Lời nói đầu
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế đều phải quan tâm và
giải quyết vấn đề tạo vốn cho nền kinh tế. Đó là mấu chốt của quá trình tăng tr-
ởng.
Tiến trình đổi mới nền kinh tế - công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
đang đặt nớc ta vào một giai đoạn mà đồng vốn đợc coi là một trong những điều
kiện tiên quyết nhất đối với chủ trơng đẩy lùi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so
với các nớc khác đòi hỏi phải có sự u tiên đầu t để xây dựng cơ sở hạ tầng, để
đổi mới công nghệ, để mua sắm máy móc thiết bị hiện đại...
Tất cả những việc đầu t này cần phải có một nguồn vốn lớn mà thời gian
thu hồi vốn lại lâu, chứa đựng nhiều rủi ro. Bởi vậy không một cá nhân nào dám
đứng ra bỏ vốn vào những công trình nh vậy. Vì sự nghiệp cải tạo đất nớc, vì
mục tiêu xã hội chính phủ sẵn sàng đứng ra đảm nhận công việc này. Song ngân
sách còn eo hẹp, thâm hụt nhiều, đồng vốn cấp phát lại thờng không hiệu quả
nên nếu chỉ có chính phủ bỏ vốn đầu t thì không biết đến bao giờ đất nớc ta mơí
bớc qua đợc thời kỳ quá độ để tiến lên chủ nghĩa xã hội đúng với nghĩa của nó.
Hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng đầu t và phát triển nói riêng đã giữ
một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp vốn cho các dự án phát triển đất
nớc .
Huy động vốn đã khó, sử dụng vốn hiệu quả còn khó hơn. Một yêu cầu có
tính nguyên tắc đối với ngân hàng trong hoạt động đầu t tín dụng là phải xem
xét lựa chọn những dự án đầu t thực sự có hiệu quả, vừa mang lại lợi ích cho
nền kinh tế xã hội lại vừa đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Với ngân hàng đầu
t và phát triển chức năng chủ yếu là tài trợ cho các dự án phát triển thì việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn trong cho vay các dự án phát triển lại càng đợc đề cao
và là mối quan tâm hàng đầu để làm sao vừa an toàn lại vừa sinh lời.
Chính vì vậy, trong suốt thời gian thực tập ở chi nhánh ngân hàng đầu t và
phát triển Thanh Trì trực thuộc chi nhánh Hà nội, tôi đã tập trung vào nghiên
cứu đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay dự án phát
triển tại Ngân hàng đầu t và phát triển Hà nội, chi nhánh Thanh trì" làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và
chi phí theo một kế hoạch để đạt đợc nông nghiệp kết quả và thực hiện đợc
nông nghiệp mục tiêu nhất định trong tơng lai. Trên góc độ quản lý, dự án đầu
t là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật t, lao động để tạo ra các kết quả
kinh tế tài chính trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu
t là một công cụ thể hiện kết quả chi tiết của một công cuộc đầu t sản xuất kinh
doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu t và tài trợ
dự án đầu t là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch
hoá nền kinh tế nói chung. Xét về mặt nội dung, dự án đầu t là một tập hợp
riêng biệt nông nghiệp hoạt động đầu t, vạch chính sách xây dựng thể chế và
các hoạt động khác nhằm thực hiện một hay một nhóm mục tiêu phát triển nhất
định trong một thời gian đã xác định.
Nh vậy, một dự án có thể bao gồm một vài hoặc tất cả 5 yếu tố sau đây:
+ Đầu t vốn vào các công trình dân dụng, vào trang thiết bị hoặc cả hai
(gọi là gạch và vừa của dự án).
+ Cung cấp các dịch vụ thiết kế và xây dựng công nghệ, giám sát thi công,
cải tiến cách điều hành và bảo dỡng.
+ Củng cố các tổ chức địa phơng có liên quan đến thực hiện và điều hành
dự án kể cả đào tạo những ngời quản lý và biên chế tại địa phơng.
+ Cải tiến các chính sách nh chính sách giá cả, trợ cấp thu hồi chi phí tác
động đến việc thực hiện dự án và mối quan hệ giữa dự án với ngành cùng với
những mục tiêu phát triển rộng lớn hơn của đất nớc.
+ Xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện những công việc nói trên nhằm thực
hiện mục tiêu dự án trong thời gian quy định.
Dự án phát triển thực chất cũng là một dự án đầu t, đợc tài trợ bởi các
chính phủ các tổ chức phi chính phủ để đạt đợc các mục tiêu lớn mang tính chất
toàn quốc hay toàn cầu, những mục tiêu này có thể là mục tiêu xã hội cũng có
thể là những mục tiêu kinh tế hoặc kinh tế - xã hội.
Các dự án phát triển thờng phải có vốn lớn, thời gian dài, nếu xét về hiệu
quả kinh tế thì khá thấp hiệu quả của các dự án này đem lại chủ yếu mang tính
+ Các thành quả của quá trình thực hiện đầu t là các công trình xây dựng,
kiến trúc nh các nhà máy, hầm mỏ, công trình thuỷ điện, các công trình thuỷ
lợi, đờng xá cầu cống, bến cảng. Để đảm bảo mọi công cuộc đầu t đợc thuận
lợi, đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu qảu kinh tế xã hội cao thì trớc khi bỏ
vốn phải làm công tác chuẩn bị. Có nghĩa là phải xem xét tính toán toàn diện
các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trờng xã hội, pháp lý...có
liên quan đến quá trình thực hiện và phải dự đoán các yếu tố bất định sẽ xảy ra
trong quá trình kể từ khi thực hiện đầu t đến khi kết thúc sự phát huy tác dụng
( theo dự kiến trong dân) có ảnh hởng đến sự thành bịa của công cuộc đầu t.
Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị đợc thể hiện trong dự án đầu t.Có thể nói,
dự án đầu t (đợc soạn thảo tốt) là kim chỉ nam là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho
việc thực hiện các công cuộc đầu t đạt hiệu quả kinh tế xã hội mong muốn.
Trong quá trình phát triển sôi động và trọng tâm của nó luôn luôn thay đổi,
cách tiếp cận dự án đứng vững nh một phơng pháp đã tôi luyện để quản lý việc
sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển quan trọng.
Cách tiếp cận này đã giúp các nớc đang phát triển hình thành những tổ chức
vững chắc để làm cho kinh tế tăng trởng trong trật tự, thực hiện những đổi mới
chính sách cần thiết làm cho các dự án đạt kết quả tốt và để tiến hành những
hạng mục đầu t có nghiên cứu thiết kế đúng đắn, khả thi về tài chính và có căn
cứ kinh tế.
Cách tiếp cận theo dự án rất khớp với quan điểm thực dụng trong công
cuộc phát triển ngày càng tăng lên ở nhiều nớc hiện nay. Cộng đồng quốc tế đã
hiểu biết nhiều và các quá trình phát triển và đã hiểu rõ là không thể có một đơn
thuốc hay một khuôn mẫu duy nhất nào vợt qua đợc các vấn đề của sự chậm
phát triển. Ngày nay sự nghiệp phát triển kinh tế đợc nhận thức là một quá trình
học tập kinh nghiệm lâu dài, chậm rãi và nhiều khi đau xót. Tính phức tạp và
mối quan hệ lẫn nhau trong tổng thể nền kinh tế hiện đại đã bắt buộc các nhà
vạch chính sách phải rèn luyện và phải có đầu óc thực tế.
Nhận xét này càng đợc củng cố do những bớc thăng trầm gần đây của các
nớc suy thoái cắt giảm viện trợ và khủng hoảng nợ nần thay vào việc xây dựng
thực hiện nhng do ngân sách hạn hẹp, khả năng tài chính thấp do đó cần phải
tranh thủ đợc các nguồn tài trợ của các tổ chức trên thế giới cho các dự án của
mình khi mà mục tiêu của các dự án đó phù hợp với mục tiêu của các tổ chức
này.
Tựu chung lại, quan niệm dự án phát triển đã cung cấp một cách tiếp cận
có hệ thống và phơng pháp để phân tích và quản lý một loạt các hoạt động đầu
t.
2. Ngân hàng đầu t và phát triển với vai trò tài trợ cho dự án phát triển
Trên thế giới, ngân hàng đầu t và phát triển đợc hình thành từ nhu cầu cấp
bách về nguồn vốn trung và dài hạn. Tại các nớc kém phát triển và đang phát
triển, nhu cầu về vốn trung và dài hạn rất lớn, song hệ thống ngân hàng thơng
mại (các thể chế tài chính chủ yếu ở các nớc kém phát triển) lại không có khả
năng tìm kiếm, thoả mãn các yêu cầu ngày. Đầu t của ngân sách nhà nớc thì lại
thờng rất nhỏ do các khoản thâm hụt gây ra; thị trờng chứng khoán kém phát
triển hoặc không có. Do vậy cần tìm kiếm một thể chế tài chính nhằm thoả mãn
các nhu cầu về vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế.
Ngân hàng phát triển ra đời đáp ứng các mục tiêu xã hội trong tài trợ vốn
trung và dài hạn sự khan hiếm về nguồn vốn trung và dài hạn làm cho giá cả
của nguồn tiền naỳ rất đắt. Vì vậy không thể tài trợ cho các dự án dài hạn có tỷ
lệ sinh lời thấp song lại đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế. Tình
trạng này buộc nhà nớc phải nắm quyền phân phối tín dụng theo lãi suất nhất
định cho những lĩnh vực những ngành nghề cần đợc u tiên.
Bên cạnh đó đã có những dự án mà nhà nớc muốn thay đổi nh một bộ phận
của chiến lợc phát triển song laị đợc tài trợ bằng nguồn vốn vay vì có nh vậy
mới có hiệu quả hơn là cấp phát bằng ngân sách nhà nớc. Ngân hàng phát triển
đã tài trợ cho những dự án nh vậy với sự tham gia của nhà nớc. Ngân hàng phát
triển đã tài trợ cho những dự án nh vậy với sự tham gia của nhà nớc.
Ngân hàng phát triển ra đời là sự đòi hỏi khách quan về nguồn vốn trung
và dài hạn. Ngân hàng phát triển là một tổ chức kinh doanh nhằm mục tiêu lợi
nhuận và phát triển.
khi đó NHĐT & PTVN đã chủ ý tới lợi nhuận thực sự của ngân hàng. Song cho
đến năm 1997, khi mà nhiệm vụ cấp phát vốn đầu t xây dựng cơ bản chuyển
sang cho tổng cục đầu t, NHĐT & PTVN mới thực sự bớc vào thơng trờng. Và
từ đây NHĐT và PTVN hoạt động nh một tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục
tiêu lợi nhuận và mục tiêu phát triển.
II. Một vài chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả cho vay dự án phát
triển tại NHĐT & PT
1. Thực hiện tôt quy trình thẩm định dự án phát triển.
1.1.Vì sao phải thẩm định dự án phát triển trong ngân hàng
Cho vay là một nghiệp vụ ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Cho nên ở bất kỳ một thời kỳ
nào, bối cảnh nào, bối cảnh nào yêu cầu cơ bản của tín dụng ngân hàng vẫn là
"hiện thực khả thi và hiệu quả". Với NHĐT & PT, hoạt động cho vay các dự án
phát triển là phần lớn (chức năng vốn có của nó) vì thời gian cho vay dài, món
vay lớn nên sự rủi ro món vay cao hơn rất nhiều so với NHTM khác. Chính vì
vậy, trớc khi quyết định cho vay một dự án ngân hàng phải xem xét một cách
kỹ lỡng hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của dự án để hạn chế rủi ro và đảm
bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
a. Hạn chế rủi ro:
Với t cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, ngân hàng có chức năng chủ
yếu là "nhận tiền gửi để cho vay" có nghĩa dùng tiền của ngời này cho ngời
khác vay do đó hiệu quả sử dụng vốn vay là tiêu chuẩn quan tâm hàng đầu của
ngân hàng. Ngân hàng và doanh nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau để cùng phát triển, song có những khách hàng của ngân hàng không đáp
ứng đợc nghĩa vụ trả nợ theo những điều khoản đã thoả thuận làm giảm khả
năng bảo toàn vốn tín dụng của ngân hàng. Nếu ngân hàng xem xét thận trọng
quá trình cho vay và khách hàng làm ăn có hiệu quả, sử dụng vốn vay đúng mục
đích thì sẽ hoàn trả tiền vay đúng thời hạn, Ngân hàng sẽ có tiền thanh toán cho
ngời gửi tiền tránh sự vỡ nợ của ngân hàng. Nhng trong cuộc sống mấy ai học
đợc chữ "ngờ", nợ quá hạn trong các ngân hàng ngày một tăng trong đó nợ quá
hoạt động tín dụng ngân hàng. Để có đợc quyết định đúng đắn bằng một chữ ký
trong khoảnh khắc, cán bộ tín dụng và các cấp có thẩm quyền cho vay phải tiến
hành một loạt các quyền cho vay phải tiến hành một loạt các bớc rất phức tạp
đó là "thẩm định tín dụng" với các dự án phát triển thì càng khó khăn hơn, vì tất
cả đều là những dự đoán và thẩm tra cho những thời điểm trong tơng lai thẩm
định dự án để hạn chế rủi ro, bảo toàn vốn vay tạo ra một môi trờng kinh doanh
tiền tệ ổn định và lành mạnh là nền tảng giúp cho ngân hàng đạt đợc những mục
tiêu lợi nhuận.
b. Đảm bảo lợi nhuận ngân hàng.
Dự án đầu t chỉ là những dự tính, dự trữ những yếu tố sẽ xảy ra trong tơng
lai , bởi vậy không phỉa ai cũng nhìn nhận đợc hết tất cả mọi yếu tố, đặc biệt là
những bất trắc rủi ro của dự án. Dự án đợc nhìn nhận theo những góc độ khác
nhau, có thể đối với trờng phái này là hiệu quả nhng trờng phái khác lại không.
Và với ngân hàng cũng vậy, khi bỏ đồng tiền ra thì hải xem xét là nó có thu về
đợc hay không, bởi nó trực tiếp ảnh hỏng tới lợi nhuận của ngân hàng, nếu món
vay không hiệu quả thì thu vốn đã khó chứ đừng nói đến chuyện thu lãi. Nếu
không có lợi nhuận thì ngân hàng khó mà tồn tại đợc, bởi trong thơng trờng bất
kỳ một hoạt động kinh doanh nào thì lợi nhuận vẫn là mục tiêu cơ bản và cuối
cùng.
Vì là ngời trực tiếp bỏ vốn nên quá trình thẩm định dự án hết sức là khó
khăn, đòi hỏi nhà ngân hàng phải có cái nhìn tổng thể, phải có óc phán đoán
khá chính xác và logic chất lợng thẩm định dự án sẽ quyết định sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng.
ở nớc ta, trong nền kinh tế tập trung, hoạt động của các ngân hàng chỉ đơn
thuần phục vụ các doanh nghiệp nhà nớc, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch pháp
lệnh, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, đồng thời nhà nớc cha xem
ngân hàng là bộ phận kinh doanh độc lập, dẫn đến lợi nhuận cảu ngân hàng
không gắn liền với trách nhiệm của cán bộ ngân hàng chuyển sang nền kinh tế
thị trờng, toàn bộ hệ thống ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nớc, lợi
nhuận phụ thuộc vào tiềm năng uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng. Vì vậy
- Tính phù hợp và khả thi về trình độ quản lý.
- Tính phù hợp và khả thi về các yếu tố tài chính.
- Tính phù hợp và khả thi về các yếu tố tài chính.
- Tính phù hợp và khả thi về thị trờng.
- Một số khía cạnh đặc biệt khác.
b. Quy trình thẩm định:
* Thẩm định doanh nghiệp vay vốn.
1b. Phân tích tài liệu trong hồ sơ, tính pháp lý và nội dung khái quát hồ sơ.
- Khi phân tích phải xem xét những văn bản nào đã có, những văn bản nào
còn thiếu( cần phải có). Cán bộ tín dụng phải xem xét tính hợp pháp và hợp lý
của giấy tờ.
- Lập danh mục các văn bản giao nhận hồ sơ.
- Lập danh mục các văn bản còn thiếu, văn bản pháp lý không đủ điều kiện
để doanh nghiệp bổ sung và hoàn thiện.
1b. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
* Phân tích các chỉ tiêu tài chính kinh doanh
+ Nhận xét đánh giá tình hình vốn và tài sản các năm trớc năm vay vốn và
năm vay vốn:
- Tình hình diễn biến qua các năm (tối thiểu 3 năm gần nhất)
- Khả năng tăng trởng hay giảm sút
-Tình trạng và khối lợng của tài sản hiện có (còn tốt hay lạc hậu)
- Khả năng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại về công
nghệ, chất lợng sản phẩm, quy mô công suất.
- Vốn kinh doanh và vốn lu động: thiếu, đủ, thừa,
- Tình hình sử dụng vốn lu động và vốn cố định: vay ngân hàng, chiếm
dụng, đóng góp, cổ phần.
- Tình hình sử dụng vốn khấu hao cơ bản để đầu t.
Cá lý do dẫn đến diễn biến tốt xấu, phơng hớng thời gian tới.
- Nhận xét đánh giá tình hình lợi nhuận và nghĩa vụ phải thực hiện các
năm.
- Tình hình trích khấu hao đa vào giá thành
- Tình hình các chi phí khác tăng giảm trong giá thành các lý do và
nguyên nhân dẫn đến tốt xấu, phơng hớng thời gian tới.
* Phân tích các chỉ số tác nghiệp chung để đánh giá doanh nghiệp.
Tổng vốn tự do
(1) Hệ số an toàn = càng cao càng bền vững
Tổng tài sản nợ
(2) Hệ số vốn lu động vòng= tài sản có vãng lai - tài sản nợ vãng lai.
Nói lên khả năng mở rộng phát triển của doanh nghiệp.
(3) Hệ số khả năng sinh lời.
- Lợi nhuận/ tổng tài sản có sử dụng
- Lợi nhuận /tổng vốn cổ đông hoặc tổng vốn tự có.
Tổng vốn cổ đông = vốn cổ phiếu + Lợi nhuận giữ lại
- Lợi nhuận/(tổng tài sản có - các khoản nợ)
- Lợi nhuận/Tổng vốn đầu t (vốn sử dụng ).
- Lợi nhuận /tổng doanh số bán hàng.
(4) Hệ số nhu cầu vốn (mức độ sử dụng vốn)
Tổng tài sản có /tổng doanh số bán hàng
Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt.
(5) Hệ số vòng quay vốn lu động bằng:
(tổng doanh số bán - thuế)/tổng tài sản lu động.
Vòng quay càng lớn càng tốt.
(6) Hệ số khả năng thanh toán = tài sản có vãng lai /tài sản nợ vãng lai.
Nếu < 1 thì khó thanh toán, mất khả năng chi trả, phải đi vay thêm vốn và
có nguy cơ bị phá sản.
- Khả năng thanh toán nhanh = (tiền + chứng khoán + phải thu)/tài sản nợ
vãng lai.
Nếu > 1 thì rất tốt, từ 0,6 đến 1: tốt , từ 0,2 đến 0,6: trung bình; <0,2: kém
(nhiều hàng tồn kho quá nhiều hoặc tài sản nợ quá nhiều).
(7) Mức tăng trởng doanh số bán= (tổng doanh số bán ra kỳ này/tổng
trình độ và thái độ của ngời lãnh đạo và đội ngũ quản lý kinh nghiệm sản xuất
và điều hành, tính cộng đồng mức độ ổn định trong quản lý...
- Chơng trình phơng hớng sản xuất kinh doanh ngắn và dài đảm bảo cho sự
phát triển của doanh nghiệp trong tơng lai.
* Các rủi ro thòng xảy ra trong kinh doanh những rủi ro dự báo.
* Nhận xét đánh giá, rút ra các kết luận tổng quát về tình hình tài chính
sản xuất kinh doanh của ngời vay.
- Những mặt mạnh trong sản xuất kinh doanh
- Những u thế trong sản xuất kinh doanh
- Những mặt yếu trong sản xuất kinh doanh
- Những tồn tại và dự kiến phát sinh
- Những mặt mạnh và yếu về tài chính
- Chấp hành chế độ hạch toán kinh tế
- Khả năng khắc phục và diễn biến
- Những mặt mạnh, yếu trong quản lý điều hành.
- Chấp hành luật pháp
- Chấp hành các nghĩa vụ với nhà nớc.
- Tín nhiệm với khách hàng, ngân hàng.
c. Thẩm định dự án vay vốn.
2c. Phân tích hồ sơ pháp lý của dự án.
Phân tích tính pháp lý của các văn bản tài liệu trong hồ sơ vay vốn về : cấp
quyết định ngời quyết định, ngời uỷ quyền, chữ ký dấu, hình thức văn bản, bản
chính hay bản sao, có công chứng hay không của tất cả các văn bản, tài liệu liên
quan đến và dự án vay vốn bắt buộc phải có để yêu cầu ngời vay làm đúng trình
tự thủ tục pháp lý theo quy định cho việc vay vốn.
Phân tích các nội dung trong từng văn bản tài liệu vay vốn rút ra những
vấn đề cần quan tâm, cần chú ý, cần phải làm rõ, cần phải thực hiện... và những
quy định điều kiện cho doanh nghiệp và dự án để đánh giá tính khả thi, tính
thực thi về pháp lý. Đó là những điều kiện bắt buộc tiên quyết, những nội dụng
cho phép, những công việc ngời vay phải thực hiện chấp hành, những ràng buộc
cần quan tâm hơn đến sản phẩm tiêu thụ ở nớc ngoài.
- Các văn bản giao dịch hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng ... có liên quan đến
việc cung ứng vật t, đầu vào hay phần tiêu thụ, đầu ra của sản phẩm.
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, nghiên cứu
đối thủ cạnh tranh cung cầu trên thị trờng đồng thòi, dự đoán đợc mức cung cầu
trên thị trờng trong thời gian tới.
- Khả năng nắm bắt thông tin về thị trờng kinh nghiệm của đơn vị về thị tr-
ờng sản phẩm. Việc tổ chức tiêu thụ, đặc biệt là việc sử dụng các kênh tiêu thụ
để đa hàng hoá tới tay ngời tiêu dùng.
- Các biện pháp tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm.
Muốn làm tốt các công tác trên đòi hỏi ngân hàng phải có bộ phận làm
Marketing để cung cấp những thông tin cần thiết cho cán bộ tín dụng. Nghiên
cứu thị trờng một cách nghiêm túc và có hiệu quả giúp cho nhà ngân hàng tránh
đợc những rủi ro tiềm ẩn đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
- Một điểm quan trọng cần lu ý là phải nghiên cứu một cách cụ thể, cẩn
thận về nguồn giá cả và chất lợng của yếu tố đầu vào từ đó xác định đợc giá
thành sản phẩm một cách chính xác hơn đảm bảo tính an toàn hơn.
2d. Phân tích về vấn đề kỹ thuật công nghệ:
Yếu tố kỹ thuật công nghệ của dự án trong nhiều trờng hợp là yếu tố quyết
định sự thành công hay thất bại của một dự án. Thông thờng các cơ quan cho
vay các dự án dựa vào kỹ thuật và cách giải quyết thành công ở trình độ nguyên
mẫu, có ý nghĩa rõ ràng. Tuy nhiên, có khi họ cùng tiếp thu những dự án có tính
chất đổi mới . Mục đích quan trọng của việc đánh giá một dự án về khía cạnh
kỹ thuật là phải hiểu đợc giá trị xứng đáng của các đề nghị kỹ thuật, phải ớc
tính đầy đủ các phí tổn và thấy đợc khả năng kỹ thuật của các cán bộ công nhân
viên của đơn vị. Đồng thời thấy đợc trách nhiệm của những ngời thiết kế, tạo
dựng và thực hiện dự án, đảm bảo hoạt động và duy trì thích đáng dự án.
Những yếu tố kỹ thuật phải xem xét sau khi đánh giá là:
- Quy mô của dự án: có phù hợp với khả năng tiêu thụ sản phẩm hay
không ? khả năng đáp ứng vốn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu, năng lực quản
dự án là đánh giá tình trạng tiền mặt trong suốt quá trình hoạt động của dự án
nó giúp cho việc xét đóan hiện vốn tự có và các khoản vay dài hạn có phù hợp
hay không, liệu sự thiếu hụt tiền mặt có xảy ra và xảy ra sẽ đợc giải quyết nh
thế nào. Phân tích khả năng thanh toán đợc thực hiện trong từng năm của dự án
căn cứ vào bảng dự trữ cân đối thu chi của dự án. Nếu chênh lệch thu chi là d-
ơng thì dự án có khả năng thanh toán tốt, ngợc lại ngân hàng cùng doanh nghiệp
sẽ phải điều chỉnh lại kế hoạch vay dài hạn lập kế hoạch vay tín dụng ngắn hạn
để đảm bảo khả năng thanh toán cho dự án.
Bảng dự trù cân đối thu chi.
Đơn vị:
Chỉ tiêu Năm 19... Năm 19... Năm 19...
I. Số tiền thu vào
1. Doanh thu thuần
2.Vốn góp, vốn vay:
+ Ngắn hạn
+ Trung hạn
+ Dài hạn
3. Thu do giải toả tồn kho
4. Các khoản mua chịu
5. Nhợng bán tài sản có
6. Thu nợ
7. Thu khác
II. Số tiền chi ra:
1. Chi phí sản xuất trực tiếp
2. Chi phí điều hành
3. Trả lãi vốn vay
4. Hoàn trả nợ gốc
5. Chi phí chuẩn bị đầu tu
6. chi phí mua sắm tài sản cố định
7. Vốn lu động
K = CF (1 + r)
t
- CF
CF CF
( I + r )
T
= T = log
i+r
CF - rK CF - rK
Đối với cá dự án dịch vụ, đầu t chiều sâu, tiểu thủ công,trồng cây công
nghiệp ngắn ngày lấy T 5 năm.
Đối với các dự án công nghiệp nhẹ T 5 - 7 năm đối với các dự án công
nghiệp nặng, cây công nghiệp dài ngày T 10 năm.
Đối với các công trình thuộc kết cấu hạ tầng T 10 - 15 năm, cá biệt có thể
lớn hơn.
2f. Phân tích rủi ro dự án:
Xác định rủi ro và các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo an toàn tín dụng.
Xác định rủi ro trớc hết là để giúp doanh nghiệp đánh giá đầy đủ các khía cạnh
=
+
=
+
=
T
i
T
P
i :
xác suất xảy ra tình huống i
Độ lệch tiêu chuẩn càng nhỏ càng tốt.
2q. Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội:
Ngoài việc xác định tính phù hợp của mục tiêu dự án đối với phơng hớng
phát triển kinh tế quốc dân, thứ tự u tiên , tác dụng của dự án đối với việc phát
triển ngành khác, còn cần phải thẩm tra đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế xã hội nh:
=
=
n
i
ii
PxRR
1
=
=
n
i
ii
PRR
1
)(
- Giá trị gia tăng GDP, nguồn thu ngân sách
- Khả năng thu hút lao động , công ăn việc làm
- Tỷ lệ GDP/vốn đầu t phải đạt đợc hai con số (%)
- Các tác động khác: nâng cao mức sống, cải thiện điều kiện sinh hoạt...