Tài liệu Tiểu luận luật kinh doanh - Pdf 10

A. Phần mở đầu:
B. Phần nội dung:
Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về công ty cổ phần:
1.1. Khái niệm công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty
được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là
cồ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ
phần mà họ sở hữu.
1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
Thành viên của công ty: công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất ba cổ
đông sáng lập. Trong suốt quá trình tồn tại và họạt động , công ty không được có ít
hơn ba cổ đông. Số lượng cổ đông tối đa không bị hạn chế. Công ty cổ phần là loại
công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, nên có sự liên kết của nhiều cổ đông và vì
vậy, việc quy định số lượng cổ đông tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế
trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần. Pháp luật doanh nghiệp của hầu
hết các nước trên thế giới đều có quy định số lượng cổ đông tối thiểu của công ty
cổ phần.
Vốn điều lệ của công ty: được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Vốn
điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời
hạn nhất định và được ghi vài điều lệ công ty. Việc góp vốn vào công ty được thực
hiên bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Tài sản góp
vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng
đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi
trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn của công ty.
Vốn góp của các thành viên trong công ty: phần vốn góp (cổ phần) của các cổ
đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là
một loại hàng hóa. Cổ phiếu có thể được tự do chuyển nhượng trên thị trường
chứng khoán theo quy định của pháp luật.
Chế độ trách nhiệm: công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của

đãi. Nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông (theo quyết định
của đại hội đồng cổ đông).
Cổ phần là căn cứ pháp lý chứng minh tư cách thành viên công ty bất kể họ có
tham gia thành lập công ty hay không. Từ cổ phần phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các thành viên. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó có các
quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi
tên hoặc không ghi tên. Luật công ty một số nước quy định mệnh giá tối thiểu của
một cổ phiếu (giá trị các cổ phần được phản ảnh trong cổ phiếu) và nguyên tắc làm
tròn số. Luật doanh nghiệp của Việt Nam không có quy định này nhưng người ta
thường phát hành các cổ phiếu có mệnh giá tương đương để dễ dàng so sánh trên
thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu là giấy tờ có giá trị chứng minh tư cách chủ sở hữu cổ phần và đồng
thời là tư cách thành viên công ty của người có cổ phần. Cổ phiếu có thể được mua
bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá
trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác, quy định tại
điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần.
Tổ chức của công ty cổ phần: công ty cổ phần là loại công ty thông thường có rất
nhiều thành viên và việc tổ chức quản lý rất phức tạp, do đó cần phải có một cơ
chế quản lý chặt chẽ. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần gồm có: Đại hội
đồng cổ đông, hộiđồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc). Đối với công ty cổ
phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng
số cổ phần của công ty phải có ban kiểm soát.
Vốn và chế độ tài chính:
- Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn nên các quy định
về vốn và chế độ tài chính có ý nghĩa rất quan trọng.
- Khi thành lập, công ty phải có vốn điều lệ. Vốn điều lệ của công ty trong
một số ngành nghề nhất định không được thấp hơn vốn pháp định. Vốn điều
lệ của công ty phải thể hiện một phần dưới dạng cổ phần phổ thông hoặc có

phần được mua lại, công ty vẫn đảm bảo thanh tóa đủ các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác.
- Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu
theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh.
- Việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông của công ty cổ phần chỉ được tiến
hảnh khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các
nghĩa vụ tổ chức khác theo quy định của pháp luật và ngay khi trả hết số cổ
tức đã định, công ty vẫn phải thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vũ tài
sản khác đến hẹn phải trả.
Công ty cổ phần là loại doanh nghiệp có chế độ tài chính rất phức tạp, nó đòi
hỏi một chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê chặt chẽ và thích hợp để bảo vệ
quyền lợi của các chủ thể liên quan.

1.3. Điều kiện hình thành công ty cổ phần:

a. Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn:
Công ty cổ phần là công ty có nhiều người đứng sở hữu. Nếu công ty chỉ
thuộc một chủ sở hữu thì dù chủ sở hữu đó là một cá nhân hay một tổ
chức thì đó không phải là công ty cổ phần mà thuộc một loại hình công ty
khác có thể là công ty tư nhân, công ty TNHH một thành viên hay công
ty liên doanh( nếu chủ sở hữu là Nhà nước).
b. Những người có vốn muốn tham gia đầu tư để kinh doanh thu lợi nhuận:
Đây là hình thức đầu tư mạo hiểm nhất so với các hình thức đầu tư khác
như mua công trái, trái phiếu, gửi ngân hàng…Trong kinh doanh có khả
năng bị phá sản nhưng bù lại là hình thức đầu tư có hứa hẹn nhất và
không bị lạm phát với món tiền lớn.
c. Lợi nhuận thu được phải có đủ sức hất dẫn người có vốn tham gia kinh
doanh:
Nếu lợi nhuận trong kinh doanh mang lại lớn hơn lợi tức ngân hàng hoặc
lợi tức do đầu tư vào các lĩnh vực khác và lớn hơn đủ mức cần thiết thì

hoàn toàn mất khả năng chi phối việc sử dụng vốn, không được hưởng những may
mắn đồn vốn đó. Khi mua cổ phiếu, tuy phải chịu rủi ro ở mức độ nhất định nhưng
được hưởng may mắn mà lúc nào có trong thương trường. Hơn nữa các cổ đông lai
có quyền lực trong Đại Hội cổ đông và khi điều kiện cùng khả năng cho phép họ
có thể được bầu vào các cơ quan lãnh đạo của công ty. Do dó việc mua cổ phiếu
hấp dẫn hơn.
Ngoài ra công ty cổ phần còn là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ
đầu tư nước ngoài. Nước ta hiện nay đang cần thiết vốn đầu tư nước ngoài cho sự
phát triển kinh tế,hình thức liên doanh góp vốn cổ phần với nước ngoài sẽ giúp
doanh nghiệp Việt Nam có đủ sức mạnh về mọi mặt vốn , tiềm lực vật chất kĩ
thuật,năng lực quản lí.
Hệ thống DNNN ở nước ta hiện nay đang hoạt động kém hiệu quả một phần
không xác định ai là chủ sở hữu đích thực. Đây là nguyên nhân gây ra sự lãnh đạm,
thiếu trách nhiệm,thiếu kĩ cương, kỉ luật của người lao động,sự giảm sút về năng
suất, chất lượng,và hiệu quả, thiếu minh bạch trong phân phối thu nhập.Còn trong
công ty cổ phần chủ sở hữu và quyền được sử dụng được xác định rõ rang nên cơ
chế phân phối lợi ích được giải quyết thỏa đáng.lợi ích của người lao động và
người có vốn gắng liền với kết quả sản xuất kinh doanh của công ty nên trở thành
động lực bên trong thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công
ty
Hiện nay quá trình cổ phần hóa ở nước ta đang dược triến khai khá mạnh
mẽ.Việc hình thành công ty cổ phần thông qua cổ phần hóa góp phần nâng cao vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước bởi chỉ có nâng cao dược hiệu quả của các doanh
nghiệp nhà nước vói hình thức tham dự cổ phần của mình có thể nhanh chóng can
thiệp nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế thúc đẩy sự phát triển và điều tiết thị trường 1
cách có hiệu quả
Công ty cổ phần ra đời còn góp phần thúc đẩy sự ra đòi và phát triển thị
trường chứng khoáng ở Việt Nam.Tháng 7 năm 1998 đã đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong quá trình hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam.Đồng
thời với việc ban hành nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoáng và thị trường


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status