Hướng dẫn kỹ thuật nuôi giông
Con kỳ nhông hay còn gọi là con dông sống và làm tổ trên đất cát, dông là một loài
bò sát đang là món đặc sản được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất mạnh. Do bị
săn bắt ngày càng nhiều và do môi trường sống bị biến đổi khiến cho loài dông có
nguy cơ bị tuyệt chủng. Chính vì vậy mà hiện nay một số nông dân nhanh nhạy
chuyện làm ăn bắt đầu tính đến chuyện nuôi dông để bán thịt.
Nội dung chi tiết
• 1
Giống và đặc đ
iểm giống:
Dông là tiếng địa phương gọi con kỳ nhông; có nơi như vùng Nghệ - Tĩnh gọi là
nhông. Dông có nhiều giống, dông vùng đất cát gọi là dông cát benly. Tên Latin:
Leiolepis belliana. Họ: dông Agamidae. Bộ: Có vảy Squamata. Nhóm: Bò sát: Kỳ
nhông hay còn gọi là dông sống trên đất cát ven biển, phù hợp với các vùng đất
ven biển miền Trung nước ta.
Vóc dáng:
Dông gần giống con tắc kè, da hồng đỏ, trên lưng có lớp gai chạy dọc theo xương
sống và dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam.
• 2
Tập tính sinh hoạt và môi trường sống:
Dông là một loại bò sát sống thích nghi vùng đất cát tự nhiên ven biển của các tỉnh
dọc Duyên hải miền Trung. Nói rõ ra ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận,các tỉnh
nằm dọc Duyên hải miền Trung và một số thuộc miền Đông Nam Bộ như Bà Rị
a
ững nơi sũng
nước hoặc nước thoát chậm. Vì vậy khi bố trí nơi nuôi dông phải hết sức lưu ý tới
điều này. Đặc biệt đáy của nơi nuôi dông không nên lát kín vài sẽ cản trở việc rút
nước khi mưa. • 3
Quy luật hoạt động của dông cát.
a) Hoạt động theo mùa:
* Mùa hoạt động:
Dông thường hoạt động vào mùa nắng ấm, từ tháng 4 đến tháng 10. lúc đó điều
kiện nhiệt độ không khí thường 27-380C, nhiệt độ mặt đất 27-390C và độ ảm 30-
80%. Dông ngừng hoạt động hoàn toàn vào những ngày mưa. Thậm chí khi có
giông hay trời âm u là chúng tìm đường trú ẩn. Không bao giờ thấy dông hoạt động
vào lúc trời mưa hay mưa vừa tạnh.
Dông không chịu được nhiệt độ lạnh. Khi nhiệt độ ngoài trời xuống 24-250C và độ
ẩm lên trên 90% là chúng đã tìm đường đi trú
* Trú đông:
Mùa trú đông của dông cát thường là tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Vào thời kỳ
này, nhiệt độ ngoài trời xuống dưới 250C và độ ẩm có lúc cao tới 85-900C. Dông
lấp của hang và nằm lì trong hang. Tới mùa xuân khi nắ
ng ấm về nhiệt độ lên cao
dần, dông mới chui ra khỏi hang để kiếm ăn.
b) Hoạt động ngày, đêm:
ng cũng
phải cao để tránh dông trèo ra, do đó bờ tường cũng xây cao 1,2 m trở lên. Một số
nơi bà con chỉ xây cao 40 – 50 cm, phần còn lại là một tấm tôn cao 1m chạy vòng
quanh. Vì tôn nhẵn nên dông không thể trèo hay bò ra ngoài được.
Ta cũng có thể bố trí nuôi dông trên bãi cát hoang, các khu đất trồng cây bụi. cũng
có thể kết hợp
nuôi dông trong các vườn cây. Tất nhiên khu nuôi phải được xây tường bao quanh.
Dông rất thích có bóng mát. Trong khu nuôi nên có nhiều cây. Chúng ta nên bố trí
trồng cây trong khu vực nuôi dông. Qua thực tế cây trứng cá là cây nên trồng nhất.
cây tr
ứng các mọc rất nhanh, chịu được nóng, được hạn, tán rộng, cây cao vừa phải
và quả của chúng lại là món khoái khẩu của dông. Ta không nên trồng quá dày.
Tán cây chỉ nên che 1/2 – 1/3 diên tích khu nuôi. Diện tích còn lại để cho dông
sưởi nắng.
Cũng có khu vực rất khó trồng cây do đất nghèo kiệt hoặc quá khô hạn, cây trồng
không lên được hoặc lên rất chậm. trong tường hợp này ta nên căng một số bạt để
che nắng. cũng có thể làm giàn để phủ lá hoặc lót cot lên trên. Cũng có thể xếp các
cành cây khô thành đống để dông đào hang xuống chỗ đó. Đám cành lá này cũng
là chỗ để dông con chạy trốn khi bị dông lớn đuổi. Như vậy dông vẫn có khu v
ực
bóng mát nhân tạo.
Nếu nuôi trong khu nào có trồng khoai lang hoặc rau muống thì càng tốt, chúnh
vừa làm thức ăn vừa làm bóng mát môi trường cho dông.
Trong khu nuôi cần bố trí nhiều chỗ cho dông ăn. Dông tham ăn và thường tranh
giành lẫn nhau. Dông lớn thường bắt nạt dông bé. Nếu ta bố trí nhiều chỗ đổ thức
c cho trương nở và giả nhỏ ra. Dông ăn
loại này rất mau lớn. Tất cả nguồn thức ăn động vật đều hấp dẫn đối với dông. Cần
băm nhỏ thức ăn ra để tiện cho dông ăn. Dông cũng thích ăn giun đất (trùn đất).
Chúng ta nên tổ chức nuôi trùn quế để cung cấp thức ăn cho dông. Ngoài ra cơm
nguội và các thức ăn thừa của con người đều có thể cho dông
ăn. Đặc biệt dông rất
thích ăn các loại thức ăn có màu sắc, vị ngọt như cà chua, đu đủ, dưa hấu, xoài. Cà
rốt, bí đỏ, và các loại hoa như hoa phượng, hoa dâm bụt, hoa giấy,
Thức ăn dông rất phong phú. Tuy nhiên để cung cấp với số lượng lớn và đều đặn
hàng ngày, chúng ta nên có kế hoạch gieo trồng, nuôi cấy và tích lũy thức ăn khi tổ
chức nuôi dông. Trước màu đông dong thường thu thức ăn v
ề để ở dưới hang. Nó
sẽ ăn dần trong mùa đông. Khi ăn hết thức ăn nó sẽ gặm cả đuôi của nó. Nhiều con
cụt hết đuôi. Đến muà ấm nó ngoi lên và đi kiếm thức ăn. Cái đuôi cụt mọc dài dần
ra như cũ.
• 6
Chăm sóc:
Nuôi dông không tốn nhiều công chăm sóc. Điều cần thiết chính là khâu bảo vệ.
phải ngăn chặ mọi ngã mà dông có th
ể tẩu thoát. Phải xây kín hoặc giăng lưới cẩn
thận để tránh chúng lẻn đi. Khoảng cách giữa cây trong khu nuôi và bờ tường đạt ít
nhất là 3m. Dông có thể leo lên cây và nhãy qua tường để ra ngoài.
Quá trình chọn lọc tự nhiên trên vùng khí hậu khốc liệt đã tạo ra con dông có tính
thích ứng cao. Chúng rất ít bị bệnh tật đe dọa.
Tuy nhiên do nuôi nhiều và tập trung nên chúng ta cần phải luôn chú ý đến những
biểu hiện bệnh lý của con dông.
nuôi dông có phát hiện dông thường bị bệnh sổ mủi vào mùa lạnh nhưng tự khỏi.
Tỷ
lệ sống của dông khá cao, đạt từ 90-95%
- Lột xác: Lột xác là một hoạt động sinh lý bình thường và cần thiết cho quá trình
phát triển của cơ thể dông. Thậm chí lột xác còn là một chỉ tiêu quan trọng biểu thị
trạng thái sức khỏe của dông. Dông muốn lớn phải lột xác. Chúng lột xác nhiều lần
trong năm. Đặc biệt vào mùa hoạt động dông lột xác liên tục. Lúc đó chúng ăn
khỏe và lớn nhanh. Trong đi
ều kiện tự nhiên, các nhà khoa học đã xác định được
tần suất lột xác ở dông cát trung bình là:
Con cái: 7.83 lần/mùa hoạt động
Con đực:8.15 lần/mùa hoạt động
Quá trình lột xác diễn ra trong 3 giai đoạn. Mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác
nhau.
a) Thời kỳ chuẩn bị lột xác (3-6 ngày):
Lúc này da chúng ở 2 bên sườn, ở các chấm ô van trên lưng và ở cổ có màu vàng
cam. Mặt trên của các chi cũng sẽ chuyển sang màu vàng đậm. Phần da màu trắng
xám dưới bụng, dưới chi và đuôi sẽ chuyển màu xám tối.
Dông uể oải, ít ăn, ít hoạt động (mỗi ngày nó chỉ ra ngoài 1-2 giờ). Nó nằm lì trong
hang. Cũng lúc này dông có mùi hôi đặc biệt. Mùi đó giống mùi động vật bắt đầu
thối rửa.
b). Thời kỳ lột xác chính thức: (7- 10 ngày).
con. Riêng loài dông được phát hiện ở khu vực Thừa Thiên Huế (loài
Leiolepisguentherpetersi) có thể là loài sinh trinh (parthonogenecis) (tất cả đều là
cá thể cái và tự phân li trứng khi đẻ).
Dông sau khi nuôi 8 – 10 tháng thì đến tuổi động dục có thể sinh sản.
Dông thường cặp đôi vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 6) và đẻ trứng vào tháng 6
đến tháng 8.
Thời gian mang thai 10 ngày. Dông đẻ nhiề
u lứa một năm, mỗi lần đẻ từ 6-8 trứng.
Trứng dông có hình thuôn dài (dài từ 2,2cm -2,4cm, rộng 1,1cm -1,3 cm, nặng
khoảng 3 g), 45 ngày sau trứng nở ra dông con, Dông con mới nở thân hình màu
trắng dợt, sống quanh quẩn dưới hang trong một vài ngày đầu. Khi bộ chân đã
cứng cáp, chúng theo dông mẹ chui ra khỏi hang và tập nhấm nháp thức ăn. Độ 1
tháng tuổi dông đã bằng ngón tay cái, đến hai tháng tuổi dông đã bằng ngón chân
cái và có thể xuất chuồng bán giống. Dông lớn nhanh vào các tháng từ tháng 6
đến
tháng 8. Đây là thời kỳ thuận lợi nhất cho hoạt động của dông cát. Tới khi trưởng
thành tốc độ lớn của nó chậm hơn còn non Đến năm kế tiếp, đàn dông con trưởng
thành và lại tiếp tục sinh sản
• 9
Thu hoạch
Sau khi nuôi 8-10 tháng là thời điểm thu hoạch dông.
Ta cũng có thể bắt dông bằng lưới. Dùng lưới có mắt nhỏ và rải đều xuống mặt đất,
sau đó ta rả
i thức ăn xung quanh, dông kéo ra ăn. Lúc đã thấy chúng ra hết ta gây
tiếng động mạnh. Dông cuống quýt bỏ chạy. Vì vội vã, chúng sẽ mắc chân vào