bộ
phận của thợng tầng chính trị pháp lý đối với nhận thức của con ngời về bản
chất và vai trò của pháp luật, về ý nghĩa xã hội của pháp luật nhằm mục đích
giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của các chủ thể pháp luật. Sự tác động này
có thể đợc thực hiện cả trong quá trình điều chỉnh pháp luật cũng nh các quá
trình pháp luật khác nh tuyên truyền pháp luật, giáo dục pháp luật. Sự tác
động ở cấp độ chung thực chất là thực hiện chức năng giáo dục của pháp luật.
ở cấp độ cụ thể, sự tác động của pháp luật đối với nhận thức của chủ thể chỉ
pháp luật đối với nhận thức của chủ thể các quan hệ xã hội ở các cấp độ khác
nhau.
Quan niệm điều chỉnh pháp luật nh vậy cho phép chúng ta chỉ ra sự
khác nhau giữa điều chỉnh pháp luật và sự tác động của pháp luật. Mặt khác,
quan niệm đó thể hiện đợc bản chất của điều chỉnh pháp luật. Quan niệm này
tạo ra cơ sở cho việc làm sáng tỏ khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật cũng
nh vị trí và chức năng của các thành tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật.
16
Để thực hiện sự điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội, pháp luật xác
định cách xử sự của chủ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Việc
xác định đó đợc thể hiện ở những phơng thức điều chỉnh cụ thể. Đó là cách
thức pháp luật xác định cách xử sự của chủ thể gắn với những điều kiện và
hoàn cảnh nhất định.
Phơng thức điều chỉnh pháp luật đợc nhà nớc xác lập và thể hiện trong
các quy phạm pháp luật. Vì thế, với cùng một điều kiện và hoàn cảnh cụ thể,
pháp luật của nhà nớc này xác định cách xử sự của chủ thể bằng phơng thức
này, nhng pháp luật của nhà nớc khác thì lại xác định bằng phơng thức khác.
Phơng thức điều chỉnh pháp luật mặc dù do nhà nớc xác lập nhng nó phụ
thuộc vào tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh và mục
đích của điều chỉnh pháp luật. Việc xác định những cách xử sự khác nhau cho
chủ thể phải mang tính khách quan, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ
thể. Có ba phơng thức điều chỉnh pháp luật chung nhất là bắt buộc, cấm đoán
và cho phép [45, tr. 368], [94, tr. 285].
Bắt buộc là phơng thức điều chỉnh pháp luật trong đó pháp luật xác
định những hành vi mà chủ thể buộc phải thực hiện khi gặp những điều kiện
hay hoàn cảnh cụ thể đợc pháp luật quy định. Ví dụ, pháp luật quy định công
dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích, phải tố giác tội phạm
Cấm đoán là phơng thức điều chỉnh pháp luật trong đó pháp luật xác
định những hành vi mà chủ thể không đợc phép thực hiện khi gặp một điều kiện
hay hoàn cảnh cụ thể đợc pháp luật quy định. Chẳng hạn, Đoạn 1, Điều 17,
thể. Trên cơ sở đó, khoa học pháp lý đã xác định hai phơng pháp cơ bản của
điều chỉnh pháp luật là phơng pháp mệnh lệnh - phục tùng và phơng pháp phối
hợp - bình đẳng [45, tr. 363], [76, tr. 518]. Phơng pháp mệnh lệnh - phục tùng
thừa nhận sự không bình đẳng của các bên chủ thể trong quan hệ xã hội, trong
đó một bên có chủ thể có quyền đặt ra những mệnh lệnh phù hợp với pháp luật
còn chủ thể kia phải phục tùng những mệnh lệnh đó. Các quan hệ phát sinh
trong hoạt động quản lý nhà nớc thờng đợc điều chỉnh bằng phơng pháp này.
Còn phơng pháp phối hợp - bình đẳng thừa nhận sự bình đẳng giữa các bên
chủ thể tham gia quan hệ xã hội, trong đó các bên tham gia quan hệ xã hội
phối hợp, thỏa thuận với nhau để định đoạt quyền và nghĩa vụ pháp lý của
mình trên cơ sở pháp luật. Các quan hệ dân sự đợc điều chỉnh bằng phơng pháp
này, nh quan hệ hợp đồng Trong những trờng hợp khác lại có sự kết hợp hai
phơng pháp điều chỉnh trên tạo ra phơng pháp hỗn hợp nhằm đảm bảo cho sự
tồn tại và vận động của các quan hệ xã hội theo mục đích mà nhà nớc mong
muốn [45, tr. 363]. Ví dụ, trong quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao
động, khi ký kết hợp đồng lao động, các bên chủ thể dựa trên cơ sở sự bình
đẳng, thỏa thuận để xác định các quyền và nghĩa vụ của mình, nhng khi thực
hiện hợp đồng thì bên sử dụng lao động có quyền đặt ra quy chế, mệnh lệnh
trong khuôn khổ pháp luật và sự thỏa thuận trong hợp đồng buộc ngời lao động
phải thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các bên có thể thỏa thuận
với nhau về việc thay đổi các điều khoản của hợp đồng.
Những vấn đề đợc phân tích ở trên về điều chỉnh pháp luật sẽ là cơ sở
để xây dựng và hoàn thiện các vấn đề lý luận về cơ chế điều chỉnh pháp luật.
19
Cơ chế điều chỉnh pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản
trong hệ các khái niệm khoa học của lý luận về nhà nớc và pháp luật. Do tính
chất phức tạp của vấn đề và nhiều lý do khác nên cho đến nay còn có nhiều ý
kiến rất khác nhau về khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật, thể hiện ở những
quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, cơ chế điều chỉnh pháp luật chính là cơ
21
Quan điểm thứ ba cho rằng, cơ chế điều chỉnh pháp luật bao gồm hai
bộ phận là: phơng thức điều chỉnh pháp luật, đợc thể hiện trong các quy phạm
pháp luật, là cơ sở để các chủ thể lựa chọn cách xử sự phù hợp với yêu cầu của
pháp luật (cho phép, bắt buộc hoặc cấm đoán) và phơng thức thực hiện hành
vi, thể hiện trong các xử sự cụ thể của con ngời, trong đó chủ thể pháp luật
chủ động thực hiện, phải thực hiện hoặc phải kiềm chế việc thực hiện một
hành vi nào đó. Đồng thời, theo quan điểm này, giữa hai phơng thức đó lại tồn
tại các khâu trung gian: chủ thể pháp luật, sự kiện pháp lý, quan hệ pháp luật
[97, tr. 55]. Quan điểm này đã nhấn mạnh tính cấu trúc của phạm trù cơ chế
điều chỉnh pháp luật, xác định đặc điểm riêng của các bộ phận trong cấu trúc
đó, tạo ra cơ sở cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề cơ bản thuộc nội
dung của khái niệm này. Tuy nhiên, do quan điểm này phân lập phơng thức điều
chỉnh pháp luật và phơng thức thực hiện hành vi pháp luật của chủ thể và xác
định chủ thể pháp luật, sự kiện pháp lý và quan hệ pháp luật chỉ là khâu trung
gian giữa hai phơng thức đó, nên cha giải quyết đợc mối quan hệ tơng tác giữa
các thành tố cấu thành cơ chế điều chỉnh pháp luật.
Một quan điểm khác cho rằng, cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống
các phơng tiện pháp luật đặc thù có quan hệ mật thiết với nhau, đợc nhà nớc
sử dụng để tác động lên các quan hệ xã hội nhằm tạo ra một trật tự pháp lý
nhất định, làm cho khoảng cách giữa pháp luật trên giấy, pháp luật thực định
và pháp luật trên thực tế, pháp luật trong cuộc sống ngày càng thu nhỏ lại và
tiến tới xóa bỏ hoàn toàn [35, tr. 26]. Quan điểm này có nhiều yếu tố hợp lý,
nhất là đã chú trọng tính hiệu quả của pháp luật, tạo cơ sở cho việc tiếp cận và
giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý khác để đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm cơ
chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống phơng tiện pháp luật đợc nhà nớc sử
dụng, thì cha đầy đủ, cha thấy hết tính toàn diện và trạng thái "động" của của
cơ chế điều chỉnh pháp luật.
22
thứ nhất là cơ cấu bên trong của máy móc hoặc thiết bị mà làm cho máy móc
hoặc thiết bị đó hoạt động và thứ hai là cấu trúc bên trong, phơng thức vận
hành của một bộ máy của một kiểu hoạt động nào đó [105, tr. 203]. Trong
tiếng Anh, thuật ngữ này cũng đợc giải thích với hai nghĩa khác nhau: "Cơ chế
(mechanism) là hệ thống các bộ phận hoạt động cùng nhau trong một cỗ
máy" và "Cơ chế là một quá trình tự nhiên hoặc đợc thiết lập nhờ đó một hoạt
động nào đó đợc tiến hành hoặc đợc thực hiện" [123, tr. 1148-1149]. Trong
tiếng Việt, cơ chế đợc các nhà ngôn ngữ học giải thích là cách thức theo đó
một quá trình đợc thực hiện [86, tr. 207]. Tuy nhiên, nghiên cứu trong lĩnh vực
kinh tế, đặc biệt là khi xây dựng khái niệm "cơ chế kinh tế" và "cơ chế quản lý
kinh tế", các nhà kinh tế học cho rằng: "Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ sự t-
ơng tác giữa các yếu tố kết thành một hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể
hoạt động" [54, tr. 6].
Nh vậy, cơ chế luôn đợc giải thích gắn liền với hoạt động của một hệ
thống các bộ phận tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hoạt động của
chúng. Vì vậy, theo chúng tôi, thuật ngữ "cơ chế" chứa đựng hai nội dung đó
là cấu trúc của một chỉnh thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau hợp thành có
mối liên hệ mật thiết với nhau và phơng thức vận hành hay hoạt động của chỉnh
thể đó, tức là sự tơng tác giữa các bộ phận trong cấu trúc của chỉnh thể theo
những nguyên tắc và quá trình xác định nhằm đạt đợc một kết quả nhất định.
24
Nh đã phân tích ở phần trớc, điều chỉnh pháp luật đợc thực hiện thông
qua hành vi của các chủ thể tham gia các mối quan hệ xã hội, vì thế mục đích
của điều chỉnh pháp luật chỉ có thể đạt đợc khi nó đợc thể hiện thành hành vi
thực tế của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên, để có đợc hành vi xử sự thực tế
của các chủ thể, điều chỉnh pháp luật đợc tiến hành thông qua các quá trình
phức tạp từ việc mô hình hóa hành vi của chủ thể gắn với những điều kiện và
hoàn cảnh nhất định đến việc cá biệt hóa các mô hình hành vi đó thành những
xử sự trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể và thực hiện các biện pháp để
các chủ thể tiến hành đúng các xử sự đó trên thực tế. Quá trình này phụ thuộc
riêng để đảm bảo cho pháp luật từng bớc đi vào đời sống xã hội. Trong đó,
quy phạm pháp luật là khuôn mẫu chung cho hành vi của chủ thể; quan hệ
pháp luật là quan hệ xã hội cụ thể mà nội dung là quyền và nghĩa vụ pháp lý
của chủ thể đã đợc pháp luật quy định Khi các chủ thể tham gia vào các
quan hệ pháp luật một cách hợp pháp thì các khuôn mẫu chung trở thành
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể; việc thực hiện pháp luật là làm cho
các quyền và nghĩa vụ đó trở thành hành vi thực tế của các chủ thể.
Mối liên hệ mật thiết giữa các phơng tiện pháp luật đợc biểu hiện ở vai
trò của các phơng tiện đó đối với nhau và đối với toàn bộ sự vận hành của cơ
chế, trong đó phơng tiện này là tiền đề cho sự tham gia của các phơng tiện khác
trong quá trình điều chỉnh pháp luật. Nhờ mối liên hệ tác động qua lại giữa các
phơng tiện pháp luật mà quá trình điều chỉnh pháp luật đợc thực hiện.
Thứ hai, sự tác động lẫn nhau giữa các phơng tiện pháp luật trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật đợc thực hiện thông qua hoạt động của các chủ thể
tham gia các quan hệ xã hội đợc pháp luật điều chỉnh.
26
Nh đã phân tích ở trên, kết quả của điều chỉnh pháp luật chỉ đạt đợc
khi chủ thể thực hiện trên thực tế hành vi cụ thể mà pháp luật quy định. Mặc
dù pháp luật do nhà nớc ban hành và đảm bảo thực hiện, nhng pháp luật chỉ đi
vào đời sống xã hội thông qua hoạt động của các chủ thể. Hoạt động của các
chủ thể pháp luật nh tham gia quan hệ pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ
pháp lý làm cho các quy phạm pháp luật từng bớc trở thành cách xử sự cụ
thể và cuối cùng là đợc thể hiện thành hành vi cụ thể của các chủ thể đó trên
thực tế. Nhờ những hoạt động đó mà quá trình điều chỉnh pháp luật diễn ra,
đồng thời cũng nhờ vào hoạt động của các chủ thể pháp luật mà các phơng
tiện pháp luật có mối liên hệ tác động lẫn nhau.
Vai trò của các chủ thể trong cơ chế điều chỉnh pháp luật không chỉ đ-
ợc biểu hiện ở tính tích cực của các chủ thể trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình mà trong một chừng mực nào đó, các chủ thể còn
đợc nhà nớc trao quyền để tiến hành những hoạt động cụ thể (chẳng hạn, trong