Tài liệu Đề tài: Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa? Liên hệ thực tiển nước ta hiện nay? - Pdf 10

Trường Cao Đẳng Kinh Tế Tài Chính Vĩnh Long
Khoa Tài Chính
Bộ môn: Lí Luận Chính Trị

GVHD:
SVTH:
Khóa/Lớp:
MSSV:
Đề tài:

Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu
thế của sản xuất hàng hóa? Liên hệ thực tiển nước
ta hiện nay?
Ngày 12 tháng 03 năm 2012
1
Lí do chọn đề tài:
- Trong quá trình CNH-HĐH đất nước, quá trình phát triển
quá độ của xã hội cùng với những công nghệ tiên tiến vượt bật.
Công nghệ sản xuất hàng hóa với chất lượng và số lượng không
ngừng được thay đổi.
- Sản xuất hàng hóa là một quá trình tạo ra sản phẩm hàng
hóa nhằm đáp ứng nhu cầu, nhằm làm thỏa mản nhu cầu nào đó
của con người.
- Chính vì vậy viêc nghiên cứu điều kiện ra đời, đặc trưng
và ưu thế sản xuất hàng hóa là một viêc làm giúp ta hiểu sâu hơn
về quá trình ra đời của hàng hóa. Từ đó liên hệ đối với bản thân
và đối với nước ta, nhằm làm cho quá trình sản xuất hàng hóa
của nước ta ngày càng phát triển với chất lượng cao hơn. Chính
vì hiểu được vậy nên em chọn đề tài này lám vấn đề nghiên cứu
viết tiểu luận của em.
1

tưởng ấy càng được nhấn mạnh trong các kì đại hội tiếp theo của
Đảng.
Cho tới nay, sau hơn mười năm đổi mới ta đã gặt hái được
3
nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có khá
nhiều những mặt cần điêù chỉnh.
Một số suy nghĩ và giải pháp qua nghiên cứu kinh tế hàng
hoá, kinh tế thị trường đang diễn ra ở nước ta hiện nay sẽ phần
nào giúp ta hiểu rõ hơn về thực trạng của nước ta trong thời kì
quá độ này.
II/ Nội dung:
1/ Điều kiện ra đời:
Thực tế nền kinh tế thế giới cho thấy không nước nào mà nền
kinh tế hàng hoá hay kinh tế thị trường lại vận động hoàn toàn
dưới sự điều khiển “vô hình”của các quy luật kinh tế khách
quan. Mà chúng đều vận động theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của các doanh nghiệp và nhà nước và với mức độ và phạm vi
khác nhau tuỳ thuộc điều kiện lịch sử của mỗi nước.
Kinh tế hàng hoá là mô hình kinh tế trong đó hầu hết các
quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị trường dưới hình thái
hàng hoá và dịch vụ, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lí của nhà nước .
4
Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái
kinh tế xã hội gắn liền với hai điều kiện.
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải
qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản
xuất hàng hoá.
Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm
do lao động tạo ra là nhằm để thoả mãn trực tiếp nhu cầu của

xuất hàng hoá. Mác chỉ rõ: “Sự phân công lao động xã hội này là
điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, mặc dầu ngược lại,
sản xuất hàng hoá không phải là điều kiện tồn tại của sự phân
công lao động xã hội”. Phân công lao động xã hội càng phát
triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng hơn, đa
dạng hơn.
- Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người
6
sản xuất.
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất, mà khởi thuỷ là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã
xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm
lao động.
C.Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc
lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là
những hàng hoá”.
Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã
làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng
họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ
thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng.
Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm của
người khác phải thông qua sự mua – bán hàng hoá, tức là phải
trao đổi dưới những hình thái hàng hoá.
Là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc
lập nhất định. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc
do họ chi phối. Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại,
sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng
đối với tư liệu sản xuất quy định.

Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển dưới CNXH.
Đặc điểm của sản xuất hàng hoá XHCN là nó không dựa trên cơ
sở chế độ người bóc lột người và nó nhằm mục đích thoả mãn
nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi thành viên xã hội trên cơ sở
sản xuất kinh doanh .
* Tính ưu việt của sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội
là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người. Bởi
vậy nó có nhiều ưu thế, và là một phương thức hoạt động kinh tế
tiến bộ hơn hẳn so với sản xuất tự cấp tự túc :
Nó làm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng
cao năng suất lao động

xã hội .Nó thúc đẩy quá trình xã hội hoá
sản xuất nhanh tróng làm cho sự phân công chuyên môn hoá sản
xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hoá chặt chẽ hình thành các mối
liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau của những người sản
xuất hình thành thị trường trong nước và thế giới.
Nó thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó
là cơ sở để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ
xã hội.
Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH,
chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự
nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng
9
vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác
động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá
sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng
ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất
lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng

hậu, nền kinh tế ta có đặc thù là sản xuất nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung
tự cấp, sức cạnh tranh yếu. trình độ công nghệ sản xuất, quản lý, cơ sở
hạ tầng còn nhiều yếu kém. chất lượng lao động được đào tạo chưa đáp
ứng được nhu cầu ngày một khắt khe của nền kinh tế, người dân nước ta
chưa có được cách nghĩ năng động, chính sách dù được cải thiện còn
nhiều bất cập bên cạnh đó, các nền kinh tế khác và đặc biệt là, Trung
Quôc, khu vực Đông Nam Á đã và đang lên mạnh mẽ và cạnh tranh gay
gắt với Việt Nam
Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu
cầu của bản
thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn
nhu cầu của người khác,
của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường
là một động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng
hoá phải năng
động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hoá sản
xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,
nhằm tiêu thụ được
hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh
đã thúc đẩy lực lượng
11
sản xuất phát triển mạnh mẽ.
- Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất "mở" của các
quan hệ hàng hoá
tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương
trong nước và quốc tế
ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao

suốt trong quy hoạch phát triển 10 - 15 năm tới. Ưu tiên đầu tư
hoàn thiện mạng lưới giao thông và hệ thống thuỷ lợi. Tiếp tục
xây dựng các mạng lưới điện, cấp nước, bưu chính viễn thông.
Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng biên giới; mở cửa khẩu Đăk Ruê. Phát
triển và mở rộng hệ thống đô thị, xây dựng thành phố Buôn Ma
Thuột trở thành đô thị hạt nhân và là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, y tế, dịch vụ,
du lịch, thể dục thể thao của tỉnh Đăk Lăk và vùng Tây Nguyên.
Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương trong việc tham
gia tích cực vào quá trình phát triển cùng với các địa phương,
13
lãnh thổ trong Tam giác Việt Nam - Lào - Cămpuchia.
Tạo bước chuyển biến vượt bậc trong du lịch, dịch vụ với mức
tăng trưởng cao. Tập trung đầu tư các cụm du lịch trọng điểm
Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, hồ Lăk v.v… Nâng cao năng lực và
chất lượng, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ. Tăng cường liên doanh liên kết với các vùng lân cận và cả
nước, đặc biệt là với TP. Hồ Chí Minh, vùng Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ và Duyên Hải miền Trung trong phát triển du lịch, dịch
vụ, xuất khẩu, trao đổi hàng hóa. Phát triển nông, lâm, nghiệp
và kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá,
đầu tư chiều sâu, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hình thành các vùng
trọng điểm, sản xuất tập trung cây trồng, vật nuôi chủ lực, mũi
nhọn của tỉnh. Đẩy mạnh việc giao đất giao rừng, tổ chức khuyến
nông, khuyến lâm và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ổn
định sản xuất, nâng cao đời sống.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đào tạo tăng
cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, các doanh
nhân, công nhân lành nghề; xây dựng tiềm lực khoa học công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status