Tài liệu TÀI LIỆU BÀI GIẢNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ - Pdf 10

1
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
(bổ sung, sửa đổi theo
Luật Sở hữu Trí tuệ 2005)
LÊ NẾT
Tiến sỹ luật học (LSE, London)
Luật sư thành viên Công ty luật LCT
Giảng viên Khoa Luật Dân sự
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Email:
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2006
LỜI NÓI ĐẦU
Trong Hội nghị Toàn quốc về Thực thi Quyền Sở hữu Trí tuệ tại Hà Nội, tháng
9/2004, Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu lên một vấn đề - đó là cho đến nay vẫn
chưa có giáo trình về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Trong khi chờ soạn thảo và
xuất bản giáo trình luật sở hữu trí tuệ, quyển “Quyền Sở hữu Trí tuệ - Tài liệu
Bài giảng” này ra đời nhằm mục đích cung cấp tài liệu tham khảo cho các sinh
viên luật, các học viên của các khoá đào tạo về sở hữu trí tuệ, các nhà nghiên
cứu về luật sở hữu trí tuệ, và các luật sư. Cách tiếp cận vấn đề của quyển sách
là xem xét và nghiên cứu quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ của một quốc gia
1
đang phát triển, phân tích luật pháp trên những nguyên tắc triết học và kinh tế,
dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Từ xuất phát điểm trên, tác giả
phân tích những mặt lợi, mặt hại của việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí
tuệ tại Việt Nam, các cam kết mà Việt Nam cần thực hiện trong Hiệp định
Thương mại Việt - Mỹ, hay trong quá trình tham gia Tổ chức Thương mại Thế
giới. Quyển sách được tổng hợp vào năm 2002 và chỉnh sửa vào năm 2004.
Quyển sách được trình bày như một tài liệu giảng dạy, mỗi chương tương ứng

tính của các đối tượng sở hữu trí tuệ vẫn còn là một vấn đề khó khăn song đầy
hứng thú.
Tại sao phải học về sở hữu trí tuệ? Có phải đó là một lĩnh vực khó hiểu và
không có ứng dụng? Có phải đó là một khái niệm quá mới? Hay lĩnh vực này
được du nhập từ những khái niệm xa lạ của nước ngoài và chỉ bảo vệ chủ thể
nước ngoài? Thực sự không phải vậy. Trong cuộc sống chúng ta gặp rất nhiều
vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Nhà may Tuấn ở đầu phố đắt khách, bạn
mở cửa hiệu may, cũng treo biển "Nhà may Tuấn" cho cửa hiệu của bạn, Nhà
may Tuấn ở đầu phố có quyền yêu cầu bạn gỡ biển không? Bạn đang xuất khẩu
sang Nga một lô quần áo đang “mốt”, để tránh bị các nhà buôn khác bắt chước
3
kiểu dáng, bạn có nên đi đăng ký kiểu dáng công nghiệp hay không? Bạn viết
một bài báo, toà soạn chỉnh sửa nội dung bài báo và đưa vào đó những ý tưởng
bạn không hề nghĩ tới. Toà soạn có xâm phạm quyền tác giả của bạn không?
Bạn mang máy cassette vào một buổi trình diễn âm nhạc, thu băng và cho bạn
bè sao chép lại. Băng đĩa sao chép có bị coi là băng đĩa lậu không? Đó là những
vấn đề mà luật về sở hữu trí tuệ phải giải quyết. Tuy báo chí không dùng nhiều
danh từ “sở hữu trí tuệ”, song những vấn đề có liên quan trực tiếp đến sở hữu trí
tuệ lại rất phổ biến: hàng giả, hàng nhái, sao chép lậu, cạnh tranh không lành
mạnh, nhượng quyền thương hiệu, v.v. Để minh họa vai trò của quyền sở hữu
trí tuệ, chúng ta có thể xét hai ví dụ dưới đây:
1. Xe máy DREAM II của hãng sản xuất ôtô xe máy Honda (Nhật Bản)
là một trong những xe máy nổi tiếng nhất tại Việt Nam, gia nhập thị
trường từ cuối những năm 1980. Khoảng 6 năm sau, trên thị trường
bắt đầu xuất hiện những loại xe có kiểu dáng giống hệt xe DREAM
II, như DEALIM, LIFAN, HONGDA v.v. do Hàn Quốc và Trung
Quốc sản xuất. Đây là thiệt hại không nhỏ đến thị phần và lợi nhuận
của Honda, vì Việt Nam là một trong những thị trường tiêu thụ xe
máy lớn nhất thế giới. Honda yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền can thiệp và ngăn chặn hành vi xâm phạm “quyền sở hữu

đã sáng chế ra chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới. Ban đầu, chất lượng điện
thoại chưa cao, và các tổng đài phải nối dây bằng tay. Rồi sau đó, người ta đã
dùng cáp đồng để nối những đường dây xuyên lục địa đầu tiên. Sau khi có
những sáng chế về phát sóng vô tuyến, và nhất là sau khi những vệ tinh đầu tiên
được phóng vào vũ trụ, người ta đã bắt đầu nghĩ đến chuyện liên lạc bằng vô
tuyến. Tiếp theo là việc ra đời sáng chế máy điện toán cũng đã tự động hóa
12
được rất nhiều công đoạn mà trước kia phải làm bằng tay. Không chỉ dừng ở
đó, việc chế tạo ra công nghệ cáp quang và công nghệ kỹ thuật số (digital) đã
khiến cho chất lượng âm thanh truyền tải được nâng lên không ngừng, cho dù
khoảng cách giữa hai người nói chuyện điện thoại xa bao nhiêu. Ngoài công
nghệ truyền tin hữu tuyến, cách thức truyền tin vô tuyến, thông qua những chiếc
điện đài đầu tiên đã phát triển thành những trạm điện thoại vô tuyến cố định, rồi
vô tuyến di động đầu tiên trên thế giới. Tuy thế, cũng phải mất gần 10 năm cho
việc đi từ những chiếc điện thoại di động hệ NMT to và chất lượng không ổn
định đầu tiên đến những chiếc điện thoại di động hệ GSM hiện nay qua hệ
CDMA, đến hệ điện thoại vô tuyến vệ tinh VSAT hay hệ IRIDIUM trong tương
lai. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy kiểu dáng, kích thước, trọng lượng, thời
gian cuộc gọi và chất lượng cuộc gọi của những chiếc điện thoại di động cũng
không ngừng phát triển. Động lực của phát triển không gì khác hơn là những
sáng chế trong công nghệ thông tin được bảo hộ độc quyền có thời hạn, đã
khuyến khích mọi người trong việc chạy đua cải tiến công nghệ.
6
Để có một sản phẩm sáng tạo, ban đầu nhà sản xuất phải hoạch định được
hướng phát triển sản phẩm, sau đó mới đầu tư tập trung nghiên cứu. Sau nhiều
lần thử nghiệm và thất bại mới ra đời được những ý tưởng có khả năng áp dụng
đầu tiên. Tuy nhiên, để một ý tưởng trở thành sự thực và được người tiêu dùng
chấp nhận sản phẩm, nhà sản xuất phải liên tục cải tiến và hoàn thiện sản phẩm,
quảng cáo, phát triển mạng lưới phân phối cho đến khi thành công, rồi lại phải
không ngừng cải tiến để đứng vững trước sức cạnh tranh và nhu cầu thay đổi

1.1.1 Thế nào là “trí tuệ”
Trên thực tế có rất nhiều sản phẩm của trí tuệ. Việc huấn luyện viên Weigang
tuyển chọn được Hồng Sơn, Huỳnh Đức vào đội tuyện Việt Nam, sắp xếp đội
hình thi đấu ở Seagame 18 chắc chắn là một sản phẩm trí tuệ. Tuy nhiên,
Weigang không được hưởng quyền “sở hữu” sản phẩm trí tuệ của mình.
Ngược lại, hai chữ cái (thí dụ nhãn hiệu kem đánh răng P/S) không có gì là “trí
tuệ” thì lại được coi là đối tượng của sở hữu trí tuệ. Vậy không phải mọi thứ
“trí tuệ” đều được bảo hộ dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ. Ngược lại không phải
mọi quyền sở hữu trí tuệ đều là sản phẩm của trí tuệ. Mặc dù không có định
nghĩa chính thống và trực tiếp thế nào là sở hữu trí tuệ, ta có thể định nghĩa
8
quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả
lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy
định bảo hộ. Trong định nghĩa này, cũng cần bổ sung thêm là mặc dù quyền sở
hữu trí tuệ có tên gọi và nhiều điểm tương đồng với quyền sở hữu, song hiện
nay các học giả vẫn chưa nhất trí xem có nên coi quyền sở hữu trí tuệ là một
loại quyền sở hữu hay không.
1.1.2 Tài sản vô hình có thể là “sở hữu” được không?
Khi phân tích khái niệm sở hữu trí tuệ, chúng ta thấy nổi lên một số vấn đề cần
phải giải thích rõ. Trước tiên là khái niệm tài sản vô hình. Nó khác với tài sản
theo Điều 161 Bộ Luật Dân sự (BLDS - các tài sản hữu hình). Tài sản vô hình
là những tài sản không nhìn thấy được, nhưng trị giá được bằng tiền và có thể
trao đổi (thí dụ thương quyền, uy tín). Sau đó chúng ta cũng cần phải lưu ý khái
niệm "thành quả lao động sáng tạo".
Yếu tố thứ hai, hiện diện trên hầu hết các đối tượng sở hữu trí tuệ là sự sáng tạo.
Nếu không có sáng tạo thì cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay cũng không
khác gì cuộc sống cách đây 10 hay 20 năm. Lần về sâu nữa trong quá khứ cách
đây mới có 300 năm, mức sống ở châu Á và mức sống ở châu Âu không khác gì
14
nhau. Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiêp đã thay đổi cách nhìn của mọi

không chỉ đơn thuần là để phân biệt với các hãng kem đánh răng khác. P/S lúc
đó là biểu tượng của uy tín thương mại của sản phẩm do Công ty Hoá mỹ phẩm
P/S sản xuất. Điều đáng tiếc là trong những năm đầu mở cửa, các doanh nghiệp
Việt Nam khi tham gia góp vốn liên doanh đã không tính đến chuyện góp vốn
bằng tài sản vô hình (mạng lưới kinh doanh, đặc quyền phân phối sản phẩm,
thương hiệu) mà tập trung nhiều đến quyền sử dụng đất, khiến trị giá tài sản góp
vốn của đối tác trong nước trong liên doanh thấp.
Hình 2: nhãn hiệu kem đánh răng P/S được định giá 5 triệu USD
15
Thí dụ, xí nghiệp chế biến thực phẩm A qua bao nhiêu năm kinh doanh đã phát
triển được mạng lưới tiêu thụ trên khắp cả nước, nhãn hiệu của A đã trở nên
quen thuộc với người tiêu dùng. Gần đây A nhận được lời đề nghị của công ty B
của Nhật để thành lập liên doanh, với mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm
tiêu thụ nội địa và xuất khẩu (chủ yếu là sang Mỹ). Trị giá tài sản cố định góp
vốn của A là 3 triệu USD (bao gồm quyền sử dụng đất, nhà xưởng, máy móc
thiết bị). B đề nghị đóng góp vốn 7 triệu USD bằng tiền mặt để thành lập liên
doanh 30/70. Trong trường hợp này, tỷ lệ góp vốn của A sẽ cao hơn nếu A yêu
cầu liên doanh sử dụng nhãn hiệu của mình và tính đến những tài sản vô hình
mà mình góp vốn vào công ty (nhãn hiệu, mạng lưới tiêu thụ).
1.1.3 Triết học về sở hữu trí tuệ
Triết học về sở hữu trí tuệ đa số bắt nguồn từ triết học về quyền sở hữu. Ở các
nước tư bản chủ nghĩa, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bắt nguồn từ ba cơ sở
11
triết học: triết học về giá trị của lao động (của John Locke),2 về quyền tự do
sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel) và về phương tiện
(utilitarialism của Jeremy Bentham).3 Theo triết học của Locke (thế kỷ 17), bất
cứ tài sản gì là thành quả lao động của người nào thì người đó làm chủ sở hữu.
Người lao động có thể cho, bán, trao đổi tài sản của mình. Lao động trí óc cũng
không phải là ngoại lệ, vì thế người lao động trí óc có quyền sở hữu đối với
thành quả lao động sáng tạo của mình. Theo triết học của Kant và Hegel (thế kỷ

lạm dụng quyền sở hữu. Thí dụ điển hình nhất là việc tập trung tư liệu sản xuất
vào một số công ty sẽ dẫn đến việc các công ty này trở nên độc quyền, nâng giá
sản phẩm và kìm hãm sự phát triển của các công ty khác. Như vậy, triết học
Marx-Lenin một mặt coi trọng quyền tự do sáng tạo, mặt khác cũng coi trọng
việc kiểm soát việc lạm dụng quyền sở hữu vì mục đích cá nhân. Theo thống kê,
các công ty đa quốc gia chiếm 90% tổng số văn bằng bảo hộ sáng chế đối với
những công nghệ quan trọng. Để đạt được thành tích này, các nước phát triển
chi 90% trong tổng số chi phí nghiên cứu khoa học của toàn cầu.7
Tuy nhiên, không phải tất cả các triết học áp dụng cho quyền sở hữu tài sản
13
thông thường đều có thể áp dụng cho quyền “sở hữu trí tuệ.” Đó là vì tài sản
hữu hình khác với tài sản vô hình. Thứ nhất, việc sở hữu tài sản hữu hình của
một người ít khi tạo nên tình trạng độc quyền, ảnh hưởng đến phương pháp sản
xuất kinh doanh của người khác. Thí dụ một người làm chủ một khách sạn
không thể ngăn cản người khác xây một khách sạn khác cạnh tranh ngay trên
cùng một bãi biển. Trong khi đối với tài sản vô hình, một người có bằng sáng
chế về giải pháp xây dựng công trình có thể ngăn cấm những người khác áp
dụng giải pháp của mình bất cứ nơi nào khi chưa có sự đồng ý của chủ văn bằng
sáng chế. Vì thế triết học của Locke (lao động đến đâu hưởng quyền sở hữu đến
đó) không hoàn toàn thích hợp cho tài sản vô hình (người đến sau không thể
tiếp tục lao động nếu cánh cửa sáng tạo đã bị người đến trước án ngữ). Thứ hai,
việc định đoạt một tài sản hữu hình cần phải đi kèm với sự chiếm hữu (thí dụ
chỉ có thể chuyển quyền sử dụng một chiếc xe nếu chủ xe giao quyền chiếm hữu
chiếc xe đó cho người sử dụng). Điều này không diễn ra đối với tài sản vô hình
(không ai biết hiện giờ có bao nhiêu người hát bài hát của một nhạc sỹ). Vì thế
triết học của Hegel (cần có quyền sở hữu để có tự do) không chính xác đối với
tài sản vô hình. Thứ ba, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể là đòn bẩy để phát
triển kinh tế, song bảo hộ quá lâu, quá nhiều hay chưa đúng lúc có thể cản trở sự
phát triển của nền kinh tế. Từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1912, Hà Lan tạm ngưng
không áp dụng luật về sáng chế. Gerhard Philips đã lợi dụng cơ hội này sản xuất

tiếp giữa người tiêu dùng và tác giả, bởi lẽ xã hội càng phát triển, các nghiên
cứu, phát minh, sản phẩm càng phức tạp, các tác giả đơn lẻ không thể tự mình
sáng tạo các sản phẩm này. Tác giả không thể tự mình rời khỏi mối quan hệ với
nhà sản xuất để trực tiếp với người tiêu dùng.12 Người tiêu dùng cũng không đủ
thông tin để biết tác giả nào thực sự có tài để liên hệ trực tiếp. Vì thế tác giả
ngày nay bị “cột chặt” với nhà sản xuất. Thành quả lao động sáng tạo của tác
giả sẽ vun đắp cho uy tín của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng, trong khi
9 New York Times 22/3/2002 “Musicians still Feel Being Bypassed”.
10 “giá trị thặng dư” (surplus value) là quan điểm của triết học Marx. Triết học tư
sản không
công nhận giá trị thặng dư, mà chỉ công nhận những nhân tố ngoại lai
(externalities) có thể làm
tăng lợi nhuận cho một công ty mà các công ty khác không có được. Hai khái niệm
này khác
nhau.
11 Grosheide, W. (2001) “Copyright From User’s Perspective.” EIPR 23: 321.
12 Goldstein, P. (1996) “The Future of Copyright in a Digital Environment.” In
Hugenholtz, P.
(ed.) The Future of Copyright in a Digital Environment. Information Law Series,
Kluwer.
nhà sản xuất
tác giả người tiêu dùng.
16
18
không hẳn người tiêu dùng nào cũng biết đến ai là tác giả những sản phẩm mình
đang sử dụng. Mối quan hệ “tam giác vàng” ngày một lỏng lẻo, dần dần hình
thành một mối quan hệ theo hàng dọc: tác giả – nhà sản xuất – người tiêu dùng.
Quyền sở hữu trí tuệ, xét cho cùng, không bảo hộ người lao động sáng tạo (vì
họ đã được trả lương), mà trực tiếp bảo hộ người thuê lao động.13 Như vậy giá
trị biện minh của quyền sở hữu trí tuệ (bảo vệ quyền tự do sáng tạo, bảo vệ

Anh – Mỹ).
tác giả nhà sản xuất người tiêu dùng.
19
sản hữu hình, pháp luật cũng quy định những trường hợp hạn chế quyền sở
hữu.15 Đối với sở hữu tài sản vô hình – một loại sở hữu theo luật định, việc hạn
chế quyền sở hữu để khỏi gây ra những khía cạnh bất lợi cho xã hội là điều
không thể tránh khỏi.
1.1.4 Kinh tế và sở hữu trí tuệ
Vai trò của quyền sở hữu trong nền kinh tế thị trường là gì? Có nhiều quan
điểm khác nhau. Theo lý thuyết của Adam Smith, nhà kinh tế học Scotland từ
18
thế kỷ 18, quyền sở hữu là cơ sở của quyền tự do kinh doanh.16 Diderot, nhà
kinh tế học và triết học Pháp coi quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu trí tuệ là
quyền cao quí nhất, thể hiện cho sự tự do của các chủ thể kinh doanh trên thị
trường.17 Tuy vậy các cách giải thích trên hoàn toàn coi quyền sở hữu là một
quyền tự nhiên chứ không đứng trên quan điểm của luật thực định. Nghĩa là mọi
quyền, kể cả quyền sở hữu, đều xuất phát từ ý chí của các nhà lập pháp. Nếu
đứng trên quan điểm của luật thực định, chúng ta không khỏi tự hỏi: tại sao lại
cần phải có quyền sở hữu để đòi 1 tài sản, trong khi các bên tranh chấp có thể
thoả thuận với nhau? Thí dụ trên một hoang đảo có hai người - Robinson
Crusoe và Thứ Sáu. Robinson nuôi bò và Thứ Sáu trồng bắp. Bò của Robinson
xâm hại bắp của Thứ Sáu. Thứ Sáu có nhất thiết phải bảo vệ quyền sở hữu của
mình bằng cách xây dựng hàng rào (trị giá 100 triệu đồng) quanh vườn bắp của
mình, trong khi thiệt hại do bò của Robinson gây ra không quá 50 triệu đồng
hay không? Tại sao hai bên không thể thoả thuận với nhau: Thứ Sáu không xây
hàng rào, còn Robinson sẽ đền bù cho Thứ Sáu 50 triệu đồng? Đối với câu hỏi
trên cách giải thích của Ronald Coase, nhà kinh tế học Anh (đoạt giải Nobel
năm 1993) gây nhiều sự chú ý hơn cả. Theo Coase, nếu các bên có thể thoả
thuận với nhau, thì các quy định về quyền sở hữu là không cần thiết (xem thí dụ
về Robinson và Thứ Sáu nêu trên).18

hữu chỉ là một trong những biện pháp nhằm kiểm soát quyền lợi của một chủ
thể kinh doanh chứ không phải là một quyền tự nhiên.20 Các biện pháp khác có
thể là thoả thuận hay bồi thường thiệt hại. Như vậy thực thi quyền sở hữu không
phải lúc nào cũng là phương pháp bảo vệ quyền tối ưu. Muốn biết một phương
pháp bảo vệ quyền có phải là tối ưu hay không, cần phải xem xét đến chi phí
giao dịch. Quyền sở hữu có thể là giải pháp bảo vệ quyền lợi tối ưu khi chi phí
giao dịch để hoà giải hay thoả thuận với người xâm phạm là lớn.21
Khái niệm về sở hữu mà Coase đưa ra cũng có thể áp dụng được cho các đối
tượng sở hữu trí tuệ. Các tài sản vô hình - thành quả lao động sáng tạo - là
những tài sản có giá trị (thí dụ một công nghệ mới có thể nâng cao năng suất lao
động, giảm giá thành sản phẩm). Vì vậy rất nhiều người muốn chiếm hữu tài sản
ấy, dù hợp pháp hay không. Việc sử dụng tài sản vô hình khó bị phát hiện (chủ
thể sáng tạo không thể biết được lúc nào tài sản của mình bị "đánh cắp"). Vì thế,
khả năng bảo vệ và thực thi tài sản vô hình nếu không có pháp luật hỗ trợ là rất
khó. Điều này làm tăng chi phí giao dịch giữa người có ý định xâm phạm và
chủ thể lao động sáng tạo. Chi phí giao dịch tăng làm phát sinh nhu cầu bảo hộ
thành quả lao động sáng tạo dưới dạng quyền sở hữu.
Mặt khác, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể sẽ dẫn đến tình trạng độc
quyền. Nhiều nhà kinh tế học đã chứng minh rằng lợi thế độc quyền cũng làm
tăng chi phí giao dịch. Lúc này nó không phải là chi phí giao dịch của chủ sở
hữu đối tượng sở hữu trí tuệ, mà là chi phí giao dịch của người muốn sử dụng
các sản phẩm sở hữu trí tuệ (người tiêu dùng). Cụ thể là các chủ thể độc quyền
sẽ đẩy giá thành sản phẩm lên cao, khiến người tiêu dùng phải chịu thiệt hại (họ
21
phải trả tiền cho sản phẩm với giá cao hơn lợi ích mà họ có thể thu được từ sản
19 Cooter, T. and Ulen, R. (2000) Law and Economics. Wiley & Sons, Chương III.
20 Coase, R. (1988) The Firm, The Market, and the Law. The University of
Chicago Press, IL.
21 Id.
21

phát triển lên một mức cao hơn). Theo triết học phương Đông, đây cũng là một
thí dụ của Kinh dịch (âm thịnh dương suy, luôn luôn vận động).
Điều đáng nói là khi độc quyền trở thành xu thế thì tính năng động của các công
ty vừa và nhỏ (SME) sẽ giảm sút vì họ không thấy có cơ hội nào để sáng tạo và
22 Scotchmer, S. (2001) "The Political Economy of Intellectual Property Treaties."
Business
Research Working Paper E01-305. U.C. Berkeley (08/01).
23 Stiglitz, J. & Driffill, J. (2000) Economics. Norton Corp.
24 Stiglitz, J. (1997) Wither Socialism? MIT Press, Cambridge. MA.
25 Schumpeter, J. (1942) Capitalism, Socialism and Democracy.
23
26 Varian, H. (1995) "Pricing Information Good." Research Libraries Group
Symposium on
"Scholarship in the New Information Environment." Harvard Law School.
22
thu hồi vốn.27 Như vậy tuy các công ty lớn vẫn năng động và sáng tạo, nhưng
họ không còn cảm thấy bị sức ép như khi họ còn là công ty nhỏ, đó là chưa nói
bộ máy quản trị cồng kềnh quan liêu ở các công ty lớn là một vật cản đáng kể
của sự năng động sáng tạo. Điều này triệt tiêu dần hai động lực của nền kinh tế
thị trường và dẫn đến kinh tế suy thoái. Khi kinh tế suy thoái, các công ty dù lớn
dù nhỏ sẽ bị sức ép và phải phát huy tính năng động sáng tạo, vì thế kinh tế sẽ
thoát khỏi suy thoái. Schumpeter gọi hiện tượng đó là chu kỳ kinh tế (business
cycle).28 Theo đó, cứ 50 năm kinh tế thế giới lại lâm vào khủng hoảng và suy
thoái 1 lần (khủng hoảng kinh tế năm 1930 và khủng hoảng thị trường Chứng
khoán 1987 là hai thí dụ). Chu kỳ kinh tế bao gồm: khởi phát (phát triển chậm),
tăng tốc (phát triển rất nhanh), thịnh vượng (vẫn phát triển song chậm dần đến
khi đạt vị trí cực đại) và suy thoái (kinh tế xuống dốc). Nếu vẽ sơ đồ, thì các chu
kỳ kinh tế là các hình chuông liên tục theo hướng đi lên.29
Tóm lại, sở hữu trí tuệ là phương thức bảo hộ tài sản vô hình, một tài sản có giá
trị, dễ bị xâm phạm và khó tự bảo vệ. Sở hữu trí tuệ có thể làm phát sinh độc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status