TIỂU LUẬN:
Vận dụng Lý luận hình thái kinh tế – xã
hội để phân tích vai trò của nhà nước đối
với nền kinh tế Việt nam hiện nay
Lời mở đầu
Lý luận hình thái kinh tế – xã hội là lý luận cơ bản và giữ một vị trí hết sức
quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử do K.Marx xây dựng nên. Lý luận hình
thái kinh tế - xã hội đã được thừa nhận là lý luận khoa học và là phương pháp luận
cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực học. Nhờ có lý luận hính thaí kinh tế – xã
hội, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học K. Marx đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực
bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã
xuất của nó thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một
kiến trúc thượng tầng được xây dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó.
1.Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế – xã
hội.
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc những cá nhân
riêng lẻ. Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp. Trong đó có những
mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Mỗi mặt có vai trò nhất định và tác động đến mặt khác tạo nên sự vận động của cơ
thể xã hội. Chính tính toàn vẹn của nó được phản ánh bằng khái niệm hình thái kinh
tế – xã hội.
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã
hội. Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội xét đến cùng là
do lực lượng sản xuất quyết định. Lực lượng sản xuất phát triển qua các hình thái
kinh tế – xã hội nối tiếp nhau từ thấp lên cao thể hiện tính liên tục trong sự phát
triển của xã hội loài người.
Quan hệ sản xuất – quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất – là
những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mối quan hệ xã hội khác, không
có mối quan hệ đó thì không thành xã hội và quy luật xã hội. Mỗi hình thái kinh tế -
xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương ứng với trình độ nhất định của
lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất, đó là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã
hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử.
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của ơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ
tầng. Trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó hình thành nên những quan điểm về
chính trị, pháp lý, đạo đức, triết học v.v và những thiết chế tương ứng hợp thành
kiến trúc thượng tầng xã hội mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và phát
triển cơ sơ hạ tầng sinh ra nó.
trình lịch sử tự nhiên. Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động phát
triển của các hình thái kinh tế – xã hội thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất có vai trò quyết định nhất. Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản
xuất, là yếu tố bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển lên của xã hội quy định
khuynh hướng phát triển từ thấp. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức
sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển củ lịch sử. Những quan hệ sản
xuất lỗi thời được xoá bỏ và được thay thế bằng những kiểu quan hệ sản xuất mới
cao hơn và hình thái kinh tế – xã hội mới cao hơn ra đời. Như vậy, sự xuất hiện, sự
phát triển của hình thái kinh tế – xã hội, sự chuyển biến từ hình thái đó lên hình thái
cao hơn được giải thích trước hết bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật đó là
khuynh hướng tự tìm đường cho mình trong sự phát triển thay thế các hình thái kinh
tế - xã hội. Nghiên cứu con đường tổng quát của sự phát triển lịch sử được quy
định bởi quy luật chung của sự vận động của nền sản xuất vật chất chúng ta nhìn
thấy logic của lịch sử thế giới.
Vạch ra con đường tổng quát của lịch sử, điều đó không có nghĩa là giải thích
được rõ ràng sự phát triển xã hội trong mỗi thời điểm của quá trình lịch sử. Lịch sử
cụ thể vô cùng phong phú, có hàng loạt những yếu tố làm cho quá trình lịch sử đa
dạng và thường xuyên biến đổi, không thể xem xét quá trình lịch sử như một đường
thẳng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhân tố quyết định quá trình
lịch sử, xét đến cùng là nền sản xuất đời sống hiện thực. Nhưng nhân tố kinh tế
không phải là nhân tố duy nhất quyết định các nhân tố khác nhau của kiến trúc
thượng tầng đều có ảnh hưởng đến quá trình lịch sử. Nếu không tính đến sự tác
động lẫn nhau của các nhân tố đó thì không thấy hàng loạt những sự ngẫu nhiên mà
tính tất yếu kinh tế xuyên qua để tự vạch ra đường đi cho mình. Vì vậy để hiểu lịch
sử cụ thể thì cần thiết phải tính đến tất cả các nhân tố bản chất có tham gia trong
quá trình tác động lẫn nhau đó.
tư tưởng đó. Trong tác phẩm quan trọng này Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ:
“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công
đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái tự do hạnh phúc, bình đẳng thật, chứ
không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc Pháp khoe khoang bên Nam
An” Người khẳng định, chỉ có chủ nghĩa Lênin là chân chính nhất, chắc chắn nhất
và cách mệnh nhất mà chúng ta sẽ đi theo. Từ bước ngoặt năm 1920, khi Nguyễn ái
Quốc trở thành người cộgn sản và cho đến những năm sau này. NGười đều nhất
quán khẳng định, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc chỉ có thể thực hiện được
bằng con đường cách mạng vô sản, bằng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới, xã
hội cộng sản chủ nghĩa.
Khi miền Bắc đã được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục chiến
đầu vì độc lập tự do của Tổ Quốc, tình hình lúc đó đặt ra câu hỏi: Miền Bắc có nên
bước ngay vào thời kỳ quá độ để xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không khi khi mục
tiêu độc lạap dân tộc chưa được giải quyết xong ở miền Nam? Đảng ta khẳng định
là phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ cách mạng: tiếp tục cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Nam và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sự lựa
chọn này đã được thực tiễn xác nhận là hoàn toàn đúng đắn. Không có sự hậu thuẫn
của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cách mạng miền Nam sẽ không có những đảm
bảo vật chất và tinh thần cần thiết cho thắng lợi.
Khi miền Nam đã được giải phóng, đất nước thống nhất, một vấn đề cũng
được đặt ra là miền Nam sẽ cùng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội hay tạm thời
dừng lại một thời gian để phục hồi sau chiến tranh? Có thể nói, sự lựa chọn này là
một thử thách không kém phần phức tạp. Đảng quyết định cả nước cùng đi lên chủ
nghĩa xã hội. Quyết định này đã được thực tiễn xác nhận hoàn toàn đúng đắn.
Vào giữa những năm 80, kinh tế xã hội nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng
trầm trọng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đang chao đảo. Nhưng
cũng chính vào lúc ấy, Đảng ta đã quyết định đường lối đổi mới, chủ trương xây
Như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh.
Như vậy, đi lên xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, và nó được thể hiện
trong công cuộc đổi mới của Đảng ta, đổi mới để xác lập một sự ổn định mới nhằm
làm cho đất nước đạt tới sự phát triển bền vững. Điều đó có ngiã là chúng ta phải
xác định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với sự năng động hơn nữa tichs cực
hơn nữa, và phù hợp hơn nữa với tình hình thế giới hiện đại. Chế độ xã hội chủ
nghĩa mà chúng ta đang xây dựng sẽ là chế độ phát hiện và sử dụng tốt nhất những
nguồn lực của chính mình, trong đó sức mạnh quyết định chính là nguồn lực con
người. Đó là mục tiêu quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội.
2. Những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ
Thời kỳ quá độ là thời kỳ tạo cơ sở vật chất và con người cho chủ nghĩa xã hội
trong quá trình thực hiện này, với điều kiện và hoàn cảnh của Việt nam, đã đặt ra
cho chúng ta những nhiệm vụ sau:
Thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại. Công cuộc này đặt ra những
nhiệm vụ lớn mà chúng ta cần giải quyết: Cụ thể là: tạo ra những điều kiện thiết yếu
về vật chất, kỹ thuật, con người và khoa học công nghệ, huy động mọi người vốn,
nguồn lực lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng bền vững và trên
cơ sở nâng cao mọi mặt của đời sống xã hội. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước cần phải thực hiện ngay một số nội dung cơ bản sau;
+ Tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân
+Dựa trên sự thay đổi về công nghệ chúng ta phải chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế dẫn đến tăng trưởng nhanh và lâu bền.
+ Khuyến khích và đào tạo những tài năng trẻ nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ kỹ
thuật có trình độ cao.
+ Thực hiện chuyển giao công nghệ kết hợp với năng lực sáng tạo của quần
sửa chữa những thất bại của cơ chế thị trường hơn nữa để định hướng cho nó đi theo
con đường XHCN điều tiết vĩ mô nhà nước trong nền kinh tế.
Vai trò và chức năng kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế việt nam hiện
nay. Muốn quản lý nền kinh tế việt nam hiệu quả thì trước hết phải nắm rõ những
quy luật của kinh tế thị trường. Mọi chính sách nhà nước đều phải dựa trên những
chính sách khách quan ấy. Sự quản lý nhà nước Việt Nam cũng có những điểm
giống như nhà nước tư bản đó là: thừa nhận tính độc lập các chủ thể kinh tế để có
quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi; xây dựng hệ
thống thị trường cớ tính cạnh tranh, giá cả chủ yếu do thị trường quyết định. Xây
dựng cơ chế điều tiết vĩ mô của nhà nước nhằm hướng dẫn, giám sát hoạt động của
các chủ thể kinh tế, hạn chế những khuyết tật của thị trường; xây dựng hệ thống
pháp luật nhằm tạo ra khuôn khổ cho nền kinh tế; tôn trọng và thực hiện thông lệ
quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên sự quản lý kinh tế của nhà nước xã hộ chủ nghĩa và sự quản lý
kinh tế của nhà nước tư bản có sự khác nhau rõ rệt. Sự quản lý nhà nước tư sản đối
với nền kinh tế thị trường nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho các tổ chức độc quyền.
Nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo đảng cộng sản quản lý nền kinh tế thị trường
nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo
cho mọi người có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc.
Nhà nước có chức năng kinh tế sau:
Thứ nhất: Nhà nước đảm bảo sự ổn định chính trị kinh tế xã hội và thiết lập
khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Nhà nước phải
tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luật cơ
bản về quyền sử hữu tài sản và hoạt động chính trị.
Thứ hai : Nhà nước định hướng và điều tiết các hoạt động kinh tế nhằm đảm
bảo kinh tế tăng trưởng ổn định. Sử dụng những chính sách tài chính tiền tệ để ổn
định môi trường kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
định hướng XHCN chính sách tiền tệ phải khống chế được lượng tiền phát hành và
tổng quy mô cho tín dụng.
+ Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại nhà nước sử dụng nhiều
công cụ trong đó chủ yếu là thuế xuất nhập khẩu đảm bảo tín dụng xuất khẩu, trợ
cấp xuất khẩu. Thông qua các công cụ đó, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước , nâng
cao khả năng cạnh tranh ở nướ ta. Bảo vệ lợi ích quốc gia trong quan hệ kinh tế
quốc tế.
3. Giải pháp nâng cao vai trò nhà nước
Trên cơ sở phân tích nhà nước đã làm được và chưa làm được trong thời gian
vừa qua.ta có thể đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nước trong
nền kinh tế việt nam.
1-Tiếp tục quá trình và tự do hoá giá cả, thương mại hoá nền kinh tế một
cách triệt hơn.
Khác với thời kì nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu hết giá cả, sản
lượng do nhà nước quy định. Trong thời kì kinh tế thị trường vấn đề chung ta phải
đặt ngược hẳn lại: khuyến khích cạnh tranh, khắc phục tình trạng độc quyền. Trên
thị trường nước ta, giá cả còn diễn biến khá phức tạp. Những năm gần đây, lạm
pháp tăng lằm ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Nhà nước phải có biện pháp hết
sức linh hoạt và phù hợp với thực tiễn.
a-Các biện pháp quản lý giá cả trên thị trường độc quyền.
Thị trường độc quyền nhà nước ta đã thu hẹp nhiều nhưng vẫn còn một số
ngành như điện lực, bưu chính viễn thông Đây là những ngành then chốt trong
nền kinh tế , chỉ nhà nước mới có thể có điều kiện đảm nhận, xây dựng và duy trì
phát triển sự quản ly điều hành tập trung của nhà nước là tất yếu và cần thiết.
Nhà nước quản lý giá cả của những sản phẩm này bằng hình thức sau:
_ Quy định giá chuẩn đối với hành, dịch vụ độc quyền
_ Quy định chính sách cơ chế quản lý cước bưu chínhviễn thông quốc
tế.
_ Đa dạng hoá mô hình tổ chức tín dụng hoạt động đa năng và cạnh trang
theo cơ chế thị trường.
_ Tạo lập môi trường đầu tư chắc chắn.
_ Tạo lập lòng tin dân chúng vào hệ thống tài chính trong nước.
_ Nhà nước phải có quan điểm rõ ràng nhất quán về chế độ sở hữu.
_ Chính sách hạ tầng thông tin liên lạc tốt.
_ Môi trường pháp lý đầy đủ đồng bộ.
_ Chính sách vốn nói chung thị trường vốn nói riêng phải tiến hành đồng bộ
với chính sách khác và thị trường khác.
_ Đào tạo đội ngũ cán bộ đủ trình độ, am hiểu nghiệp vụ trên thị trường vốn.
d- Tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Tự do hoá ngoại thương áp dụng chính sách tự do buôn bán bảo vệ mậu dịch
ôn hào. Quản ly tốt việc nhập khẩu. Tham gia vào các thị trường mới(hiện nay nước
ta đang trong quá trình đàm phán ra nhập WTO)
2- Đa dạng hoá chế độ sở hữu theo xu hướng phat triển doanh nghiệp tư
nhân, đổi mới phương thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cho
phù hợp cơ chế thị trường.
3- Tăng cường khẳ năng kiểm kê kiểm soát của nhà nước đối với sự hoạt
động của doanh nghiệp.
Nhà nước không han chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp nhưng mặt
khác tăng cường công tác kiểm kê kiểm soát đảm bảo môi trường kinh doanh luôn
trong sạch và răng nguồn thu từ thuế cho ngân sách. Nhà nước cần phải:
_ Tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp tự do kinh doanh.
_Thành lập công ty kiểm toán tư nhân và nhà nước đặt dưới sự quản lý và chỉ
đạo nội vụ của bộ tư pháp.
_ Thực hiện chế độ nghiêm ngặt đăng kí hệ thống kế toán.
4- Cải cách bộ máy hành chính, hiện đại hoá nhà nước.
Mà muốn có năng suất lao động cao thì không chỉ dựa vào nông nghiệp, sử
dụng lao động thủ công mà phải phát triển công nghiệp đi lên đổi mới công nghệ
ngày càng hiện đại. Nói cách khác là Nhà nước ta đã tiến hành theo hiện đại hoá.
Đó là bước đi tất yếu của một quốc gia muốn đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu,
nghèo nàn và đó cũng là xu thế chung của lịch sử.
Một lần nữa ta khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế xã hội đưa đất
nước ta vượt qua một chặng đường dài đi lên một xã hội hoàn thiện. Đó là sự đi lên
ngày càng cao của các nước đang phát triển so với các nước phát triển.
Nhận định được những điều nói trên và những bài học kinh nghiệm rút ra từ
thực tế. Việt Nam, Đảng ta đã xác định tư tưởng nhận thức một cách đúng đắn hơn
và đã tạo ra được vai trò của nó trong việc vận dụng hình thái kinh tế xã hội thông
qua các vấn đề sau:
1.Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế mới.
Ngày nay không phải đơn thuần là sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp
mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự đổi mới cơ bản về
hình thái kinh tế và tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Từ đó tạo ra sự cân đối hài
hoà giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc doanh.
Đổi mới cả tư duy suy nghĩ và hành động. Công cuộc đổi mới mà Đảng đã
lựa chọn là đúng đắn, con đường đó là công nghiệp hoá - hiện đại hoá với việc hình
thành và chuyển dịch kinh tế.
* Phương hướng cụ thể.
Giải quyết là chuyển đổi cơ cấu “công - nông nghiệp và dịch vụ” phù hợp
với xu hướng “mở” của nền kinh tế. Vấn đề này được giải quyết tạo nền tảng vững
chắc cho việc phân công lại lao động hợp lý trong các ngành kinh tế và điều chỉnh
hợp lý với cơ cấu đầu tư.
Hướng chuyển dịch đó là giá trị các ngành dịch vụ tăng nhanh, tỉ lệ sản
lượng chiếm phần lớn trong GDP Tỉ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp giảm dần
xuất nông nghiệp. Đây là một địa bàn tập trung đại bộ phận người nghèo. Vì vậy,
phát triển hình thái kinh tế xã hội nông thôn đã đang và sẽ là mối quan tâm hàng
đầu của chúng ta. Song nông nghiệp không thể tự mình thay đổi, đổi mới cơ sở vật
chất kĩ thuật công nghệ không có khả năng tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho nông dân mà phải có tác động mạnh mẽ của công nghiệp, dịch
vụ . Chỉ có như vậy sẽ xoá vỡ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế nông nghiệp
sản xuất nhỏ xoá đói giảm nghèo nâng cao mức thu nhập bình quân.
Phần trên đã cho ta thấy Đảng và Nhà nước ta đã làm được những gì mà thực
tế trong mấy năm chuyển đổi sản xuất nông nghiệp được phát triển rõ rệt. Hơn nữa
theo kinh nghiệm của các nước Châu á - Thái Bình Dương sự phát triển công
nghiệp giai đoạn đầu chủ yếu được đưa vào nền tảng của nông nghiệp. Công nghiệp
hoá phải tạo cơ sở cho công nghiệp nông thôn phát triển.
Nhà nước đã khuyến khích cơ sở công nghiệp nông thôn thu hút công
nghiệp chế tạo và dịch vụ qua phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Chính vì những
bước đó mà việc phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội ở nông thôn là một việc
làm cần thiết trong thời gian trước mắt nhằm đẩy tới một bước công nghiệp hoá -
hiện đại hoá ở nước ta trong những năm tới.
* Chính sách đường lối để phát triển đẩy mạnh hơn nữa nền kinh tế Việt nam
hiện nay
Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp phương hướng hàng chiến lược đó
là thay thế nhập khẩu và có hiệu quả thấp bằng hàng hoá có chất lượng cao để xuất
khẩu. Nhiều người cho rằng đây là hướng sai lầm nhưng thực tế không phải vậy.
Nông nghiệp là ngành sản xuất có đặc trưng là sản phẩm nó cần thiết cho
mọi cuộc sống hàng ngày. Phát triển sản xuất nông nghiệp cung cấp sản phẩm đủ
trong nước rồi mới xuất khẩu là một lẽ đương nhiên những công cụ sản phẩm chỉ
trong nước còn với xã hội là một lẽ đương nhiên bởi ta không thể nhập lương thực
mà lại không sản xuất được ra.
Sau những năm mở cửa, nền kinh tế cùng với những chính sách của Đảng và
Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển. Không như trước kia
ngày nay các thành phần kinh tế từ quốc doanh đến tư nhân phát huy hết tiềm năng
của mình nằm trong nền kinh tế thị trường. Chúng bổ sung cho nhau cạnh tranh
nhau tạo nên một sự phát triển có hiệu quả đẩy nước ta lên một nấc thang cao hơn
của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Kinh nghiệm của chính nước ta đã chứng tỏ Việt nam đòi hỏi phải có sự
tham gia của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Có như vậy chúng
ta mới phát huy được tư tưởng Hồ Chí Minh “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”.
Trong thời gian tới để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy tính
năng động của Người trong công cuộc đổi mới và xây dựng tổ quốc chúng ta cần
tăng cường quản lý chỉ đạo thống nhất quá trình mở cửa, chuẩn bị tốt các chương
trình kế hoạch, dự án hợp tác với bên ngoài. Đồng thời phải quán triệt các quyết
định chủ trương đã đề ra. Đó là vấn đề trọng tâm nhất của chính sách đổi mới mà
Đảng ta đề ra song ta cần phải kết hợp với những chính sách khác như phát triển
công nghiệp trên các địa bàn thuận lợi có điều kiện . Hiện nay, ta đang chủ trương
đầu tư thúc đẩy mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, cơ khí,
điện tử tin học, các ngành nguyên vật liệu.
* Một số vấn đề cần lưu ý
Xã hội luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, do đó ở nước ta khi
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng phải đặt trong quy luật vận động.
Muốn tạo ra những bước chuyển biến tích cực của nền kinh tế nước ta đòi hỏi các
nội dung của hình thái kinh tế cũng như phải thường xuyên thay đổi và bổ sung.
Các nội dung trong hình thái kinh tế phải liên hệ chặt chẽ với nhau và bổ
sung cho nhau. Quan trọng nhất là luôn phải chú ý đến việc xây dựng quan hệ sản
xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
nam cho công nghiệp ta, cho cách mạng nước ta, cho dân tộc, phát triển đổi mới
kinh tế tư duy ở nước ta, đưa nước ta lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Một điều quan trọng nữa là phải khắc phục một số tư tưởng hữu khuynh
không tiến hành cách mạng, tả khuynh chủ quan nóng vội, duy ý chí. Bệnh chủ
quan, duy ý chí là sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa
trước đây, gây tác hại nghiêm trọng với xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Sai lầm ở lối suy nghĩ và hình thức giản đơn nóng vội, chạy theo nguyện
vọng chủ quan thể hiện trong một số chủ trương và chính sách xã hội với hiện thực
khách quan. Để khắc phục chúng ta cần sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, trước hết
là đổi mới tư duy nâng cao nhân lực trí tuệ trình độ lý luận của Đảng. Trong hoạt
động trực tiếp phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới
cơ chế quản lý, đổi mới tổ chức và phương hướng hoạt động của hệ thống chính trị,
chống bảo thủ, trì trệ quan liêu.
Song để làm được tất cả những chính sách đề ra, phải có một Nhà nước
chuyên chính vô sản, một nhà nước thực sự của dân do dân và vì dân.
+ Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là nền tảng chính của mọi quốc gia trên
thế giới vì nó chính là nền tảng kinh tế - xã hội của mọi nước, mà trong đó những
yếu tố để hình thành nên hình thái kinh tế - xã hội bao gồm lực lượng sản xuất ,
quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng, sinh hoạt, văn hoá xã hội là nhân tố
chính của hình thái kinh tế xã hội .
+ Việc sản xuất ra của cải vật chất là tất yếu và cần thiết của mọi dân tộc,
mà muốn sản xuất ra của cải vật chất lại phải có lực lượng sản xuất . Lực lượng
sản xuất là nhân tố chính của sản xuất vật chất và biểu hiện quan hệ giữa người với
người trong giới tự nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của loài người của năng lực thực tiễn của con người. Lực lượng sản
xuất làm ra tư liệu sản xuất cho xã hội, từ lực lượng sản xuất này sẽ nảy sinh ra
quan hệ sản xuất là quan lệ giữa người và người trong quá trình sản xuất, và cũng
của nước ta sẽ phát triển, nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế của nước ta đi lên. Muốn vậy
nước ta phải thực hiện tốt đườnglối đổi mới toàn diện mà Đảng đã đề ra.
Kết luận
Tóm lại hình thái kinh tế – xã hội là một trong những thành tựu khoa học mà
Phần I Nội dung 2
I
Khái niệm
2
1
Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành hình thái
kinh tế- xã hội
2
2
Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình
lịch sử tự nhiên
3
II
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế- xã hội và điều kiện ở
Việt Nam hiện nay
5
1
Vấn đề tất yếu khách quan của con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội của Việt Nam
5
2
Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ 8