Tài liệu Vai trò quan trọng của Vitamin A và cách phòng chống thiếu Vitamin A 04 - Pdf 10

Vai trò quan trọng của Vitamin A và cách phòng chống thiếu Vitamin A 04/06/2012 7:37:59 SA
Vitamin A là một trong ba loại vi chất (iốt, vitamin A, sắt) đang được quan tâm, vì sự thiếu hụt các vi chất này ở các nước đang phát triển đã
và đang trở thành vấn đề đối với sức khỏe cộng đồng.
1.

Vai trò của vitamin A: Vitamin A là một vi chất có vai trò quan trọng đặc biệt đối
với trẻ nhỏ, gồm 4 vai trò chính đó là:


Tăng trưởng: Giúp trẻ lớn lên và phát triển bình thường. Thiếu vitamin A trẻ sẽ chậm
lớn, còi cọc.


Thị giác: Vitamin A có vai trò trong quá trình nhìn thấy của mắt, biểu hiện sớm của
thiếu vitamin A là giảm khả nǎng nhìn thấy lúc ánh sáng yếu (hay còn gọi quáng gà).
Cần đa dạng thực phẩm trong bữa ăn của trẻ để phòng thiếu Vitamin A


Bảo vệ biểu mô: Vitamin A bảo vệ sự toàn vẹn của các biểu mô, giác mạc mắt, biểu mô
da, niêm mạc khí quản, ruột non và các tuyến bài tiết. Khi thiếu vitamin A, biểu mô và niêm
mạc bị tổn thương. Tổn thương ở giác mạc mắt dẫn đến hậu quả mù lòa.


Miễn dịch: Vitamin A tǎng cường khả nǎng miễn dịch của cơ thể. Thiếu vitamin A làm
giảm sức đề kháng với bệnh tật, dễ bị nhiễm trùng nặng đặc biệt là sởi, tiêu chảy và viêm
đường hô hấp dẫn tới tăng nguy cơ tử vong ở trẻ nhỏ.
Mới đây, người ta còn phát hiện vitamin A có khả nǎng làm tăng sức đề kháng với các
bệnh nhiễm khuẩn, uốn ván, lao, sởi, phòng ngừa ung thư…
2.

Phòng chống thiếu vitamin A như thế nào?



!" #$%&#'(#)*+,-
!./& 0$/1%&#'(*)#)/2'3*4
./15#'(25-*+2$&#-,--678
/29:;2<#=&3,-'>
!.? @#'(12*+6@=9&A#'(18*+2B
C#'(&D25->E5BC?F&D56G%&$B
CH-)2#=&3&I#J*J?%'>
!H C00;2F-%*-2H'H6K2$&
#'>H1ALJ'+#G*I#)C006/6M&K
9*I%'9
!N6'+ &;2<6-)*%'>&
5)2=CH-)2#=&36-2H&O&
#=&36-%',)2&',/&J,*F'>;2
F&H*?=
!PI=Q? #$#GI2)*%,-&
R&69=?2*ID%'>
!=S CT;2FS:G6-%=

!=2' #$CFS%&3=LU#):G#'(
$6=*I2'
Trẻ cần vitamin A để kháng lại bệnh tật và phòng ngừa giảm thị lực. Vitamin A có trong nhiều loại hoa quả,
dầu, trứng, gan cá, rau lá xanh thẫm, cà rốt, sản phẩm bơ sữa, sữa mẹ hoặc chất có bổ sung vitamin A.
Từ khi sinh cho tới lúc 6 tháng tuổi, sữa mẹ cung cấp cho trẻ tất cả lượng vitamin A cần thiết, với điều kiện
người mẹ có đủ vitamin A thông qua thực đơn hằng ngày hoặc các chất bổ sung. Trẻ 6 tháng tuổi và lớn hơn cần
hấp thụ vitamin A từ thức ăn hoặc các chất bổ sung.
Thiếu Vitamin A có thể gây mù lòa vĩnh viễn: khi thiếu vitamin A, trẻ có nguy cơ bị quáng gà (không nhìn thấy
rõ trong điều kiện ánh sáng yếu), gây tổn thương giác mạc mắt có thể gây mù lòa vĩnh viễn
Nếu trẻ khó nhìn vào sáng sớm hoặc buổi tối, có thể trẻ cần thêm vitamin A. Trong trường hợp này trẻ phải

Vitamin A không chỉ gây khô mắt dẫn tới mù loà mà nó còn làm tăng nguy cơ tử vong, bệnh tật
và làm giảm sự tăng trưởng của trẻ. Chính vì vậy tiếp tục quan tâm phòng chống thiếu Vitamin A
là thiết thực cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ cho con em chúng ta.
Vai trò của vitamin A đối với cơ thể
Vitamin A là một vi chất có vai trò quan trọng đặc biệt đối với trẻ nhỏ, gồm 4 vai trò chính như sau:
• Tăng trưởng: Giúp trẻ lớn lên và phát triển bình thường. Thiếu Vitamin A trẻ sẽ chậm lớn, còi cọc.
• Thị giác: Vitamin A có ai trò trong quá trình nhìn thấy của mắt, biểu hiện sớm của thiếu Vitamin A
là giảm khả năng nhìn thấy lúc ánh sáng yếu (quáng gà).
• Bảo vệ biểu mô: Vitamin A bảo vệ sự toàn vẹn của các biểu mô, giác mạc mắt, biểu mô da, niêm
mạc khí quản, ruột non và các tuyến bài tiết. Khi thiết Vitamin A, biểu mô và niêm mạc bị tổn
thương. Tổn thương ở giác mạc mắt dẫn đến hậu quả mù loà.
• Miễn dịch: Vitamin A tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể. Thiếu Vitamin A làm giảm sức
đề kháng với bệnh tật, dễ bị nhiễm trùng nặng đặc biệt là Sởi, Tiêu chảy và viêm đường Hô hấp
dẫn tới tăng nguy cơ tử vong ở trẻ nhỏ.
Mới đây người ta còn phát hiện Vitamin A có khả năng làm tăng sức đề kháng với các bệnh nhiễm khuẩn,
uốn ván, lao, sởi, phòng ngừa ung thư…
Nguyên nhân thiếu vitamin A
Có thể lấy Vitamin A từ thức ăn và được dự trữ chủ yếu ở gan. Thiếu Vitamin A chỉ xảy ra khi lượng
Vitamin A ăn vào không đủ và Vitamin A dự trữ bị hết. Các nguyên nhân gây thiếu Vitamin A gồm:
• Do ăn uống thiếu Vitamin A: Cơ thể không tự tổng hợp được Vitamin A mà phải lấy từ thức ăn,
do vậy nguyên nhân chính gây thiếu Vitamin A là do chế độ ăn nghèo Vitamin A và Caroten (tiền
Vitamin A). Nếu bữa ăn đủ Vitamin A nhưng lại thiếu đạm và dầu mỡ cũng làm giảm khả năng
hấp thu và chuyển HOÁ VITAMIN A. Ở trẻ đang bú thì nguồn Vitamin A là sữa mẹ, nếu trong thời
kỳ này mẹ ăn thiếu Vitamin A sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đứa trẻ.
• Nhiễm trùng: Trẻ bị nhiễm trùng đặc biệt là lên sởi, viêm đường hô hấp, tiêu chảy và cả nhiễm
giun đũa cũng gây thiếu Vitamin A.
• Suy dinh dưỡng thường kéo theo thiếu Vitamin A vì cơ thể thiếu đạm để chuyển hoá Vitamin A.
Nhiễm trùng và suy dinh dưỡng làm hạn chế hấp thu, chuyển hoá Vitamin A đồng thời làm tăng nhu cầu
sử dụng Vitamin A, ngược lại thiếu Vitamin A sẽ làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng và suy dinh dưỡng, như
vậy sẽ tạo thành một vòng luẩn quẩn làm bệnh thêm trầm trọng dẫn đến nguy cơ tử vong cao.

muối ăn để phòng chống các rối loại do thiếu Iốt). Sắt được trộn vào nước mắm để phòng
chống thiếu máu dinh dưỡng. Vitamin A cũng được trộn vào một số thực phẩm như
đường, mỳ ăn liền, bánh kẹo… để phòng chống thiếu Vitamin A. Hiện nay chúng ta đang
nghiên cứu đưa các vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Trong những năm không xa thì
giải pháp này là quan trọng để giải quyết thiếu Vitamin A ở nước ta.
• Giáo dục dinh dưỡng: Song song với các giải pháp nói trên cần đẩy mạnh công tác giáo
dụch dinh dưỡng tới mọi người dân để biết cách sử dụng các nguồn thực phẩm giàu
vitamin A sẵn có đưa vào bữa ăn hàng ngày của gia đình và của trẻ nhỏ.
THIÊU VITAMIN A Ở TRẺ EM
AVVWXWYVV4VZ ZZ4[
THIÊU VITAMIN A Ở TRẺ EM
MỤC TIÊU
Trình bày được nguồn gốc, vai trò và chuyển hoá vitamin A trong cơ thể.
Liệt kê được những nguyên nhân gây thiếu vitamin A hay gặp ở trẻ em.
Trình bày được triệu chứng lâm sàng do thiếu vitamin A ở trẻ em.
Trình bày được cách điều trị và phòng bệnh thiếu vitamin A cho trẻ em.
NỘI DUNG
1.Dịch tễ học bệnh thiếu vitamỉn A
Hiện nay ở nước ta bênh thiếu vitamin A là một vấn đề sức khỏe cộng đồng^ cần được ưu tiên
Ty lệ trẻ dưới 5 tuổi bị mắc bệnh là 0,7% trong đó số có tổn thương giác mạc là 0,07%o. Mù do
khô mắt chiếm 0,05% tre em dưới 5 tuôì là một trong những nguyên nhân chinh gây mù lòa ở trẻ
em. Bệnh đang lưu hành ở tất cả các địa phương vối tỷ lệ khác nhau nhưng đeu cao hơn nhiều so
với quy định của Tổ chức Y tế thế giới. Chê độ ăn của trẻ em Việt Nam còn nghèo vitamin A va
chất béo, các tục lệ ăn uốnẹ kiêng cữ không hợp lý vân còn phổ biến Thực tê tại cộng đồng có rất
nhiều trẻ dưới 5 tuôi bị thiêu vitamin A măc dù khong có biểu hiện khô mắt. Thiếu vitamin A sẽ
làm cho cơ thể trẻ chậm phát tnễn, dê măc bệnh nhiễm trùng như viêm phổi, tiêu chảy, suy dinh
dương,
Những trẻ có nguy cơ bị thiếu vitamm A bao gồm: trẻ không được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ;
Tre sinh đôi, sinh’ba, con nuôi hay gia đình đông con; Trẻ ăn sam sớm và thức an chu yếu ia bột,
thiếu rau xanh, chất đạm và đặc biệt thiếu chất béo; Trẻ thường xuyên bị an kiêng: mỡ, rau xanh,

các tác giả thấy rằng các trẻ bị thiếu vitamin A rất dễ bị nhiêm trùng ở da, hô hấp, tiêu hóa và tiết
niệu, vì thế vitamin A gián tiếp ảnh hưởng tối tỷ lệ tử vong trẻ em.
Vitamin A với thị giác: Vitamin A cần thiết cho quá trình chuyển hóa Rhodopsin vì vậy nó có
vai trò cần thiết cho cấu tạo của tế bào hình que và tế bào hình nón của võng mạc giúp trẻ nhìn
tốt lúc ánh sáng bên ngoài giảm và giúp trẻ phân biệt các màu săc
3.Nguyên nhân thiêu vitamin A ở trẻ em Việt Nam
3.1Do chế độ ăn thiếu vitamin A
Trẻ không được bú sữa non: Gặp ở những nơi tập quán lạc hậu, dân trí thấp, không cho trẻ bú
sữa non là sữa bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ có tỉ lệ vitamin A cao hơn nhiều lần so với sữa
vĩnh viên và các loại sữa khác.
Mẹ bị thiếu hoặc không có sữa, sai lầm về phương pháp nuôi dưõng, trẻ chỉ được nuôi đơn thuần
bằng nước cháo, bột hoặc bằng sữa đặc có đường, tỷ lệ vitamin A trong những thức ăn này rất
thấp.
Kiêng ăn chất béo (dầu thực vật và mõ động vật): Đa sô' trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ ốm và trẻ bị tiêu
chảy đều bị kiêng ăn những thức ăn có dầu mõ, thậm chí kiêng cả sữa mẹ dán đến cung cấp và
hấp thu vitamin A kém.
Ăn sam không đúng: Cho trẻ ăn sam sớm hoặc muộn, chưa biết tô màu bát bột và cho ăn thêm
các thức ăn giàu vitamin A.
3.2 Do bệnh tật
Bênh thiếu vitamin A hay gặp ồ trẻ măc các bệnh: Tiêu chay keo dai, suy giap trạng, viêm gan,
đái tháo đường, suy dinh dưỡng nặng the Kvvashiorkor.

4.Triệu chứng lâm sàng bệnh do thiếu vitamin A
Thời kỳ toàn phát (thời kỳ lâm sàng)
Thời kỳ này tổn thương mắt do thiêu vitamm A xuất hiện, biểu hiện sớm nhất là dấu hiệu quáng
gà, sau đó xuất hiện vệt Bitot, nặng hơn thì khô, loét, thủng giác mạc. Toàn thân bị ảnh hưởng
nặng, suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
Tổn thương tại mắt:
Thiêu vitamin A bịểu hiện ở mắt dẫn tới mù lòa. Tố chức Y tế thê giới đã đề nghị phân loại lâm
sàng bệnh khô măt do thiêu vitamin A theo mức độ từ nhẹ đến nặng như sau:

Đáp ứng bóng tối: Cho ngồi phòng tối, sau đó dùng đèn khám để đo đồng tử, bình thường đồng
tử thay đổi nhanh, khi thiếu vitamin A đồng tử thay đổi chậm.
Chân đoán muộn: Chủ yêu dựa vào lâm sàng, khi đã có các tổn thương mắt từ XN đến XF.
7
.
Điểu trị bệnh thiếu vitamin A
Chỉ định cho những trẻ
Thiếu vitamin A biểu hiện ở mát, từ mức độ nhẹ đến nặng ( XN-XF).
Suy dirih dưỡng nặng.
Suy dinh dưỡng vừa kèm theo sởi, ho gà, lao,
Suy dinh dưỡng vừa kèm theo nhiễm trùng hô hấp, tiêu hoá, da, tiết niệu tái diễn
Liều lượng và cách sử dụng: Chia làm hai nhóm tuổi:
Trẻ dưới 1 tuỏi:
Cho uống vitamm A tổng liêu 300.000 đơn vị chia làm 3 lần môi lân 100.000 đơn vị vào các
ngày như sau:
+ Liều thứ nhất uống ngay khi trẻ nhập viện
+ Liều thứ hai uống vào ngày thứ hai sau khi nhập viện
+ Liều thứ ba cách liều thứ 2 từ 7 đến 10 ngày để tránh ngộ độc vitamin A
Trẻ trên 1 tuổi:
Uổng vitamin A tổng liều 600.000 đơn vị chia 3 lần , môi lần 200.000 đơn vị vào các ngày như
trên.
Khi sử dụng vitamin A liều tấn công cần lưu ý:
Nếu trẻ không uống được vì nôn nhiều hoặc tiêu chảy nặng, có thê sử dụng vitamin A bằng
đường tiêm bắp VỚI tổng liều sử dụng bằng 1/2 tổng liều uông.
Song song với cho uống vitamin A cần kêt hợp nuôi trẻ bằng chê độ ăn có tỷ lệ cân đôi chất đạm,
mỡ, đường và giàu vitamin A.
Dùng quá liều trên dễ gây ngộ độc cho trẻ.
8. Phòng chống bệnh thiếu vỉtamin A
. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Với các bà mẹ và người chăm sóc trẻ:

quả màu da cam có chứa nhiều carotene: rau ngót, cà chua, cà rốt.
Vitamin A và các carotenoide rất nhạy cảm với oxy trong không khí và ánh sáng, bền
vững với nhiệt độ vừa phải, tan trong chất béo, không tan trong nước, tích lũy trong tế
bào mỡ của gan nhưng trong thịt và mỡ gia súc thì không đáng kể.
1.2. Chuyển hóa vitamin A:
Vitamin A được hấp thu qua ruột non nhờ mỡ, muối mật, và dịch tụy. Phần lớn vitamin A
được vận chuyển tới gan và tích lũy ở gan dưới dạng ester trong các tế bào mỡ.
Khoảng 80% vitamin A trong thức ăn được hấp thu trong đó 60% tích lũy ở gan, 40%
nhanh chóng chuyển hoá và bài tiết theo phân và nước tiểu. Ở người bình thường dự
trữ ở gan chiếm khoảng 90% lượng vitamin A trong cơ thể. Khi ra khỏi gan, ester retinin
thủy phân thành retinol, kết hợp với một protein đặc hiệu: protein gắn retinol (retinol
binding protein: RBP). RBP được tổng hợp ở gan và chỉ giải phóng vào máu dưới dạng
kết hợp RBP-Retinol. RBP vận chuyển retinol từ gan tới các cơ quan đích. Khi thiếu
vitamin A, giải phóng RBP bị ức chế, retinol và RBP trong huyết thanh bị giảm. Thiếu
kẽm có liên quan đến chuyển hóa vitamin A và cản trở sự oxy hóa ở võng mạc.
1.3. Vai trò của vitamin A trong cơ thể:
- Vitamin A có tác dụng góp phần trong quá trình tăng trưởng. Thiếu vitamin A sẽ làm
cho trẻ chậm lớn.
- Ở mắt, vitamin A kết hợp với một protein để tổng hợp Rhodopsin cần cho sự nhìn khi
thiếu ánh sáng. Do đó biểu hiện sớm của bệnh là quáng gà: giảm khả năng nhìn trong
bóng tối.
- Vitamin A cần thiết cho quá trình biệt hoá các tổ chức biểu mô, khi thiếu vitamin A sự
sản xuất các niêm dịch bị giảm, da khô và sừng hoá các niêm mạc phế quản, dạ dày,
ruột… Biểu mô giác mạc, kết mạc và và ống dẫn các tuyến lệ bị sừng hoá dẫn đến
bệnh khô mắt. Từ kết mạc, sự sừng hóa lan sang giác mạc gây ra nhuyễn giác mạc.
- Vitamin A tham gia vào quá trình đáp ứng miễn dịch. Tỷ lệ mắc bệnh ỉa chảy, và viêm
đường hô hấp ở trẻ thiếu vitamin A nhiều hơn ở trẻ bình thường. Vì thế người ta gọi
vitamin A là vitamin chống nhiễm khuẩn.
- Phòng ngừa ung thư nhưng chưa rõ ràng.
1.4. Nhu cầu viatamin A: Thay đổi theo lứa tuổi và giới hoặc tình trạng của phụ nữ.

kém kiến thức về dinh dưỡng.
3.2. Do rối loạn quá trình hấp thu:
- Do rối loạn quá trình hấp thu vitamin A ở ruột: ỉa chảy kéo dài, lỵ, tắc mật.
- Do suy gan: gan có vai trò quan trọng trong chuyển hóa vitamin A. Vitamin A tan trong
mỡ, gan tiết ra mật điều hòa chuyển hóa mỡ giúp chuyển hóa vitamin A. Hơn nữa gan
có vai trò tổng hợp vitamin A.
- Suy dinh dưỡng protein-năng lượng đặc biệt là thể Kwashiokor.
3.3. Do tăng nhu cầu vitamin A: trẻ càng nhỏ càng dễ bị thiếu vitamin A vì nhu cầu cao
gấp 5 - 6 lần ngườilớn. Trẻ bị sởi, thủy đậu, viêm phế quản, lao, nhiễm trùng tiết niệu
thì nhu cầu vitamin A tăng trong thời gian bị bệnh mà thức ăn không đủ cung cấp.
3.4. Yếu tố nguy cơ:
- Tuổi < 5 tuổi, đặc biệtlà trẻ < 1 tuổi.
- Không bú sữa non, không bú mẹ. Ăn dặm sớm, hay thức ăn dặm không đủ chất.
- Nhiễm trùng tái diễn nhất là ỉa chảy kéo dài.
- Suy dinh dưỡng nặng.
- Kiến thức của bà mẹ về dinh dưỡng thấp.
4. Lâm sàng:
4.1. Triệu chứng toàn thân: Trẻ mệt mỏi, kém ăn, chậm lớn. Da khô, tóc dễ rụng.Hay bị
rối loạn tiêu hóa, viêm phế quản, viêm mũi họng.
4.2. Triệu chứng đặc hiệu là ở mắt: Bệnh tiến triển âm thầm, thường ở 2 bên mắt
nhưng có thể ở các giai đoạn khác nhau.
Phân loại theo OMS (1982)
1. XN: Quáng gà
2. X1A : Khô kết mạc
3. X1B : Vệt Bitot
4. X2: Khô giác mạc
5. X3A: Loét nhuyễn < 1/3 diện tích giác mạc
6. X3B: Loét nhuyễn > 1/3 diện tích giác mạc
7. Xs: Sẹo giác mạc
8. Xf: Khô đáy mắt.

biệt với sẹo giác mạc do các nguyên nhân khác bằng hỏi kỹ tiền sử, bị cả 2 bên hay 1
bên
4.2.8. Khô đáy mắt (Xf): Là tổn thương võng mạc do thiếu vitamin A mãn tính. Thường
gặp ở trẻ lớn, lứa tuổi đi học, có kèm theo quáng gà. Soi đáy mắt: Thấy xuất hiện
những chấm nhỏ màu trắng hoặc vàng nhạt rải rác dọc theo mạch máu võng mạc.
Chẩn đoán phân biệt:
- Viêm võng mạc chấm trắng.
- Viêm võng mạc do viêm thận cấp hoặc mãn.
5. Xét nghiệm:
- Nồng độ vitamin A / máu giảm < 10 g/100ml (bình thường 20 - 50g/100 ml)
-RBP cũng giảm (bình thường 20 - 30 g/ml).
6. Chẩn đoán:
Thiếu vitamin A có thể gây nên mù lòa cho trẻ nếu chẩn đoán muộn; trái lại bệnh có thể
hồi phục hoàn toàn nếu chẩn đoán sớm bằng cách, dựa vào các triệu chứng quáng gà
và khô kết mạc.
Đối với trẻ bú mẹ, việc chẩn đoán sớm dựa vào bất kỳ triệu chứng tổn thương nào ở
mắt ngay cả viêm kết mạc, điều trị như một tình trạng thiếu vitamin A. Với chẩn đoán
sớm này đã tránh được những tai biến ở mắt cho trẻ nhất là tình trạng mù lòa vì diễn
tiến của bệnh khá nhanh và khó phát hiện hơn trẻ lớn.
7. Điều trị:
7.1. Khi có thiếu Vitamin A cần phải điều trị cấp cứu theo phác đồ của OMS để tránh mù
loà cho trẻ. Dùng vitamin A chủ yếu bằng đường uống, vì vitamin A hấpthu qua niêm
mạc ruột 80-90%.
- Đối với trẻ trên 1 tuổi: Cho ngay một viên vitamin A 200.000 đơn vị uống ngày đầu
tiên. Ngày hôm sau: 200.000 đơn vị uống. Sau 2 tuần: 200.000 đơn vị uống.
- Đối với trẻ dưới 1 tuổi: Dùng nửa liều trên. Nếu trẻ nôn, ỉa chảy: Cho tiêm bắp loại
vitamin A tan trong nước với liều bằng nửa liều uống.
7.2. Cứ 4 - 6 tháng sau lại cho tiếp một liều vitamin A 200.000 đơn vị.
7.3. Ngoài cho vitamin A ra, cần phải điều trị toàn diện, tìm và điều trị nguyên nhân gây
thiếu vitamin A một cách tích cực. Cho trẻ ăn các loại rau quả và thỉnh thoảng cần phải

trạng thiếu vitaminA gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe ít xảy ra do vitaminA
được dự trữ tốt ở gan và có thể được huy động sử dụng trong một thời gian dài. Do
vậy thường chỉ gặp thiếu vitaminA ở trẻ em. VitaminA có vai trò quan trọng đối với
quá trình phát triển của trẻ. Thiếu vitaminA làm giảm tăng truởng, tăng nguy cơ mắc
các bệnh nhiễm khuẩn và tăng nguy cơ tử vong ở trẻ. Thiếu vitaminA dẫn đến bệnh
khô mắt có thể để lại hậu quả mù lòa vĩnh viễn. Người mẹ nuôi con bú, nhất là trong
6 tháng đầu bị thiếu vitaminA dẫn tới sữa mẹ cung cấp không đủ vitaminA cho trẻ,
ảnh hưởng không tốt tới quá trình lớn của bé.
6. Vai trò của vitaminA trong cơ thể
7. VitaminA có rất nhiều chức phận trong cơ thể, trước hết là có vai trò quan trọng đối
với quá trình tăng trưởng. Trẻ em cần vitaminA để phát triển bình thường. VitaminA
tham gia trong cấu trúc của các tế bào thị giác (tế bào hình nón có vai trò với quá
trình nhìn khi ánh sáng tỏ và tế bào hình que có vai trò với quá trình nhìn khi ánh
sáng yếu). Do vậy viaminA rất cần thiết đối với sự nhìn thấy của mắt. Biểu hiện sớm
của thiếu vitaminA là khả năng nhìn thấy lúc ánh sáng yếu giảm, nhân dân ta gọi là
bệnh “quáng gà”.
8. VitaminA cần thiết cho sự bảo vệ toàn vẹn của biểu mô giác mạc mắt và các tổ chức
biểu mô dưới da, khí quản, tuyến nước bọt, niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa, tiết
niệu…. Khi thiếu vitminA sản xuất các niêm dịch giảm da bị khô và có hiện tượng
sừng hóa, hệ thống niêm mạc biểu mô bị tổn thương và giảm sức đề kháng đối với
sự xâm nhập của vi khuẩn.
9. VitaminA tham gia vào quá trình đáp ứng miễn dịch, giúp cơ thể tăng cường sức đề
kháng để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, virut và các yếu tố bất lợi ngoài môi
trường.
10.Nguyên nhân bị thiếu vitaminA
11. Do khẩu phần ăn bị thiếu hụt vitaminA: một chế độ ăn nghèo nàn với nhiều chất bột,
ít thức ăn động vật (những thức ăn có hàm lượng vitaninA cao) như thịt, cá, trứng,
tôm…, thiếu dầu mỡ làm giảm hấp thu vitaminA (vitaminA hòa tan trong dầu, mỡ).
Trẻ không được bú mẹ có nguy cơ cao bị thiếu vitaminA.
12. Tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm virut đặc biệt là khi trẻ lên sởi, viêm đường hô hấp,

loại 200.000 đơn vị quốc tế (đvqt) mỗi năm 2 lần. Với trẻ dưới 12 tháng uống bổ
sung 100.000 đvqt (1/2 viên) . Đối với bà mẹ sau đẻ trong vòng một tháng cần được
bổ sung vitaminA liều cao một liều 200.000 đvqt. Trẻ dưới 5 tuổi khi bị tiêu chảy,
viêm đường hô hấp, lên sởi cần được uống 1 viên vitaminA liều cao.
Vb 3. Phát hiện và điều trị trẻ khô mắt: Trẻ có biểu hiện khô mắt do thiếu vitaminA cần
phải được phát hiện và điều trị nhanh chóng, kịp thời. Tất cả các trường hợp mắc
bệnh từ quáng gà, khô kết mạc, vệt Bitot đến khô lóet giác mạc đều được cấp tốc
điều trị theo phác đồ của Tổ chức y tế thế giới như sau:
19. Ngay lập tức cho uống 1 viên 200.000 đvqt
20. Ngày hôm sau uống tiếp 1 viên 200.000 đvqt
21. Một tuần sau uống nốt 1 viên 200.000 đvqt
22. Trẻ dưới 12 tháng dùng nửa viên tương đương 100.000 đvqt
23. Việc dùng vitaminA cho trẻ cần có hướng dẫn của cán bộ Y tế, không nên tự ý mua
và sử dụng vitaminA một cách tùy tiện. VitaminA là loại vitamin tan trong chất béo
khi thừa sẽ tích lũy và gây ngộ độc cho cơ thể với các biểu hiện mệt mỏi, buồn nôn,
chậm tăng cân, tăng áp lực sọ não (thóp phồng căng), đau xương ở trẻ em.
\ TS. Hoàng Kim Thanh
25. Khi dư thừa vitamin A:
26. - Vitamin A được chỉ định điều trị trong các bệnh: bệnh khô mắt, quáng gà, trẻ em chậm
lớn, dễ mắc bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, bệnh trứng cá, da tóc móng khô giòn, làm
chóng lành vết thường vết bỏng.
27. - Nhu cầu vitamin A ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành cao hơn trẻ dưới 10 tuổi.
Nhu cầu vitamin A tăng cao hơn ở phụ nữ cho con bú, người mắc bệnh nhiễm trùng, ký
sinh trùng và người bệnh ở giai đoạn phục hồi.
28. - Nhưng khi dư thừa vitamin A sẽ dẫn đến ngộ độc vitamin A. Do vitamin A hòa tan
trong chất béo, việc thải lượng dư thừa đã hấp thụ vào từ ăn uống là khó khăn hơn so với
các vitamin hòa tan trong nước như các vitamin B và C (các vitamin tan trong nước khi
dư thừa thì được cơ thể tự đào thải qua bài tiết hoặc tiêu hoá). Do vậy, việc dư thừa
vitamin A có thể dẫn tới ngộ độc vitamin A. Nó có thể gây buồn nôn, vàng da, dị ứng,
chứng biếng ăn, nôn mửa, nhìn mờ, đau đầu, tổn thương cơ và bụng, uể oải và thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status