BÁO CÁO PHÂN TÍCH
NGÀNH DẦU KHÍ Hà nội, ngày 02 tháng 07 năm 2012
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 1
Mục lục
I - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH 2
1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển ngành dầu khí 2
2. Đặc trưng ngành dầu khí 3
3. Vị trí của dầu khí trong ngành năng lượng 3
4. Vai trò ngành dầu khí đối với kinh tế Việt Nam 4
a. Vị trí ngành dầu khí Việt Nam trong xuất khẩu 4
b. Đóng góp ngành dầu khí cho ngân sách Nhà nước 4
II - ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN CUNG CẦU NGÀNH DẦU KHÍ 5
1. Nhu cầu sử dụng 5
2. Khả năng cung cấp 5
3. Sản lượng khai thác và trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam 5
III - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM 6
1. Phụ thuộc giá dầu thế giới 6
2. Nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển 6
3. Công nghệ còn lạc hậu và đang dần được nâng cấp 7
4. Tác động của chính sách tới ngành 7
IV- PHÂN TÍCH SWOT NGÀNH 8
V - TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN NGÀNH 8
lai, ngành vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước.
1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển ngành dầu khí
1
- Việt Nam bắt đầu tiến hành khảo sát, tìm kiếm thăm dò dầu khí từ năm 1945.
- Năm 1969, Liên đoàn Địa chất 36, tiền thân là Đoàn Địa chất 36, có nhiệm vụ xây dựng, quy hoạch, kế
hoạch nghiên cứu tìm kiếm và thăm dò dầu mỏ và khí đốt ở trong nước.
- Năm 1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập trên cơ sở Liên đoàn địa chất 36 và
một bộ phận thuộc Tổng cục Hoá chất.
- Năm 1976, phát hiện dòng khí thiên nhiên đầu tiên ở huyện Tiền Hải - Thái Bình
- Năm 1981, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro) được thành lập.
- Năm 1984, hạ thuỷ chân đế giàn khoan dầu khí đầu tiên của Việt Nam (MSP-1) tại mỏ Bạch Hổ
- Ngày 26/6/1986 Việt Nam đã có tên trong danh sách các nước khai thác và xuất khẩu dầu thô thế giới.
- Tháng 4/1990 - Tổng cục Dầu khí Việt Nam được sáp nhập vào Bộ Công nghiệp nặng.
- Tháng 6/1990 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam được tổ chức lại trên cơ sở các đơn vị cũ của Tổng cục
Dầu khí Việt Nam.
- Tháng 5/1992 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ và trở thành Tổng
công ty Dầu khí quốc gia với tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam.
- Năm 1993, Luật Dầu khí được ban hành.
- Ngày 29/5/1995, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Nhà nước với tên giao dịch
quốc tế là Petrovietnam.
- Cuối năm 2005, nhà máy Lọc dầu Dung Quất được khởi công xây dựng với vốn đầu tư là 2,5 tỉ USD.
- Tháng 8/2006, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
quyết định là Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tên giao dịch quốc tế là VIETNAM OIL AND
GAS GROUP; gọi tắt là Petrovietnam, viết tắt là PVN.
- Tháng 7/2010, chuyển tư cách pháp nhân của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành Công ty TNHH một
thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. 1
chiếm 24%, và than chiếm khoảng 26%. Như vậy, dầu
khí chiếm tới 64% tổng năng lượng đang sử dụng của
toàn thế giới.
Dầu khí là nguồn tài nguyên có hạn và theo dự kiến sẽ
chỉ còn có thể khai thác trong vòng khoảng 60 năm. Chính vì vậy, các lĩnh vực năng lượng khác đang được
ráo riết nghiên cứu và đưa vào khai thác sử dụng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bởi giá thành đầu
tư cao. Nguồn năng lượng than được cho rằng có thể còn khai thác được trong 230 năm nữa nhưng do
lượng khí CO
2
thải ra quá lớn và làm tăng nhiệt độ trái đất lên nhanh chóng. Năng lượng từ mặt trời, sức
gió và sóng biển hiện nay chỉ cung cấp được 10% trong tổng số năng lượng cần thiết do giá thành cao và
cần một diện tích lớn nên chưa đem lại hiệu quả. Chỉ có năng lượng hạt nhân (Uranium) là nguồn năng
lượng sạch hơn, sử dụng lâu dài và sẽ là nguồn năng lượng thay thế tốt nhất trong tương lai. Tuy nhiên,
nguồn năng lượng này vẫn đang là vấn đề tranh cãi khá căng thẳng trên thế giới vì mức độc hại của chất
thải gây ra với đời sống một khi bị rò rỉ ra ngoài. 2
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 4
4. Vai trò ngành dầu khí đối với kinh tế Việt Nam
Ngành dầu khí đóng góp nhiều ngoại tệ nhất cho quốc gia với các sản phẩm phục vụ nền kinh tế quốc dân
là sản phẩm điện khí, xăng dầu, khí nén cao áp và năng lượng sạch. Trong giai đoạn 2006-2010. PVN đã
cung cấp gần 35 tỷ m
3
khí khô cho sản xuất, 40% sản lượng điện của toàn quốc, 35-40% nhu cầu Ure và
cung cấp 70% nhu cầu khí hóa lỏng cho phát triển công nghiệp và tiêu dùng dân sinh trong cả nước.
của toàn tập đoàn đạt 675.3 nghìn tỷ; lợi nhuận trước
thuế đạt 89,4 nghìn tỷ, nộp ngân sách 160,8 nghìn tỷ.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 5
II - ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN CUNG CẦU NGÀNH DẦU KHÍ
1. Nhu cầu sử dụng
3
Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng, không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do
sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của ngành giao thông
do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều… Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằng
nguồn năng lượng khác. Theo Viện phân tích An ninh Năng lượng toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu
sẽ tăng khoảng 60% trong năm 2020 so với hiện nay. Theo Tổ chức quản trị thông tin năng lượng (Business
Monitori Intemational), nhu cầu tiêu thụ dầu lỏng của thế giới tăng lên khoảng 107 triệu thùng/ngày trong
năm 2030, ở Việt Nam mức tiêu thụ dầu sẽ tăng và đạt mức 460.000 thùng/ngày vào năm 2014.
2. Khả năng cung cấp
Ngành dầu mỏ của Việt Nam chỉ mới đi vào khai thác nên vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong
nước. Hiện nay, nước ta chủ yếu vẫn là khai thác để xuất khẩu dầu thô, nhập khẩu dầu tinh phục vụ cho nhu
cầu nội địa. Một số nhà máy lọc dầu đã đi vào hoạt động như nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy lọc dầu
Nghi Sơn … nhưng mới chỉ cung cấp được khoảng 30% nhu cầu nội địa.
3. Sản lượng khai thác và trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam
4
Sản lượng dầu khí Việt Nam từ
năm 2001-2005 có sự tăng trưởng
khá cao và đều. Tuy nhiên, giai
đoạn 2006-2008, Petrovietnam
sản lượng sụt giảm hẳn là do diễn
tỷ thùng vào cuối năm 2009. Mặc dù các con số về trữ lượng chỉ mang tính chất tương đối nhưng cũng cho
thấy trữ lượng dầu khí Việt Nam vẫn còn nhiều và là cơ sở để ngành tiếp tục phát triển lâu dài.
III - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM
1. Phụ thuộc giá dầu thế giới
Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, giá
dầu thô giảm mạnh về dưới 40 USD/ thùng
trong năm 2009. Kinh tế phục hồi là cơ sở
để giá dầu thô liên tiếp tăng và lấy lại mốc
hơn 110 USD/thùng trong 2 năm sau đó.
Từ đó đến nay, giá dầu biến động khá phức
tạp do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng nợ
công Châu Âu và các cuộc chiến liên quan
đến dầu mỏ. Nhiều khả năng giá dầu sẽ
tăng trở lại trong các năm tới cùng với sự
phục hồi kinh tế thế giới. Việt Nam chỉ là
nước xuất khẩu dầu ở mức nhỏ nên doanh
thu và lợi nhuận của nước ta phụ thuộc lớn
và sự biến động giá dầu thế giới.
2. Nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
PVN có hơn 60.000 lao động đến cuối năm 2011 gồm 8,16% lao động quản lý, 41,99% lao động chuyên
môn kỹ thuật nghiệp vụ, 49,85% lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh. Tập đoàn đã tổ chức đào tạo
chuyên sâu và nâng cao cho 3.314 lượt người (Công ty Mẹ) và hơn 67 nghìn lượt người (33 đơn vị trực
thuộc Tập đoàn). Ngoài ra, trường Đại học Dầu khí Việt Nam được thành lập năm 2010 nhằm cung cấp
nhân lực cho 4 chuyên ngành: Địa chất dầu khí, Địa vật lý dầu khí, Khoan khai thác, Lọc hóa dầu. Thực tế
làm việc cho thấy, đội ngũ nhân lực vận hành và bảo dưỡng ngày càng trưởng thành, đã dần thạo nghề và
tiến tới thay thế hoàn toàn chuyên gia nước ngoài như ở nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Liên doanh Việt –
Nga (Vietsovpetro)… Tuy nhiên, so với ngành Dầu khí ở các nước phát triển thường có tỷ lệ người lao
động qua đào tạo đạt 100%, số lượng lao động trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học đạt từ 72% trở lên thì
ở Việt Nam con số này còn tương đối thấp, chỉ mới đạt 53%.
chú ý của các công ty dầu khí lớn trên thế giới đến hợp tác thăm dò khai thác. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ
trợ ngành xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất song song với việc hỗ trợ Tập đoàn hợp tác tìm kiếm, khai
thác dầu thô từ nước ngoài.
Sự hội nhập WTO
6
: Việt Nam gia nhập WTO giúp ngành dầu khí Việt Nam có thể vươn ra thị trường thế
giới, học hỏi kinh nghiệm, cải thiện công nghệ, Tuy nhiên gia nhập WTO cũng gây một số khó khăn cho
ngành như Việt Nam không thể đặt ra hạn ngạch, hay áp dụng thuế để ngăn cản xuất dầu thô ra bên ngoài,
nhằm phục vụ các nhà máy lọc dầu trong nước. Ngoài ra theo thỏa thuận TRIMS
7
, Việt Nam cũng không
thể yêu cầu bằng luật định các nhà máy lọc dầu trong nước phải mua dầu thô từ các công ty dầu mỏ trong
nước, cũng như luật định hạn chế việc mua dầu từ nước ngoài của các công ty lọc dầu Việt Nam.
Tình trạng độc quyền: Ngành năng lượng nói chung và ngành dầu khí nói riêng có tác động rất lớn đến nền
kinh tế đất nước và an ninh quốc gia nên vẫn nằm trong sự kiểm soát và trực tiếp quản lý của Nhà nước.
Điều này cũng gây ra tâm lý ỷ lại, thiếu cạnh tranh công bằng làm giảm hiệu quả và gây lãng phí, Trong
thời gian tới mức độ cạnh tranh ngày càng gây gắt hơn với sự tham gia của các tổ chức Quốc tế, tình trạng
hưởng lợi từ thế độc quyền cũng sẽ giảm dần. 6
Tổ chức Thương mại Thế giới
7
Hiệp định biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 8
IV- PHÂN TÍCH SWOT NGÀNH
Điểm Mạnh
năng lượng từ mặt trời, sức gió, sóng biển …
đòi hỏi đầu tư cao trong khi hiệu quả thấp;
nguồn năng lượng hạt nhân rất hiệu quả nhưng
lại đang có sự phản đối khá quyết liệt vì hậu quả
độc hải của chất thải phóng xạ.
- Trữ lượng dầu mỏ đang giảm xuống do tốc độ
khai thác cao hơn so với tốc độ thăm dò.
- Việc mở rộng thăm dò khai thác ra vùng biển
sâu sẽ rất tốn kém, rủi ro và đang bị tranh chấp
mạnh từ phía Trung Quốc.
- Việc mở rộng sang các lĩnh vực khác chịu sự
cạnh tranh lớn do các tập đoàn và công ty khác
đã có kinh nghiệm lâu năm hơn.
- Tái cấu trúc Tập đoàn dầu khí sẽ có ảnh hưởng
nhất định đến từng doanh nghiệp trong ngành.
V - TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN NGÀNH
Theo OPEC
8
nhu cầu sử dụng nguồn nhiên liệu dầu khí ngày càng tăng nhanh, đặc biệt là các quốc gia đang
phát triển, và đến năm 2025, nguồn cung sẽ không đáp ứng kịp nhu cầu. Trong khi đó, trữ lượng dầu mỏ có
hạn, không thể tái tạo và chưa thể thay thế bằng nguồn nguyên liệu khác, các mỏ lại phân bố không đều gây
khó khăn cho quá trình tìm kiếm.
Ngành dầu khí trong nước đang phát triển từng bước vững chắc. Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ tiến hành
mở rộng quy mô nâng công suất lên 9,5 triệu tấn/ ngày và ứng dụng công nghệ hóa dầu đầu tiên ở Việt
Nam đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước. Khả năng khai thác được nâng cấp, kể từ năm 2010,
PVN đã có những mỏ được khai thác ở mức sâu hơn 200m so với mực nước biển. Ngoài ra, Việt Nam còn
liên doanh khai thác dầu khí ở các quốc gia khác như Cuba, Venezela, Malaysia, Iran,
Created with AmiBroker - adv anced charting and technical analy sis software.
M2009 M A M J J A S O N D 2010 M A M J J A S O N D 2011 M A M J J A S O N D 2012 M A M J
05.dvdaukhi - Volume() = 153,500.00
84.8658
848,830
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 10
VI - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MỘT SỐ CÔNG TY NIÊM YẾT
Nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, PVN đã thiết lập hệ thống công ty con, công ty liên kết bao
trùm và khép kín toàn bộ các hoạt động của tập đoàn từ khâu thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng
trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu.
Tuy vậy, các doanh nghiệp thuộc ngành đang niêm yết chỉ mới cung cấp dịch vụ chứ chưa khai thác trực
tiếp, nên sự tác động của giá dầu mỏ có độ trễ nhất định. Các doanh nghiệp cung cấp giàn khoan sẽ có độ
trễ khoảng 6 tháng, trong khi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phụ trợ cho giàn khoan sẽ chịu tác động
chậm hơn, khoảng một năm.
Trong phạm vi Báo cáo này chỉ đề cập đến một số mã chứng khoán nổi bật trong 2 lĩnh vực chính của
ngành dầu khí là ngành Thiết bị và dịch vụ dầu khí, và ngành Phân phối xăng dầu khí đốt.
Chỉ số tài chính cơ bản các cổ phiếu dầu khí niêm yết và kết quả kinh doanh Quý 1/2012
10
Mã
EPS
BV
P/E
P/B
LNST/
DT %
9.5
13%
PVS
3919
20680
3.9
0.7
5.5
21.3
5.0
1.21
24831
2978
6159
5342
1.7
0%
PVC
2445
18052
6.4
0.9
5.2
14.9
6.1
1.99
1573
350
632
738
27.1
23%
PGD
6841
22759
4.8
1.4
8.1
33.4
19.3
1.83
1792
429
976
1028
98.3
76%
SFC
2494
16218
8.4
1.3
1.4
15.2
11.3
2.36
238
103
166
450
29.6
39%
PCG
92
11122
54.2
0.5
0.3
0.8
0.5
2.86
308
189
210
191
-3.9
-8%
PVG
1551
15477
8.3
0.8
1.0
10.3
2.8
1.24
1650
277
429
1373
-0.5
-4%
GAS
3120
12391
12.1
3.1
10
26
13.9
1.86
52253
18950
25758
18447
2393.7
45% 10
Tất cả dữ liệu trong Chương mục VI được lấy từ Báo cáo tài chính của các công ty và được ABS tổng hợp lại
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 11
A - Ngành Thiết bị và dịch vụ dầu khí
1. PVD - Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling)
Thông tin chung
PVD được thành lập từ năm 1994 và cổ phần hóa và niêm yết trên sàn HOSE trong năm 2006. PVD là nhà
giảm 50% thuế TNDN đến hết năm 2013. Tuy vậy,
khoản vay nợ khá lớn để đầu tư vào các giàn khoan
khiến khả năng thanh toán của PVD khá kém.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 12
2. PVS - Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí
Thông tin chung
Tiền thân là Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí thành lập năm 1993 và được cổ phần hóa năm 2006. Năm
2007, PVS được niêm yết trên sàn HNX. Lĩnh vực hoạt động chính gồm các dịch vụ về tàu thuyền, cung
ứng vật tư thiết bị, kinh doanh nhiên liệu, cơ khí chế tạo và đóng mới các công trình dầu khí.
Tiềm năng tăng trưởng
PVS sở hữu và thuê ngoài đội tàu gần 60 chiếc tàu chuyên dụng phục vụ hoạt động thăm dò và khai thác
dầu khí tại Việt Nam. Ngoài ra, PVS còn cung cấp các hệ thống dịch vụ đi kèm (cảng, kho bãi, vật tư thiết
bị, lao động) nên đã giúp PVS chiếm được 90% thị phần cả nước.
PVS cung cấp dịch vụ độc quyền trong nước như dịch vụ cung cấp tàu thăm dò địa chất 2D, 3D nhằm cung
cấp dịch vụ khảo sát địa chất công trình, khảo sát sửa chữa công trình ngầm, cung cấp dịch vụ đấu nối công
trình trên biển, vận hành công trình dầu khí…; dịch vụ tàu chuyên dụng, cung cấp tàu khảo sát địa chấn,
cung cấp nhân lực vận hành, khai thác dầu khí, cung cấp tàu FSO/FPSO, cơ khí chế tạo,…
PVS cũng đã trúng thầu nhiều công trình xây lắp và cơ khí lớn như dự án chế tạo giàn khai thác Chim Sáo,
EPC Topaz, EPC nhà máy điện Long Phú 1, EPC nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Dung Quất,
PVS thường cho thuê tàu dài hạn từ 5-15 năm, đặc biệt các tầu FSO/FPSO được thuê đến hết thời gian khấu
hao của tàu. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho PVS thu hồi vốn đầu tư trong thời gian ngắn và giảm áp
lực về khấu hao trong dài hạn.
Hoạt động kinh doanh
Dịch vụ tàu thuyền – là lĩnh vực kinh doanh chính
của PVS - chiếm 35% tổng doanh thu, dịch vụ cung
ứng vật tư thiết bị chiếm 28%, dịch vụ kinh doanh
nhiên liệu chiếm 10%, dịch vụ cơ khí chế tạo và
các dự án gồm: Đường ống Phú Mỹ - TP.HCM, đường ống dẫn khí PM 3 - Cà Mau, Tổ hợp Khí - Điện
đạm Cà Mau, đường ống khí ngoài khơi Rạng Đông - Bạch Hổ; Trong lĩnh vực hoạt động xây lắp công
trình, các dự án gồm: Nhà máy Khí hóa lỏng Đồng Nai, Nhà máy xử lý khí hóa lỏng Dinh Cố GPP, các đầu
mối khí LPG Hải Phòng, Trạm nạp LPG Hà Nội, Trạm nén Dinh Cố, Dự án Nam Côn Sơn Condensate,
Nhà máy đạm Phú Mỹ. Ngoài ra, Công ty cũng tham gia bảo dưỡng các công trình dầu khí như sửa chữa
giàn khoan cố định Vietsovpetro.
Hoạt động kinh doanh
Bất chấp những khó khăn do ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, PVE vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và lợi
nhuận qua các năm, bình quân tăng trưởng lần lượt là
52% và gần 90%. Đặc biệt tăng mạnh trong năm
2011.
Bên cạnh mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ấn
tượng, khả năng sinh lời của PVE cũng khá cao và
tăng đều qua các năm.
Do đặc thù của lĩnh vực hoạt động là cung cấp các
dịch vụ tư vấn nên PVE không cần nhiều vốn cho
các hoạt động của mình. Chính vì vậy, PVE có tình
trạng tài chính lành mạnh, các hệ số thanh toản luôn
được đảm bảo ở mức cao do chính sách hạn chế vay
nợ. Điều này giúp Công ty giảm thiểu rủi ro với biến
động lãi suất bất thường đang diễn ra, đồng thời
giảm chi phí trả lãi và vốn vay.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 14
4. PVC – Tổng Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí
Thông tin chung
và đem lại khoản lợi nhuận lớn. Và từ đó đến nay
liên tục báo lãi với mức tăng trưởng cao. Tuy vậy, chi phí quản lý doanh nghiệp cao cũng làm giảm phần
lớn lợi nhuận thu về, trung bình chiếm 10% doanh thu. Mặc dù, hoạt động kinh doanh của PVC kém ổn
định, mức sinh lời không cao và đang có xu hướng giảm dần, nhưng công ty lại có khả năng tài chính lành
mạnh, khả năng thanh toàn luôn ở mức an toàn đảm bảo cho công ty hoạt động lâu dài.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 15
B - Ngành kinh doanh dầu khí
1. GAS – Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV Gas)
Thông tin chung
Tiền thân là Ban quản lý Công trình Dầu khí Vũng Tàu được thành lập năm 1990 và cổ phần hóa và trở
thành Tổng công ty vào năm 2011. Niêm yết trên sàn HOSE trong năm 2012. Cổ đông chính và lớn nhất
của GAS là Tập đoàn Dầu khí Việt nam, chiếm 96.7%.
Hai mảng hoạt động kinh doanh chính của công ty là: sản xuất, mua bán khí và các sản phẩm khí (khí khô,
LPG, Condensate); và dịch vụ vận chuyển khí.
Tiềm năng tăng trưởng
Nhu cầu sản xuất điện bằng khí khô đang tăng mạnh do nguồn điện trong nước từ không đủ đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng. Trong khi đó, GAS là nhà cung cấp khí khô duy nhất và cũng chỉ mới đáp ứng được hơn
80% nhu cầu này sản xuất ra 45% sản lượng điện và 80% sản lượng đạm cho cả nước. Bên cạnh khí khô,
GAS là nhà cung cấp khí hóa lỏng (LPG) lớn, chiếm 45% thị phần cả nước.
GAS hiện đang khai thác 3 bể khí là Bể Cửu Long, Bể Nam Côn Sơn (qua Nhà máy xử lý khí Dinh Cố) và
bể Malay – Thổ Chu và vận hành 3 hệ thống đường ống dẫn khí tại Việt Nam bao gồm đường ống Bạch
Hổ, Nam Côn Sơn, PM3-Cà Mau với tổng công suất khoảng 11 tỷ m3/năm.
Ngoài ba mặt hàng sản phẩm chính của công ty là khí khô, khí hóa lỏng (LPG), và khí ngưng tụ
(Condensate) GAS cũng đang phát triển thêm sản phẩm mới là LNG bằng việc đầu tư kho cảng dự kiến
hoàn tất vào năm 2015, và sản phẩm khí nén tự nhiên CNG.
PGS có hệ thống các đơn vị thành viên rất khăng khít trong toàn bộ dây chuyền thu gom, vận chuyển, tàng
trữ, chế biến, kinh doanh khí và các sản phẩm khí, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho tổng công ty.
Hoạt động kinh doanh
Với hệ thống các đơn vị thành viên hoạt động khăng khít
các lĩnh vực trọng yếu của Tổng công ty. GAS có kết quả
kinh doanh rất ấn tượng kể cả trong giai đoạn khủng
hoảng kinh tế vừa qua. Doanh thu tăng trưởng cao trong
năm 2010, 2011 lần lượt là 58% và 34%. Lợi nhuận cũng
tăng mạnh theo trong 2 năm này lần lượt là 49% và 30%.
Biên lợi nhuận cũng được duy trì quanh 10% qua các
năm. Tuy vậy, do GAS liên tục tăng vốn trong các năm
trước khi lên sàn niêm yết nên các hệ số sinh lời ROE,
ROA và thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS giảm khá mạnh.
Khả năng thanh toán của GAS được đảm bảo vững vàng
qua các năm với cơ cấu nguồn vốn hợp lý, an toàn.
2. PGS – Công ty Cổ phần Khí hóa lỏng Miền Nam
Thông tin chung
PGS có tiền thân là Xí nghiệp Kinh doanh các sản phẩm Khí miền Nam thành lập năm 2000. Cổ phần hóa
cuối năm 2006 và được niêm yết tại sàn HASTC năm 2007.
Lĩnh vực hoạt động chính của PGS là cung cấp các sản phẩm gas, xăng dầu, nhớt Trong đó, sản phẩm
bình gas công nghiệp (45 kg) và gas dân dụng (12 kg), khí CNG là thế mạnh cạnh tranh của công ty
Tiềm năng tăng trưởng
PGS và công ty con CNG đang là các đơn vị phân phối khí CNG duy nhất ở Việt Nam. Nguồn khí này có
tiềm năng tăng trưởng lớn trong tương lai bởi tính thân thiện với môi trường, tiết kiệm nhiên liệu, giá thành
thấp (bằng 30%) so với các nhiên liệu khác, và an toàn hơn cho người sử dụng. Ngoài ra, kinh doanh khí
CNG cho tỷ suất lợi nhuận cao nhờ chi phí vận chuyển thấp, mức tăng chi phí chậm hơn mức tăng giá bán
ra (giá đầu vào ký 1 năm trong khi giá ra thay đổi theo tháng), nhu cầu đang tăng với 2 khách hàng chính là
POM và thép Kim Nam.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 17
đã được cải thiện rất nhiều sau khi Công ty tăng vốn điều lệ lên 380 tỷ đồng. Ngoài ra, PGS được ưu đãi trả
chậm 90 ngày tiền mua khí trong khi tiền bán ra được thu hồi trong thời gian ngắn hơn. Ngoài ra, công ty
có những khoản vay từ PVN với lãi suất rất thấp, 8.4%/năm, trong thời hạn 5 năm. Chính vì vậy, tính thanh
khoản của PGS vẫn đang ở mức an toàn cho hoạt động của công ty. Bên cạnh đó, vòng quay hàng tồn kho
khá cao giúp PGS có thuận lợi lớn trong quản lý dòng tiền luân chuyển phục vụ hoạt động kinh doanh.
3. CNG – Công ty Cổ phần CNG
Năm 2007, CNG được thành lập bởi các cổ đông là PGS, PVC, PGD, Habu Bank, IEV Energy (Malaysia),
Sơn Anh… CNG chuyên sản xuất, vận chuyển, phân phối khí nén thiên nhiên (CNG) để cung cấp cho các
nhà máy có sử dụng nhiệt năng trong quá trình sản xuất, chế biến; phục vụ cho các khu chung cư và được
sử dụng như là nhiên liệu thay thế xăng dầu trong ngành giao thông vận tải.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 18
Tiềm năng tăng trưởng
Hiện tại, CNG và PGS là 2 doanh nghiệp sản xuất và phân phối khí thiên nhiên nén CNG cho các khu công
nghiệp chính tại Việt Nam.
Công ty đang triển khai 1 loạt các dự án mở rộng phạm vi cung cấp khí CNG tại Đông Nam Bộ và Miền
Bắc. Bên cạnh đó, sự ổn định của nguồn cung nguyên liệu và chỉ phải nộp thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp thấp 10% từ 2012 – 2016 có thể giúp CNG duy trì được kết quả kinh doanh tốt và tiếp tục đầu tư mở
rộng năng lực sản xuất.
Tuy nhiên, giá khí đầu vào do GAS bán sẽ gia tăng do GAS sắp phải nhập khẩu khí (dự kiến từ năm 2014).
Các dự án đầu tư cần nhiều vốn vay làm gia tăng áp lực chi trả lãi vay. Ngoài ra, CNG áp dụng phương
pháp khấu hao nhanh tài sản cố định nên có thể sẽ kéo theo gia tăng nhanh chi phí và giảm lợi nhuận.
Hiện tại, công ty có 1 nhà máy duy nhất sản xuất khí CNG đặt tại KCN Phú Mỹ - Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nhà máy gồm 1 trạm nén công nghệ 200 bars, công suất 5,400Sm3/h (30 triệu Sm3/năm) hoạt động ổn định
từ 03/09/2008 và 1 trạm nén công nghệ 250 bars, công suất 7,500Sm3/h (40 triệu Sm3/năm) hoạt động từ
tháng 02/2011.
CNG có các hợp đồng đã ký với các khách hàng lớn như Gạch men Thanh Thanh, Thép Thủ Đức, Công ty
Hyosung trong các năm 2009 và 2010…
www.abs.com.vn Page 19
4. PVG – CTCP Kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Bắc
Thông tin chung
Tiền thân là Xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền Bắc thành lập năm 2000. Cổ phần hóa năm 2006
và bắt đầu niêm yết trên sàn HASTC từ năm 2009. Sản phẩm chính của Công ty là bình gas 45kg, 12kg,
LPG lỏng. Ngoài ra công ty còn thu được doanh thu từ việc cung cấp một số dịch vụ lắp đặt hệ thống cung
cấp gas và thu tiền ký cược vô bình gas của khách hàng.
Tiềm năng tăng trưởng
PVG là một trong những công ty đạt sản lượng phân phối gas lớn nhất miền Bắc, chiếm khoảng 26% thị
phần, và trải dài đến Đà Nẵng.
Công ty có nguồn cung cấp gas ổn định từ nhà máy Chế biến Dinh Cổ, nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Ngoài ra, Công ty có 1 tổng kho tại Hải Phòng với sức chứa 1.108 tấn và đang triển khai xây dựng thêm
Tổng kho LPG Đình Vũ Hải Phòng với sức chứa 75.000 tấn.
Hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh khí LPG đem lại phần lớn
doanh thu và lợi nhuận cho PVG trong các năm qua.
Mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận rất lớn bới
mức trung bình lần lượt là 68% và 35%. Lợi nhuận
năm 2011 tăng đột biến là do PVG đã bán gần 6,2
triệu cổ phiếu PGD. Mặc dù mức tăng trưởng cao
nhưng biên lợi nhuận lại khá thấp, bình quân khoảng
1,7%, đây cũng là tình trạng chung của các doanh
nghiệp trong ngành kinh doanh khí LPG. Khả năng
sinh lời ROE, ROA và thu nhập trên mỗi cổ phiếu
EPS (nếu loại bỏ khoản lợi nhuận bất thường từ bán
cổ phiếu PGD) khá thấp cũng thể hiện rõ điều này.
PVG sử dụng đòn bẩy khá cao, nguồn vốn kinh doanh
chủ yếu là vay nợ. Tuy vậy, khả năng thanh toán của
PVG vẫn luôn được bảo giúp công ty hoạt động an
được trả hết. Các khoản nợ ngắn hạn ở mức thấp và
chủ yếu là các khoản nợ phải trả cho người bán.
Chính vì vậy mà PGD có tình trạng tài chính rất lành
manh, khả năng thanh toán luôn được đảm bảo ở mức
cao.
VII – KẾT LUẬN
Ngành dầu khí Việt Nam còn khá non trẻ và chỉ mới bắt đầu đẩu mạnh hoạt động khai thác. Trong thời gian
qua, ngành đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong công tác thăm dò, khai thác và hoạt động kinh doanh
góp phần lớn cho ngân sách nhà nước.
Với trữ lượng dầu khí khá lớn và khả năng khai thác chưa tương xứng, PetroVietnam tiếp tục có những kế
hoạch triển khai hoạt động đầu tư và khai thác dầu khí chẳng những trong nước mà còn thúc đẩy ra nước
khác ngoài. Do vậy, các công ty trong ngành, đặc biệt là các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán sẽ
còn tiếp tục được hưởng nhiều ưu đãi và hứa hẹn thu về lợi nhuận cao trong tương lai.
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH DẦU KHÍ
www.abs.com.vn Page 21 KHUYẾN CÁO
Báo cáo phân tích công ty nhằm mục đích đánh giá và đưa ra những khuyến nghị mang tính tham khảo,
nhằm hỗ trợ khách hàng.
Các thông tin mà Báo cáo sử dụng được thu thập và xem xét với mức độ cẩn trọng tối đa có thể và dựa trên
những nguồn mà ABS cho là đáng tin cậy. Tuy nhiên, ABS không chịu trách nhiệm về độ chính xác và đầy
đủ của các thông tin trong Báo cáo này. Các ý kiến, nhận định, khuyến nghị chỉ thể hiện quan điểm chủ