TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH
Bài giảng môn: Kinh Tế Xây Dựng ThS. Phạm Phú Cường CHƯƠNG VI: LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG TRONG XÂY DỰNG
6.1 LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
6.1.1 KHÁI NIỆM
- Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác động, biến đổi các vật
chất tự nhiên thành các vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của con người.
- Lao động trong DN xây lắp là toàn bộ những người tham gia vào hoạt động sx xây lắp
của DN không kể thời gian dài hay ngắn, lao động trực tiếp hay gián tiếp, thường xuyên
hay tạm tuyển, lãnh đạo hay phục vụ...
6.1.2 KẾT CẤU LAO ĐỘNG TRONG DNXD
1. Lao động trong xây lắp
- Lao động trong xây lắp là những người tham gia vào hoạt động sản xuất chính (sx xây
lắp), bao gồm:
+ Công nhân xây lắp: là những người trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm.
+ Nhân viên kỹ thuật: là những người đang trực tiếp làm công tác kỹ thuật, có bằng
trung cấp kỹ thuật hoặc tương đương trở lên.
+ Nhân viên quản lý kinh tế: là những người đang trực tiếp làm công tác quản lý và tổ
chức DN như giám đốc, phó giám đốc và các nhân viên của các phòng ban chức năng
như phòng tài vụ, phòng kế hoạch, phòng vật tư...
+ Nhân viên quản lý hành chính: là những người làm công tác hành chính quản trị, tổ
chức...
2. Lao động ngoài xây lắp
- Lao động ngoài xây lắp là những người không tham gia vào sản xuất chính mà làm
công tác sản xuất phụ, phụ trợ (sx vật liệu xây dựng, sản xuất bê tông, cấu kiện...), mua
đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Phù hợp giữa khả năng của người lao động với nhiệm vụ đựơc giao.
+ Gắn liền giữa trách nhiệm và quyền lợi.
+ Phải căn cứ vào yêu cầu của công việc để định người.
+ Đảm bảo có thể quản lý được về mặt khoảng cách không gian và số lượng người.
+ Bố trí xen kẽ giữa lao động có trình độ cao với lao động có trình độ thấp.
+ Phân công công việc giữa các tổ phải đảm bảo cho mỗi khâu hoàn thành 1 công việc
đồng nhất trong 1 thời gian dài để tổ chức lao động được ổn định.
b) Tổ chức quá trình và nơi làm việc
*Khái niệm
- Nơi làm việc là khoảng không gian cần thiết để bố trí, xếp đặt các máy móc thiết bị,
đối tượng lao động và sản phẩm xây dựng, cũng như để cho công nhân và máy móc thiết
bị tham gia quá trình xây dựng đi lại, hoạt động.
- Nơi làm việc trong xây dựng được phân chia thành nơi làm việc cố định (như nhà máy
BTAF, bãi kết cấu BTCT, kho, bộ phận quản lý...), nơi làm việc bán cố định (trạm BTAF
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH
Bài giảng môn: Kinh Tế Xây Dựng ThS. Phạm Phú Cường
di động, bãi tạm thời...), nơi làm việc di động theo thời kỳ (lắp đặt các công trình nhân
tạo, các công tác tập trung...) và nơi làm việc di động thường xuyên (công tác đất, xây
dựng áo đường...).
* Nội dung của tổ chức quá trình lao động và nơi làm việc
- Xác định cơ cấu về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động tham gia vào sản
xuất.
- Bố trí mặt bằng thi công, bố trí nơi làm việc và sự di chuyển của lao động trên mặt
bằng thi công sao cho người lao động phải di chuyển ít nhất.
- Quá trình làm việc thoải mái đảm bảo tư thế làm việc thuận lợi và phương pháp thao
tác lao động hợp lý.
mức chuẩn và định mức riêng biệt.
6.3.2 NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1. Khái niệm
- Năng suất lao động (NSLĐ) là khả năng của con người sáng tạo ra 1 số lượng sản
phẩm vật chất có ích trong 1 thời gian nhất định.
- Năng suất lao động được xác định bằng số lượng sản phẩm làm ra trong 1 đơn vị thời
gian hoặc lượng thời gian hao phí để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.
2. Ý nghĩa của việc tăng NSLĐ
- Nâng cao NSLĐ sẽ làm tăng của cải vật chất cho xã hội và tạo điều kiện lớn nhất để
thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người. Không ngừng tăng NSLĐ là
điều kiện chính và quyết định để nền kinh tế phát triển và lớn mạnh.
- Tăng NSLĐ là cơ sở để tăng hiệu quả sx, tăng phúc lợi.
+ Hiệu quả sx là chỉ tiêu dùng để đánh giá hoạt động sxkd của DN được xác định
bằng: các yếu tố đầu ra/các yếu tố đầu vào.
- Là điều kiện để cải thiện các chỉ tiêu kinh tế khác như tăng lợi nhuận, giảm giá thành,
giảm chi phí lao động...
- Là điều kiện rút ngắn thời gian lao động, rút ngắn được thời gian xây dựng công trình,
sớm đưa công trình vào sử dụng, giảm thiệt hại do ứ đọng vốn, hạ giá thành và tăng lợi
nhuận của DN.
3. Các chỉ tiêu xác định NSLĐ
a) NSLĐ xác định theo thước đo hiện vật
- Theo thước đo hiện vật, NSLĐ phản ánh khối lượng sản phẩm bằng hiện vật làm ra
theo đầu người công nhân hay theo 1 đơn vị thời gian. Nó được xác định theo công thức:
T
Q
W ¦
Trong đó:
Q: khối lượng công tác hoặc số lượng sản phẩm, tính bằng T, m
3
T
QP
W
ii
.
¦ (đ/người, đ/ngày, đ/giờ...)
Trong đó:
Q
i
: khối lượng sản phẩm loại i.
P
i
: giá trị của 1 đơn vị sản phẩm loại i.
T: hao phí lao động (người, ngày, giờ...).
- Ưu điểm:
+ Chỉ tiêu này mang tính tổng hợp, NSLĐ được tính cho cả đội, cả DN khi làm nhiều
loại sản phẩm, nhiều loại công việc khác nhau.
+ Thuận tiện cho công tác thống kê và lập kế hoạch, dễ so sánh với các chỉ tiêu khác
(biểu hiện dưới dạng tiền tệ).
+ Đảm bảo sự ăn khớp với các kế hoạch khác như kế hoạch giá trị sản lượng, kế hoạch
hạ giá thành.
- Nhược điểm:
+ Phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ theo thời gian.