giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất tại chi nhánh ngân hàng no&ptnt huyện tiên lãng - Pdf 10


Báo cáo tốt nghiệp

“ Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất
tại Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng ”

mục lục
Lời mở đầu 1
Chương 1 Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại 3

1.1/ Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương
mại. 3
1.1.1/ Khái niệm cho vay 3
1.1.2/ Đặc điểm cho vay: 3
1.2/ Vai trò và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng Thương mại 4
1.2.1/ Vai trò của hoạt động cho vay 4
1.2.1.1/Đối với ngân hàng thương mại: 4
1.2.1.2/ Đối với nền kinh tế: 5
1.2.2/ Nguyên tắc cho vay của NHTM 5
1.2.2.1/Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng và có hiệu quả kinh tế . 6
1.2.2.2/ Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng
thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. 6
1.2.2.3/ Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản: 7
1.2.2.4/ Cho vay phải đề phòng và có biện pháp tránh rủi ro 7

1.7.4/ Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: 21
1.7.5/ Mức lãi ròng 22
1.7.6/Thu nhập từ tiền lãi ròng 22
1.7.7/ Quan hệ với khách hàng 23
1.7.8/Nhóm các chỉ tiêu khác 23
1.8/ Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay đối với hộ
sản xuất của ngân hàng thương mại 24
1.8.1/ Các yếu tố thuộc về Ngân hàng: 24
1.8.2/ Các yếu tố thuộc về khách hàng: 24
1.8.3/ Môi trường tự nhiên: 25
1.8.4/ Môi trường pháp lý: 25

1.8.5/ Môi trường kinh tế : 26
Chương 2 Thực trạng hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất tại chi
nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng 27
2.1/Hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng 27
2.1.1/ Quá trình phát triển của Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên
Lãng 27
2.1.2/ Hoạt động huy động nguồn vốn 31
2.1.2.1/Nguồn vốn phân theo tính chất huy động 32
2.1.2.2/ Nguồn vốn phân theo thời gian huy động: 32
2.1.2.3/ Thị phần nguồn vốn 32

2.1.2.4/ Triển khai áp dụng các hình thức huy động vốn 33
2.1.3/ Hoạt động cho vay ( sử dụng vốn) 34
2.1.3.1/ Tình hình cho vay: 35
2.1.3.2/ Tình hình thu nợ: 36
2.1.3.3/ Cơ cấu dư nợ: 36
2.1.3.3.1/ Dư nợ phân theo loại cho vay: 37
2.1.3.3.2/ Dư nợ phân theo thành phần kinh tế: 37

3.2.4/ Nắm vững và theo dõi sát sao tình hình sử dụng vốn vay của hộ vay
vốn: 51
3.2.5/ Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng 51
3.2.6/ Cho vay dựa vào tài sản thế chấp, cầm cố, đảm bảo tiền vay 52
3.2.7/ Nâng cao trình độ và phẩm chất cán bộ tín dụng 53
3.2.8/ Phân tích và xử lý nợ quá hạn 54
3.2.9/ Nâng cao trách nhiệm của ngân hàng với trung tâm phòng ngừa rủi ro 55
3.2.10/ Tăng cường hơn nữa các biện pháp huy động vốn để phấn đấu đủ 55
3.3/ Đề xuất và kiến nghị 56
3.3.1/ Với ngân hàng No&PTNT Việt Nam 56
3.3.2/ Với chính quyền địa phương 56
Kết luận 57 Lời mở đầu

Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng - để tài
trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Hoạt
động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển
kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự phát triển
của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa
giá trị tổng số và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 nguồn thu nhập của ngân hàng. Đồng
thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục
các khoản cho vay.
Do nước ta đi lên từ một đất nước thuần nông nên sản xuất nhỏ với
quy mô hộ là rất phổ biến. Theo chủ trương chính sách của đảng về phát triển
kinh tế thì kinh tế hộ sản xuất giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là các hộ
sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Tiên Lãng là một huyện ngoại thành thành
phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về phía Tây Nam,

Chương 1: Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất tại Chi nhánh
Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với hộ sản
xuất tại Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng.
Chương 1
Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.

1.1/ Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
1.1.1/ Khái niệm cho vay
Theo điều 3 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
thống đốc NHNN, “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tính chất
tín dụng giao cho khách hàng dùng một khoản tiền để dùng vào mục đích và
thời gian quyết định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Như vậy, ta có thể hiểu cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách
hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời
gian xác định. Có nghĩa là, khi hoạt động cho vay phát sinh, hai bên sẽ cam
kết với nhau như sau:

vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn.
+ Cho vay được ngân hàng cung cấp trên phạm vi rộng, đối với mọi thành
phần kinh tế xã hội.
1.2/ Vai trò và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng Thương mại
1.2.1/ Vai trò của hoạt động cho vay
1.2.1.1/Đối với ngân hàng thương mại:
+ Cho vay là một nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động sử dụng vốn của các
ngân hàng thương mại, là loại tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng do
đó cũng là loại tài sản chiếm quy mô lớn trong khoản mục tài sản của ngân
hàng thương mại. Với quy mô lớn như vậy, cho vay ảnh hưởng tới rất nhiều
chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ, vay, đầu tư.
+ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại
để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ hoạt động cho vay mới bù đắ
p
nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, nộp thuế và

các loại phí trong kinh doanh, bù đắp những tổn thất về rủi ro, có thể nói cho
vay mang lại thu nhập lớn nhất cho các ngân hàng thương mại.
1.2.1.2/ Đối với nền kinh tế:
+ Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tín dụng của các
chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh
tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi
vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả 3 giai đoạn: dự trữ- sản
xuất- lưu thông. Từ đó xảy ra hoạt động thừa vốn và thiếu vốn tạm thời của
các doanh nghiệp, tức là tại một thời điểm quyết định có những đơn vị kinh tế
có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và có những đơn vị tạm thời thiếu vốn. Đây là

doanh như tất cả các lĩnh vực khác. Bởi vậy, khi ngân hàng cấp vốn cho
người vay là thời điểm chính thức bắt đầu một chu kỳ kinh doanh, vốn được
đầu tư vào các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Khi người vay hoàn trả
nợ vay, chu kỳ kinh doanh của ngân hàng kết thúc. Với ý nghĩa đó, người vay
phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi thì khả năng tái kinh doanh của ngân
hàng mới có thể thực hiện được.
Biểu hiện trong thực tế của nguyên tắc này:
- Khi vay vốn người vay phải cam kết hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng bằng
một điều khoản trong hợp đồng tín dụng hoặc khế ước nhận nợ.
- Đến kỳ hạn hoàn trả theo cam kết nếu người vay thiếu hoặc mất khả năng
thanh toán và không được ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ
thì ngân hàng được quyền áp dụng các điều khoản trong thể lệ tín dụng hiện
hành để xử phạt người vay ( chuyển nợ quá hạn, phát mại tài sản thế chấp,
phong toả tài sản của người vay hoặc khởi kiện trước pháp luật ) .

1.2.2.3/ Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản:
Đây là nguyên tắc đảm bảo cho sự sống còn của các ngân hàng thương
mại, giúp ngân hàng ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất, kể cả
các trường hợp con nợ hoàn toàn mất khả năng thanh toán. Đảm bảo tiền vay
được coi như một cơ sở vật chất vững chắc để đảm bảo sự an toàn tiền vốn
của các ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường. Về mặt lý thuyết cũng
như trong thực tệ, đảm bảo tiền vay có thể được thực hiện đồi với các hình
thức sau:
- Người vay thế chấp tài sản.
- Người vay phải được bảo lãnh bởi người thứ ba.
- Người vay thế chấp nợ vay bằng chính tài sản được hình thành từ nguồn
vốn vay của ngân hàng.
Việc áp dụng hình thức đảm bảo nào hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện
hoàn cảnh cuả người vay và cơ chế tín dụng hiện hành.
.2.2.4/ Cho vay phải đề phòng và có biện pháp tránh rủi ro

năng dự báo rủi ro của ngân hàng
1.3.2/ Phân loại theo tài sản đảm bảo :
Theo Điều 4 mục 1 tại Nghị định 178/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của
Chính Phủ quy định rõ “ việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không
có đảm bảo theo quy định của Nghị định này và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình. Trường hợp tổ chức tín dụng Nhà nước cho vay không có đảm
bảo bằng tài sản theo chỉ định của Chính Phủ, thì tổn thất do nguyên nhân
khách quan của các khoản vay này được Chính Phủ xử lý”.
Do đó, căn cứ năng lực, uy tín và phương án kinh doanh của từng khách
hàng, ngân hàng sẽ quyết định cho vay có tài sản đảm sản hay không có tài
sản đảm bảo.
+ Cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay mà khoản cho vay đó có
sự đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, tức là
ngân hàng sẽ có nguồn thu nợ thứ hai khi ngân hàng thu nợ thứ nhất không
thực hiện được.

+ Cho vay không có tài sản đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ 3, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của khách hàng như: làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững
mạnh, ít xảy ra nợ nần, có quan hệ lâu dài với ngân hàng hoặc cho vay theo
chỉ thị của Chính phủ.
1.3.3/ Một số cách phân loại khác.
+ Phân theo ngành kinh tế ( công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng )
+ Theo mục đích ( sản xuất, tiêu dùng ).
+ Theo đối tượng khách hàng ( doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân, hộ gia đình )
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong
hoạt động cho vay của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ
mở rộng phạm vi tài trợ vốn song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân

tránh khỏi những thiệt hại phát sinh, đồng thời tiết kiệm cho ngân hàng lượng
thời gian và chi phi không nhỏ.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều
món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như
vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay ( phân tích, giám
sát, thu nợ) . Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của
ngân hàng.
Tuy nhiên, nếu ngân hàng không kiểm soát tốt, nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình sẽ tăng lãi suất để cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của
các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán
hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.5/ Phương thức cho vay
1.5.1/ Cho vay từng lần ( cho vay theo món)
Phương thức này sử dụng tài khoản cho vay đơn giản, được thực hiện
trên cở từng phương án, từng thương vụ theo yêu cầu của mỗi bên vay, áp
dụng cho các đơn vị tổ chức kinh tế có đủ điều kiện vay vốn nhưng không

đủ điều kiện để vay theo tài khoản luân chuyển, hay doanh nghiệp không có
nhu cầu vay vốn thường xuyên. Mỗi lần vay doanh nghiệp phải làm đơn xin
vay có giải trình cụ thể về mục đích vay vốn, số lượng cần vay, số vốn doanh
nghiệp có khả năng trả nợ vốn vay. Đây là phương thức cho vay áp dụng phổ
biến ở Việt Nam. Mỗi kế hoạch sản xuất quý, mỗi phương án, mỗi thương vụ,
mỗi nhu cầu vay vốn, đó là một món vay.
Trong cho vay từng lần thì vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn
hay một quy trình nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân
chuyển vốn của đơn vị hoặc tham gia vào toàn bộ quá trình đó nhưng không
thường xuyên liên tục. Về phía ngân hàng thì việc cho vay và thu nợ được xử
lý theo từng món vay.
Nếu đến kỳ hạn trả nơ mà bên vay không có đủ tiền để trả thì họ cần
phải làm đơn xin gia hạn. Thời gian gia hạn sẽ vượt quá thời hạn trước cho

khoản tiền gửi thì ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Các khoản chi quá hạn mức
thấu chi sẽ bị lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này.
Phương thức cho vay này tạo đỉều kiện thuận lợi cho khách hàng trong
quá trình thanh toán chủ động, nhanh, kịp thời. Thấu chi là hình thức tín dụng
ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể
cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong
năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi tuy là loại hình tín dụng cổ điển nhưng có
nhiều ưu điểm, vì giảm bớt được nhiều thủ tục vay vốn rườm rà, tiết kiệm
được nhiều chi phí cho cả ngân hàng lẫn khách hàng vay vốn. Thấu chi là
phương thức cho vay mới được phép áp dụng ở Việt Nam từ năm 2002 theo
quy chế cho vay mới ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của
Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam.
1.5.3/ Cho vay luân chuyển
Phương thức cho vay luân chuyển hàng hoá là nghiệp vụ cho vay dựa
trên luân chuyển hàng hoá. Một khoản cho vay luân chuyển cho phép khách

hàng có thể vay tới một mức tối đa và xác định trước sẽ hoàn trả toàn bộ hay
trả một phần khoản vay và tiếp tục vay khi có nhu cầu cho đến khi hợp đồng
cho vay hết hạn.
Cho vay luân chuyển là một trong những khoản cho vay kinh doanh
linh hoạt nhất. Các khoản cho vay như thế có thể ngắn hạn hoặc có thể kéo
dài 3-4 năm, thậm chí đến 5 năm. Loại hình tín dụng này được áp dụng nhiều
nhất khi khách hàng không chắc chắn về thời gian của các luồng tiền mặt hay
về quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương lai. Cho vay luân
chuyển giúp khách hàng vay thêm tiền mặt trong lúc khó khăn khi mà dân số
bán hàng giảm và cho phép hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền của khách hàng
tăng lên.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp
thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có

Kinh tế hộ sản xuất cùng các thành phần kinh tế khác tạo nên sự gắnbó,
song song tồn tại và cùng nhau phát triển. Thực tế cho thấy ở nước ta kinh tế
hộ sản xuất đã đưa lại kết quả không nhỏ trong việc phát triển nền kinh tế
thông qua việc tạo công ăn việc làm, thu hút nguồn vốn nhàn rỗi, tạo sản
phẩm và duy trì các ngành nghề truỳên thống.
1.6.1.2/ Đặc điểm của hộ sản xuất
+ Về nhân lực : Hộ sản xuất chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có với quy mô gia
đình. Tuy nhiên khi cần họ cũng có thể thuê thêm lao động để mở rộng sản
xuất.
+ Về ngành nghề : Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực,
với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, bao gồm sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thậm chí có hộ còn tham gia sản xuất trong
lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp là chủ yếu.
+ Về quy mô sản xuất : Hộ sản xuất thường hoạt động với quy mô nhỏ, tức là
quy mô gia đình và trang trại là chủ yếu. Do điều kiện về nguồn, khả năng

quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường nên hộ sản xuất rất khó mở rộng quy
mô.
+ Về năng lực quản lý : Khả năng quản lý của hộ còn rất nhiều hạn chế. Khả
năng quản lý và tổ chức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được tích luỹ
trong cuộc sống.
1.6.1.3/ Phân loại hộ sản xuất
Để hoạt động của ngân hàng phát huy được tác dụng đem lại hiệu quả
cao, người ta thường phân loại hộ sản xuất một cách có căn cứ thực tế. Điều
này giúp cho ngân hàng có những chính sách tín dụng thích hợp đối với hộ
sản xuất. Mặt khác, cũng giúp cho Nhà nước có những biện pháp chính sách
phù hợp với việc phát triển kinh tế xã hội. Có hai loại hộ sản xuất:
+ Hộ thông thường : là loại hộ sản xuất có khả năng sản xuất kinh doanh đủ
mức sinh hoạt, thậm chí có dư thừa để mang ra thị trường tiêu thụ. Những hộ

nhàn rỗi, tiếp nhận những khoa học công nghệ mới trên cơ sở giữ gìn, phát
huy những truyền thống lâu đời.
Chính bởi những vai trò đó, hộ sản xuất là một thành phần kinh tế không
thể thiếu của nền kinh tế nước ta, là khách hàng quan trọng đối với các ngân
hàng thương mại,
1.6.1.5/ Nhu cầu vốn của hộ sản xuất
Hiện nay, khi Nhà nước giao quyền sử dụng tài nguyên, đất đai đến từng
hộ sản xuất, mỗi hộ trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, phải tự tính toán mức
độ đầu tư cho sản xuất, chính vì vậy nhu cầu vốn của hộ sản xuất là rất lớn.
Mặt khác, nguồn vốn của hộ sản xuất chủ yếu là tự có với quy mô nhỏ.
Đây là nguồn vốn do tự tiết kiệm, tích luỹ được, hoặc do vay mượn người
quen, bạn bè. Nên mỗi hộ sản xuất có thể tự mình giải quyết được vấn đè này.
Chính vì vậy, ngân hàng phải tiếp cận nhanh chóng với lương khách hàng
rộng lớn này nhằm đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho hộ sản xuất để họ có điều

kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống xã hội, đồng thời cũng tạo thu
nhập cho ngân hàng.
1.6.2/ Vai trò của hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
Hoạt động cho vay đối với họ sản xuất có vai trò rất lớn trong nền kinh
tế.
1.6.2.1/ Xét về phía hộ sản xuất:
+ Hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì
quá trình sản xuất phát triển kinh tế. Như đã nói ở trên hộ sản xuất rất thiếu
vốn để sản xuất kinh doanh, hiện tượng thiếu vốn đối với hộ sản xuất không
chỉ xuất hiện khi họ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh mà xảy ngay cả
khi họ mới bắt đầu bước vào sản xuất . Để đảm bẩo cho quá trình sản xuất
kinh doanh của mình được duy trì và không bị gián đoạn, họ phải tìm kiếm
các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn của mình. Với vai trò trung gian tài chính
của mình, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của hộ với khối lượng thời gian
phù hợp với chu kỳ sử dụng vốn cho sản xuất kinh doanh và với chi phí sử

+ Cho vay đối với hộ sản xuất còn giúp ngân hàng mở rộng thì trường
cung ứng sản phẩm giúp ngân hàng nâng cao thi phần của mình, tạo nên một
thị trường cung ứng sản phẩm trên diện rộng nhằm hạn chế rủi ro.
+ Cho vay đối với hộ sản xuất là công cụ để ngân hàng thể hiện các nghĩa
vụ đối với chính sách của Nhà nước như chính sách cho vay nhằm xoá đói
giảm nghèo. Mặt khác, cho vay đối với hộ sản xuất cũng làm hiện tượng cho
vay nặng lãi ở nông thôn làm ảnh hưởng đến uy tín của hoạt động tín dụng.
1.6.3/ Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
Cho vay đối với hộ sản xuất cũng mang đầy đủ những đặc điểm chung
của hoạt động cho vay. Tuy nhiên, do đặc trưng riêng của hộ sản xuất nên cho
vay đối với hộ sản xuất cũng có một số đặc điểm riêng. Đó là:
+ Mức tiền vốn cho vay đối với hộ sản xuất thường không quá lớn

+ Thời hạn cho vay đối với hộ sản xuất chủ yếu là ngắn hạn
+ Cho vay đối với hộ sản xuất thường là rủi ro rất cao, do hộ sản xuất là
đơn vị kinh tế tự chủ về tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó tự
chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt là đối với hộ nông dân,
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, giá cả Nếu mất mùa họ không
có khả năng trả nợ, do đó thu nhập của ngân hàng cũng giảm
+ Bên đi vay là các hộ sản xuất có nhu cầu về vốn
1.6.4/ Điều kiện cho vay đối với hộ sản xuất
Ngân hàng No&PTNT, nơi cho vay xem xét và quyết định cho vay
khi khách hàng có đủ các điều kiện được quy định theo điều 7 Quyết định số
1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt
Nam và các văn bản quy định của ngân hàng No&PTNT:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lưc hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định cảu pháp luật. Đối với hộ gia đình và cá nhân
phải
- Cư trú ( thường trú, tạm trú ) tại địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố
(trực thuộc tỉnh) nơi Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT cho vay đóng trụ sở.

vốn vay một cách hợp lý nhất nhằm tạo ra một số lượng tài sản lớn hơn để
trang trải chi phí tạo lợi nhuận và hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
Đề cập tới hiệu quả hoạt động cho vay, người ta xét trên ba khía cạnh:
+ Hiệu quả cho vay xét từ góc độ ngân hàng
Thể hiện trên phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay phải phù hợp với khae
năng cảu chính ngân hàng theo hướng tích cực. Mặt khác, phải đảm bảo khả
năng cạnh tranh và uy tín của ngân hàng trên thị trường, đảm bảo thu nợ đầy
đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn, hạn chế ở mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể
xảy ra.
Hoạt động cho vay của ngân hàng phải đảm bảo được hai nguyên tắc:
sinh lời và an toàn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status