Tài liệu TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP – XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA - Pdf 10

Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI TRONG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP – XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 07/11/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại thế giới, kết thúc 11 năm đàm phán gia nhập. Từ đây tuy phải đối mặt
với không ít thách thức những chúng ta cũng có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để
thực hiện mục tiêu phát triển đất nước. Một trong những thuận lợi lớn nhất là vốn
đầu tư nước ngoài tăng nhanh. Các dòng vốn này đã mang lại một luồng sinh khí
mới cho kinh tế nước ta, góp phần không nhỏ trong việc tạo ra diện mạo mới cho
đất nước, tiêu biểu là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Riêng với ngành công nghiệp – xây dựng, xuất phát từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, bị chiến tranh kéo dài tàn phá nên cơ sở hạ tầng cũng
như trình độ công nghệ kĩ thuật còn rất yếu kém. Khi đó, vốn FDI đi kèm với sự
chuyển giao công nghệ mới chính là một cơ hội rất tốt để ngành này có thể phát
triển, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, sớm đạt tới mục
tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy vậy, nguồn vốn này cũng tiềm ẩn
nhiều tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội, môi trường… ở nước ta, đòi hỏi chúng
ta trong khi tích cực thu hút vốn đầu tư vẫn phải sáng suốt có những quy định hợp
lý để hạn chế và ngăn chặn những tác động xấu đó. Tiểu luận sau xin được trình bày
khái quát về những tác động tích cực cũng như tiêu cực của đầu tư nước ngoài đến
ngành công nghiệp – xây dựng ở nước ta, tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đề ra những
biện pháp khắc phục.
1
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI)
1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là hình thức

- Hình thức doanh nghiệp Liên doanh
- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Đầu tư theo hợp đồng BOT.
2
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
- Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company).
- Hình thức công ty cổ phần.
- Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài.
- Hình thức công ty hợp danh.
- Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A).
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI
3.1.Các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư
 Lợi thế độc quyền riêng (lợi thế gắn với quyền sở hữu) : Các lợi thế này
được chia thành 3 nhóm cơ bản : kiến thức/công nghệ, giảm chi phí nhờ hoạt
động với qui mô lớn (lợi thế quản lý chung), lợi thế độc quyền tập trung vào
công ty đa quốc gia.
 Lợi thế về nội bộ hóa
3.2.Các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư
 Các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm: Tham
gia ký kết các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư hoặc có liên
quan đến đầu tư, Chính phủ đứng ra bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư ở
nước ngoài, ưu đãi thuế và tài chính, khuyến khích chuyển giao công nghệ,
trợ giúp tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin và trợ giúp kĩ thuật.
 Các biện pháp hạn chế đầu tư: hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài, hạn chế
bằng thuế, hạn chế tiếp cận thị trường, cấm đầu tư vào một số nước.
3.3.Các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư
 Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư, bao gồm các quy định liên
quan trực tiếp đến FDI và các quy định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI

năm 2008. Năm 2010 vốn đăng ký là 19,886 tỷ USD. Số vốn FDI thực hiện năm
2009 tuy chỉ đạt 10 tỷ USD, giảm khoảng trên 10% so với năm 2008 nhưng đây vẫn
là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của
nhiều nước trong khu vực giảm 20-30%. Đến năm 2010, vốn thực hiện tăng lên lại
10% là 11 tỷ USD.
11 tháng đầu năm 2011: đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là 12,697 tỷ
USD, bằng 84% so với cùng kỳ 2010 với mức vốn thực hiện vào khoảng 10,05 tỷ
USD. Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài cấp phép mới trong 11 tháng của 2011, trong đó Hải Dương có số
vốn đăng ký lớn nhất với 2,498 tỷ USD, chiếm 25,2% tổng vốn đăng ký cấp mới;
tiếp đến Tp.HCM với 1,919 tỷ USD, chiếm 19,35%.
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
1.2.Cơ cấu FDI trong nền kinh tế theo khu vực kinh tế
Cơ cấu FDI theo khu vực kinh tế diễn biến phức tạp qua các năm nhưng nhìn
chung, từ năm 2007 đến nay, tỷ trọng khu vực nông – lâm – ngư nghiệp tăng từ
0,28% lên 0,77%, tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng cũng tăng từ 56,9%
lên 78,7% trong khi tỷ trọng khu vực dịch vụ giảm từ 42,82% xuống còn 20,53%.
Ngoài ra, dựa vào số liệu trên, ta nhận thấy có sự phân hóa nguồn vốn FDI ở
các khu vực kinh tế. Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng, dịch vụ; trong khi ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ lệ vốn đầu tư
FDI rất thấp.
Bảng 1: Cơ cấu FDI theo khu vực kinh tế từ năm 2007 đến nay
5
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
Năm Nông – Lâm – Nghiệp (%) Công nghiệp – Xây dựng (%) Dịch vụ (%)
2007 0,28 56,9 42,82
2008 0,35 56,61 43,04
2009 0,58 22,4 77,02
2010 0,18 54,08 45,74

2009 76.18 3.55 12.6 7.67
2010 55.6 27.46 16.89 0.05
2011 62.45 25.29 11.95 0.31
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
3. Tác động của vốn FDI đến ngành công nghiệp
6
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
3.1. Tích cực
Đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp,
góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước. Khu vực này trong
công nghiệp đã và đang phát triển khá nhanh và ổn định, luôn có xu hướng tăng
nhanh hơn các khu vực khác. Điều này được thể hiện thông qua tỷ trọng của đầu tư
nước ngoài trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần từ 16,9% (1991) lên
23,65% (1995), lên tới 41,3% năm 2000 và 43,8% năm 2007, duy trì ở mức 42%
vào năm 2010 và đạt tỷ trọng lớn nhất trên 46% vào tháng 4 năm nay. Chất lượng
của các dự án FDI vào lĩnh vực công nghiệp đang có sự cải thiện rõ rệt. Có thêm
nhiều dự án quy mô lớn, áp dụng công nghệ hiện đại…
Việc đầu tư nước ngoài trong công nghiệp phát triển nhanh cũng đã tạo ra
một môi trường kinh doanh cạnh tranh, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, đổi
mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Khả năng cạnh tranh của các ngành
công nghiệp cũng được nâng cao thông qua việc áp dụng các công nghệ, máy móc
và thiết bị sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến từ các dự án FDI, tạo
điều kiện ra đời và thay đổi diện mạo của nhiều ngành công nghiệp như khai thác
dầu khí, sản xuất, lắp ráp ôtô, điện tử và công nghệ thông tin, thiết bị kỹ thuật điện
và điện gia dụng, chế biến thực phẩm và đồ uống, các ngành công nghiệp xuất khẩu
chủ lực như dệt may, giày dép thu hút hàng hàng trăm ngàn lao động
Ngoài ra, đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã gián tiếp đào tạo
cho Việt Nam một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với công
nghệ mới, cũng như các kỹ năng quản lý tiên tiến, kỷ luật công nghiệp chặt chẽ.

Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết” (Bùi Trinh, Cảnh cáo hiệu quả cảu FDI, Báo
điện tử Pháp luật Tp HCM, 04/3/2010
1
). Ngoài ra, tình trạng phụ thuộc một chiều
vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư cũng
làm hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không tương xứng với chi phí của nước chủ
nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường.
Cơ cấu vốn FDI vào ngành công nghiệp cũng có một số bất hợp lý, dẫn đến
hiệu quả kinh tế của khu vực đầu tư nước ngoài chưa cao: FDI tập trung chủ yếu
vào các khu công nghiệpở những địa phương có điều kiện thuận lợi (TP.Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Hà Nội, Bà rịa-vũng tàu…).
Ngoài ra, doanh nghiệpcó vốn FDI có thể kìm hãm các doanh nghiệp trong
nước bởi vì các doanh nghiệp này thường có công nghệ khoa học tiên tiến hơn, tính
hiệu quả cao hơn, dẫn đến giá thành có thể rẻ hơn và chất lượng lại được nâng cao.
Nếu các doanh nghiệp Nhà nước không có sự điểu chỉnh đúng đắn và hợp lý thì sẽ
bị “biến mất” trên thị trường.
Theo một báo cáo năm 2010 của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai
đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm từ 2007 - 2009, đã đánh giá:
“Khu vực FDI kém hiệu quả nhất, hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ”. Trong 10
năm, hệ số ICOR (đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để
đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng) của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần
lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Vậy Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó
chứng tỏ hiệu quả là thấp nhất trong khi khối doanh nghiệp này vốn được kỳ vọng
sẽ thu hút lao động và chuyển giao công nghệ mới cho nền kinh tế.
Gần đây, còn có một bộ phận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
sử dụng những hình thức rất tinh vi được gọi là “chuyển giá ” để trốn thuế. Chuyện
này thường xảy ra trong các công ty con đặt tại Việt Nam và công ty mẹ đặt tại
nước ngoài. Các cuộc điều tra cũng đã cho thấy, khi nhập hàng vào gia công, các
công ty con thường khai khống giá thành nguyên liệu nhập của công ty mẹ lên rất
cao và khai thấp đi giá bán hàng khi xuất; kê khai giá nhập thiết bị cao chót vót để

kinh doanh.
Bà Lê Thị Bé Tuyết, Trưởng phòng xuất nhập khẩu của Công ty Yazaki EDS
Việt Nam (Nhật Bản), than rằng công ty bà đang gặp nhiều khó khăn trong việc
phải khai báo chi tiết khi nhập khẩu máy móc thiết bị cho việc sản xuất các linh
kiện ô tô. Trong khi ông Jung Eui Kwan, giám đốc kế hoạch của công ty TNHH
Shingsung Việt Nam góp ý "Cơ quan quản lý thay đổi chính sách thì nên theo
hướng tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp chứ không nên tạo thêm gánh
nặng cho doanh nghiệp” (Doanh nghiệp FDI tiếp tục than về thủ tục, Thời báo kinh
tế Sài Gòn, 8/4/2009
2
)
Sự phối hợp trong quản lí hoạt động FDI giữa các bộ ngành địa phương chưa
chặt chẽ, nặng về số lượng, chưa coi trọng chất lượng, còn tồn tại bệnh thành tích
trong cơ quan quản lí các cấp. Công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và
xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém.
Bên cạnh đó, việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương
nhiều khi thậm chí không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: quỹ đất; vấn
đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau
có liên quan trực tiếp tới công nghệ. Từ đó gây ra hệ quả là các công ty ở Việt Nam
2 />9
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
giống như các “phân xưởng” của công ty mẹ ở nước ngoài: lương lao động rất rẻ,
bệnh nghề nghiệp nhiều, các máy móc, trang thiết bị thì cũ kỹ, lạc hậu. Do vậy cũng
dễ hiểu tại sao hiệu quả của nhiều dự án đầu tư rất thấp.
Ngoài ra, công tác thông tin, tổng hợp còn những bất cập khiến cho thông tin
thiếu thông suốt, không đầy đủ và chưa kịp thời, gây khó khăn cho công tác quản
lý, điều hành.
3. Khả năng hấp thụ vốn kém
Thứ nhất, công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn

trình độ chất lượng cao. Mặc dù tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và đang làm việc trên
địa bàn thành phố là 58% lao động, cao hơn so với cả nước nhưng lại rất thấp so với
3 />10
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
yêu cầu chung của sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa của thành phố trong
giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn tiếp theo đến năm 2020. (Vẫn còn thiếu hụt
nguồn nhân lực có trình độ chất lượng cao,Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
23/09/2011
4
)
4. Quy mô thị trường nhỏ
Quy mô thị trường Việt Nam còn nhỏ bé, sức mua thấp, nhất là các vùng
nông thôn; mặt khác, nước ta lại chủ trương khuyến khích đầu tư hướng về xuất
khẩu, nhiều doanh nghiệp bị ràng buộc bởi điều kiện xuất khẩu trên 80% và phải tự
cân đối ngoại tệ
5. Các điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập
Thị trường vốn phát triển chậm nên hạn chế khả năng đáp ứng yêu cầu vốn vay
của các thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Còn tồn tại việc áp dụng chi phí hai giá phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp có vốn FDI.
Việc cung cấp nguyên liệu phụ tùng tại chỗ cho các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài gặp khó khăn và không ổn định, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh
và làm tăng giá thành sản phẩm.
6. Chưa chủ động tìm kiếm quảng bá để thu hút đầu tư
Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính
chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả. Chúng ta hầu như chỉ đợi nhà đầu tư đến chứ
chưa chủ động tìm kiếm, tiếp xúc, quảng cáo… nhằm thu hút vốn đầu tư.
4 />11
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp

chuyển giao công nghệ và đào tạo lao động.
Đồng thời, các dự án sẽ được xem xét một cách cẩn trọng, thậm chí không
cấp phép các dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; những dự án có quy
mô vốn thấp sử dụng diện tích đất lớn; những dự án khai thác, sử dụng nhiều tài
nguyên và công nghệ lạc hậu; những dự án tiêu tốn nhiều năng lượng
2. Đối với ngành công nghiệp
12
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
Bất kì một nền công nghiệp nào cũng cần có các ngành công nghiệp phụ trợ
để hỗ trợ phát triển.Tuy nhiên ở nước ta, ngành Công nghiệp phụ trợ vẫn còn rất
nhiều hạn chế. Do vậy yêu cầu đầu tiên và bức thiết đối với nước ta là phải ưu tiên
phát triển ngành Công nghiệp phụ trợ. Để giải quyết vấn đề này:
 Chính phủ cùng các ngành liên quan cần có chiến lược đầu tư vào khoa học
công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp phụ trợ. Từng
bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo. Phải xác định cho đúng những
đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan
mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao
động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất lượng và tay nghề
cao. Đồng thời xây dựng cơ chế hợp tác đào tạo giữa trường đại học và
doanh nghiệp, tiếp nhận sinh viên từ các trường đại học công nghiệp để đào
tạo thực hành tại doanh nghiệp sản xuất.
 Tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các đối tác, nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư
xây dựng khu công nghệ cao, công nghệ ứng dụng để đáp ứng nhu cầu của
nhà đầu tư nước ngoài trên lĩnh vực điện tử, tin học, lắp ráp ; liên kết với
các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để cung cấp linh kiện, sản phẩm phụ
trợ.
 Cần có sự hỗ trợ mạnh, hiệu quả của Nhà nước với sự phát triển của ngành
công nghiệp phụ trợ qua việc xây dựng quy hoạch, cơ sở hạ tầng và các
chính sách khác đối với doanh nghiệp đầu tư công nghiệp phụ trợ; đầu tư vốn

111_T11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam hằng năm của
Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
/>2. Báo cáo Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép hằng năm của
Tổng cục thống kê
/>3. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
/>4. Tin nhanh Việt Nam
/>5. Thời báo kinh tế Sài Gòn
/>6. Báo điện tử Pháp luật Tp HCM
/>7. Thời báo kinh tế Việt Nam
/>8. Bách khoa toàn thư mở
/>9. Đầu tư trực tiếp nước ngoài, được lấy về từ:
/>10. Tổng quan về FDI, được lấy về từ:
/>15
Nguyễn Mai Gia Phương, lớp
111_T11
MỤC LỤC
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status