1
NHỮNG VẤN ĐỀ NỔI BẬT CỦA SẢN XUẤT TRONG KHU VỰC NÔNG
NGHIỆP VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn
Viện Chính sách và chiến lược phát triển NNNT
I. GIỚI THIỆU
Sau 25 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, đóng
vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xóa đói giảm
nghèo, là nguồn thu ngoại tệ lớn và góp phần ổn định chính trị - xã hội. Mặc dù, Việt
Nam đã có những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, lao động, nhưng đến nay vẫn còn trên
70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp. Tuy nhiên, tăng trưởng của nông
nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tăng diện tích và sản lượng, sử dụng ngày càng
nhiều các yếu tố đầu vào và tài nguyên thiên nhiên.
Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi
trường như mất đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn
nước, tăng chi phí sản xuất và đe dọa tính bền vững của tăng trưởng. Vì vậy, chất
lượng và sự bền vững của tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam là vấn đề cần được quan
tâm trong giai đoạn tới.
Trong tương lai, nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp sẽ không còn được dồi
dào, nông nghiệp sẽ phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp và dịch vụ khác. Chí
phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng cạnh tranh của nông
nghiệp Việt Nam với vị thế nhà sản xuất “chi phí thấp” trên trường quốc tế. Nông
nghiệp sẽ phải nâng cao vị thế cạnh tranh trên cơ sở nâng cao chất lượng, giá trị gia
tăng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Điều này có thể đạt được thông qua tận dụng tiềm
năng và cơ hội để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng hàng
nông sản, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Vì vậy, cần có những thay
đổi tích cực góp phần xây dựng nông nghiệp tiên tiến, tạo nền tảng cho một nền kinh tế
công nghiệp hiện đại, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống, ổn định xã hội, xây
dựng nông thôn Việt Nam ngày càng phồn thịnh, văn minh.
Trong thủy sản, nghề khai thác xa bờ phát triển nhanh. Đến nay, tổng số tàu
thuyền có 128.865 chiếc với tổng công suất 5.400.000 CV. Trong đó, tàu thuyền có
công suất 90CV trở lên có 24.180 chiếc, chiếm tỷ trọng gần 19%
2
. Diện tích nuôi
trồng thủy sản tăng rất nhanh, từ năm 2000 đến 2011 tăng 406.000 ha
3
. Nuôi trồng
thủy sản tiếp tục đa loài, đa loại hình, đa phương thức theo hướng thân thiện với môi
trường.
Trong lâm nghiệp, việc trồng rừng sản xuất được đẩy mạnh nhờ chính sách giao
đất giao rừng, chương trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha v.v… Nhờ vậy, tỷ lệ che
phủ rừng tăng từ 28% năm 1995 lên xấp xỉ 40% năm 2010, tương đương với diện tích
13,39 triệu ha
4
. Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu phát triển rất mạnh
1
Bộ NN&PTNT, Báo cáo hàng năm, 2011
2
Bộ NN&PTNT, Báo cáo hàng năm, 2011
3
Tính toán CAP từ số liệu TCTK, 2000-2011
4
Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất 2010-2020, MONRE
3
trong những năm gần đây: giá trị lâm sản xuất khẩu tăng từ 1.786 triệu USD năm 2005
lên 3.000 triệu USD năm 2010, đạt tốc độ tăng 10,9%/năm; trong đó, giá trị xuất khẩu
gỗ và sản phẩm gỗ tăng từ 1.561 triệu USD năm 2005 lên 2.800 triệu USD năm 2010,
2011, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt xấp xỉ 25 tỷ USD, tăng 27,9% so cùng
kỳ năm trước và gấp gần 6 lần năm 2009. Năm 2012, tuy giá nông sản sụt giảm so với
năm 2011 nhưng tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành trong 8 tháng đầu năm vẫn đạt
18,152 tỷ đô, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước.
105
Tổng điều tra nông nghiệp nông thôn 2011, TCTK
6
Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống hộ gia đình 2002, 2004, 2006, Nxb Thống kê.
7
Năm 1995, xuất khẩu gạo ở mức dưới 2 triệu tấn. Xuất khẩu gạo vượt mức 5 triệu tấn/năm kể từ năm
2005. Năm 2010, con số này ở mức 6,8 triệu tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỷ $.
8
Tính toán CAP từ số liệu Tổng cục Thống kê, 1995-2010
9
Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế-xã hội 12 tháng năm 2011
10
Bộ NN và PTNT
4
Trong những năm gần đây, có 5 mặt hàng liên tục nằm trong nhóm các mặt
hàng có giá trị xuất khẩu cao là thuỷ sản, cà phê, gạo, cao su, đồ gỗ. Năm 2011, kim
ngạch xuất khẩu 5 mặt hàng trên nằm trong số 14 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 2
tỷ USD, cụ thể là: thủy sản 6,1 tỷ USD, tăng 21,7%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,9 tỷ USD,
tăng 13,7%; gạo 3,6 tỷ USD, tăng 12,2%; cao su 3,2 tỷ USD, tăng 35%; cà phê 2,7 tỷ
USD, tăng 48,1%
11
.
Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế-xã hội 12 tháng năm 2011
12
Cần lưu ý đến quy luật hiệu suất biên của đầu tư giảm dần, có nghĩa là các ngành thiếu vốn như
nông nghiệp có thể tạo ra hiệu suất biên của đầu tư cao hơn với các điều kiện khác không đổi.
13
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đây là sự kỳ diệu do phát huy được nội lực của nông dân vì 4% là
ngưỡng của tăng trưởng nông nghiệp với giới hạn về đất đai, và mức độ tăng trưởng này khó có thể
duy trì trong một thời gian dài nếu không có thêm các nguồn đầu tư mới.
14
Theo chuẩn của Chính phủ giai đoạn 2006-2010
5
đã giảm 18,1% năm 2004 xuống còn 10,7% năm 2010, trung bình mỗi năm giảm
1,1%.
Thu nhập bình quân một nhân khẩu hộ nông thôn tăng từ 3,3 triệu đồng/người
năm 2002 lên 12,9 triệu đồng/người năm 2010 tính theo giá hiện hành
15
. Từ năm 2001
đến 2011, tích lũy để dành của hộ nông thôn tăng lên gấp 5,3 lần, bình quân từ 3,2
triệu đồng/hộ lên 16,8 triệu đồng/hộ
16
.
Nhiều xã, thôn ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc bộ, vùng miền Trung đã cơ
bản hoàn thành việc “xóa” nhà tranh tre, nứa lá; nhiều huyện, xã ở miền Bắc và miền
Trung đã cơ bản “ngói hoá” nhà ở, miền Nam đã bố trí cho khoảng 200 ngàn hộ dân
đang sống thường xuyên trong vùng ngập lũ và “sống chung với lũ” khi có lũ lớn. Năm
2002, tỷ lệ nhà bán kiên cố và nhà tạm ở khu vực nông thôn tương ứng là 59,2% và
28,2% thì năm 2010 đã giảm xuống còn 32,9% và 16,7%. Tỷ lệ nhà kiên cố tăng từ
12,6% năm 2002 lên 50,5% năm 2010
17
6
điện, năm 2006 các con số tương ứng là 98,9% và 92,4%, thì đến năm 2011 có tới
99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện
19
. Ngoài ra, các cơ sở hạ tầng khác như chợ, y tế,
nước sạch cũng được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người dân nông thôn.
2.2. Tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ngành nông nghiệp nông thôn cũng còn
một số tồn tại, bao gồm:
Nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững, khả năng cạnh tranh thấp: tăng trưởng
GDP nông nghiệp có xu hướng giảm dần: tốc độ tăng GDP nông nghiệp giai đoạn
1995 - 2000 đạt 4%/năm, giảm xuống còn 3,83%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005 và
3,4%/năm trong giai đoạn 2006-2011. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị sản xuất
nông nghiệp cũng có xu hướng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 57,6% năm 2011
(theo giá thực tế) và 45,6% năm 2000 xuống 38,3% năm 2011 (theo giá so sánh).
Năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp
còn thấp; kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản, chế biến như kho tàng, sân phơi, bến bãi
v.v… còn kém phát triển, công nghiệp chế biến nông sản rất nhỏ bé nên chất lượng
nhiều loại nông sản còn thấp, nhất là rau quả, sản phẩm chăn nuôi. Phần lớn nông sản
xuất khẩu ở dạng sơ chế, giá trị gia tăng rất thấp, chưa có thương hiệu, mẫu mã bao bì
chưa hấp dẫn.
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thấp: hiện có quá nhiều doanh nghiệp
chế biến nông, thủy sản quy mô nhỏ, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,
vệ sinh ATTP chưa được coi trọng; tổn thất sau thu hoạch cả về số lượng và chất
lượng còn lớn.
Ngoài ra, vấn đề dịch bệnh trong cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng toàn ngành và thu nhập của nông dân.
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm: tỷ trọng thuỷ sản
hợp tác phát triển rất chậm, chưa đóng vai trò mong đợi trong hỗ trợ hoạt động sản
xuất của nông hộ.
Kinh tế trang trại tuy tăng nhanh về số lượng nhưng lại chiếm một tỷ lệ không
đáng kể trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh tế nông thôn.
Doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ đã được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng cổ
phần hóa nhưng hiệu quả của mô hình tổ chức mới vẫn còn chưa thể hiện rõ, nhiều
doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong công tác quản lý tài chính, quản trị doanh
nghiệp.
Nông thôn chưa có chuyển biến rõ nét, đời sống một bộ phận nông dân chậm
được cải thiện: tuy đời sống của đại bộ phận dân cư nông thôn được nâng cao, nhưng
so với mặt bằng chung thì nông thôn ta vẫn nghèo và phát triển chậm, khoảng cách
chênh lệch giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn; yêu cầu về việc làm ngày càng
bức xúc.
Mặc dù tỷ lệ người nghèo giảm nhanh và đáng kể trong thời gian qua nhưng tốc
độ giảm số hộ nghèo của nông thôn thấp hơn so với thành thị khoảng 20%; vẫn còn
nhiều người dân sống dưới hoặc cận kề mức nghèo đói.
Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên bị khai thác quá mức: tình trạng sản
xuất thâm canh, sử dụng quá nhiều phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ, chất kích thích
sinh trưởng và tạo ra nhiều chất thải của các vùng chăn nuôi tập trung, nuôi thủy sản
8
tập trung, các vùng chuyên canh cây trồng thâm canh như bông, nho, rau v.v… tạo ra
dư lượng các chất độc hại trong nông sản thực phẩm, làm tăng khả năng chống chịu và
đột biến của sâu bệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường đang gia tăng, đặc biệt ở các làng
nghề và chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
Bên cạnh đó, nhiều tài nguyên bị khai thác bừa bãi cũng dẫn đến tình trạng suy
giảm tính đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Tài
nguyên động vật quí hiếm, nguồn nước ngầm, nguồn lợi thuỷ sản trong nội địa và ở
các vùng biển ven bờ, một số loại khoáng sản đã có dấu hiệu bị khai thác quá mức.
2.3. Nguyên nhân của các vấn đề tồn tại
nhìn chung quá trình cải cách hành chính vẫn diễn ra rất chậm so với nhu cầu biến đổi
nhanh của thực tế đời sống. Trong bộ máy nhà nước còn tư duy và cung cách quản lý
theo mệnh lệnh, quan hệ “xin cho”, tác phong quan liêu. Nhiều cơ quan nhà nước còn
tập trung trực tiếp chỉ đạo hoạt động sản xuất, kinh doanh; trực tiếp nắm kinh phí, tổ
chức, cán bộ, quản lý dự án, chương trình; trực tiếp cung cấp dịch vụ công. Trong khi
đó buông lỏng các hoạt động quản lý nhà nước như xây dựng quy hoạch, kế hoạch;
hoạch định chính sách, chiến lược; ban hành quy chế, quy phạm; giám sát thực hiện;
xử lý vi phạm v.v…
Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu năng, tình trạng sát nhập hình thức, xu
hướng mở rộng bộ máy, tăng đầu mối quản lý vẫn diễn ra. Sự phân công, phối hợp giữa
các bộ ngành trong các hoạt động liên ngành còn bất hợp lý, ví dụ trong công tác quản lý
vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác quản lý tài nguyên môi trường, công tác quản lý
phòng chống thiên tai, quản lý khoa học công nghệ v.v… trong khi có nhiều mảng lại bị
bỏ trống như hoạt động quản lý thị trường, xúc tiến thương mại nông sản v.v… sự phối
hợp giữa các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương trong một số trường hợp
còn kém hiệu quả trong nhiều hoạt động như bảo vệ rừng, phòng chống dịch bệnh gia
súc v.v…
Bộ máy tổ chức ngành nông nghiệp nông thôn còn yếu: bộ máy quản lý nông
nghiệp ở Trung ương và cấp tỉnh thì lớn nhưng ở cấp huyện và cấp xã thì mỏng khó đủ
sức giải quyết các vấn đề đang đặt ra. Mặt khác đội ngũ cán bộ hưởng lương và trợ cấp
ngân sách có xu hướng tăng thêm, nhưng phần đông là cán bộ làm cho các tổ chức
chính trị - xã hội. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ còn hạn chế, 48,7% cán
bộ chưa qua đào tạo chuyên môn; 48,7% chưa qua đào tạo về lý luận chính trị; 55,5%
chưa được đào tạo về quản lý hành chính nhà nước.
Tình trạng hành chính hóa các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể quần chúng
một mặt làm cồng kềnh bộ máy nhà nước, tăng thêm gánh nặng về ngân sách, gây khó
khăn cho việc cải thiện tiền lương của cán bộ, mặt khác làm mất đi tính sáng tạo tự chủ
vốn có của cộng đồng làng xã, kéo dài sự chia rẽ phân tán của hơn 10 triệu hộ tiểu nông.
Ngoài ra, vai trò quản lý tự chủ của các tổ chức và sinh hoạt cộng đồng ở thôn bản suy
yếu dẫn đến tình trạng phá hoại tài nguyên tự nhiên, tệ nạn xã hội, xói mòn văn hoá cổ
thậm chí vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp và đang dần chuyển sang sản xuất hàng hoá
quy mô lớn hơn; công nghệ, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, nhân lực chưa được đào tạo.
Diễn biến thời tiết, môi trường, dịch bệnh, thị trường phức tạp: trong thời gian
gần đây, do diễn biến xấu của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và phát triển
không bền vững, diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp hàng năm gây ra thiệt hại lớn
về người và của cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Tần suất thiên tai
ngày càng dày, mức độ nghiêm trọng và quy mô ngày càng lớn. Ở nước ta trong các
năm qua liên tục xuất hiện bão lớn, mưa to gây lũ lụt, lở đất, hạn hán, cháy rừng v.v…
Năm 2011, thiên tai đã gây thiệt hại hơn 10 tỷ đồng, 54 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất
trắng, hơn 330 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Trong 8 tháng đầu năm 2012, thiên
tai cũng xẩy ra thường xuyên, làm ngập trên 100 nghìn ha lúa và hoa màu và gây nhiều
thiệt hại lớn về người và của
23
. Trong tương lai, xu hướng nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục
gây thiệt hại lớn cho Việt Nam.
Thêm vào đó là tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp trên quy mô rộng cho cả
cây trồng, vật nuôi và con người. Trên lúa xuất hiện dịch rầy nâu, vàng lùn xoắn lá
v.v… trên gia súc xuất hiện bệnh lở mồm long móng, lợn tai xanh, cúm lợn trên gia
20
Bộ NN&PTNT, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp cả nước đến năm 2020 và tầm
nhìn đến 2030, 2011
21
http://data.worldbank.org/indicator
22
http://hdr.undp.org/en/statistics/
23
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo tháng - TCTK
11
liệu đồng bộ, liên kết bằng hợp đồng với khu trung tâm. Các cụm kết nối phục
vụ trực tiếp với thị trường trong và ngoài nước bằng hệ thống phân phối.
- Ở những vùng mật độ dân cư cao như các vùng ven đô, Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ cần quy hoạch và xây dựng các khu
chăn nuôi tập trung tách khỏi khu dân cư. Tại đây, xây dựng cơ sở hạ tầng cho
các tổ chức chăn nuôi lớn bao gồm: trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi, trại
12
chăn nuôi của HTX, hệ thống giết mổ, chế biến gia súc gia cầm. Tập trung các
hoạt động dịch vụ phục vụ thú y, kiểm soát dịch bệnh, cung cấp giống, xử lý
môi trường tại các khu vực này.
- Ở những vùng có lợi thế như đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung
Bộ, quy hoạch vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản. Tại đây, xây dựng cơ sở
hạ tầng thủy lợi và giao thông hoàn chỉnh để tập trung các trang trại, các công ty
sản xuất quy mô trung bình và lớn, áp dụng công nghệ nuôi trồng thủy sản thâm
canh và bán thâm canh, áp dụng tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo
vệ môi trường, đáp ứng các yêu cầu quốc tế về xuất xứ, nguồn gốc. Tại các khu
vực này, xây dựng các khu công nghiệp chế biến thủy hải sản, các trạm trại dịch
vụ phục vụ nuôi trồng thủy sản.
- Ở những khu vực gần các ngư trường đánh bắt quan trọng ở Duyên hải Trung
Bộ, Nam Bộ, và trên một số hải đảo chính hình thành các trung tâm hậu cần
nghề cá. Tại đây, xây dựng hệ thống cầu cảng phục vụ tàu đánh cá, xây dựng
các công trình và cơ sở dịch vụ như cung cấp nhiên liệu, đá, thực phẩm, kho
chứa, cơ sở thương mại, cơ khí sửa chữa, thông tin liên lạc, kiểm tra chất lượng
vệ sinh v.v… nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ hậu cần cho tàu đánh bắt xa bờ,
mua bán thủy sản và tránh trú bão.
- Ở những vùng chuyên canh rừng sản xuất nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến ở
Tây Bắc (giấy, ván nhân tạo), Đông Bắc (giấy, dăm, trụ mỏ, đồ mộc), Bắc
Trung Bộ (dăm giấy, nhựa thông, tre, mây), Nam Trung Bộ (ván nhân tạo, bột
giấy), Đông Nam Bộ (nguyên liệu giấy), Đồng bằng sông Cửu Long (bột giấy,
kiệm nước và giảm phát thải. Áp dụng chính sách khuyến khích nông dân tại
các vùng chuyên canh lúa tập trung hóa ruộng đất, áp dụng cơ giới hóa và
khuyến khích lao động ra khỏi vùng. Xây dựng các cụm chế biến và kho tàng để
đảm bảo chứa được 30% lúa cho một vụ. Xây dựng hệ thống sấy đáp ứng nhu
cầu cho vụ hè thu. Các công trình kho, xay xát, sấy được tập trung xây dựng
hoàn chỉnh thành 3 vùng (Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà
Mau) gắn với hệ thống giao thông. Ngoài ra, ở mỗi vùng hình thành hệ thống
trạm trại sản xuất giống nguyên chủng, trạm trại bảo vệ thực vật và khuyến
nông. Xây dựng Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long thành Viện Quốc gia, nâng
cấp cảng Cần Thơ thành cảng xuất khẩu lúa gạo cho toàn vùng.
- Với những cây trồng nhiệt đới mà Việt Nam có lợi thế và thị trường thế giới có
nhu cầu (cà phê, điều, tiêu, cao su, chè v.v ) quy hoạch xác định rõ quy mô và
địa bàn thích hợp cho từng cây (cà phê với sản lượng 1,1 triệu tấn, điều 600
ngàn tấn, hồ tiêu đạt sản lượng 120 ngàn tấn, cao su đạt sản lượng mủ 1,5 triệu
tấn, chè búp tươi 1 triệu tấn) tập trung vào địa bàn Tây Nguyên, Đông Nam bộ,
Trung du miền Núi phía Bắc. Tại đây, phát triển kinh tế trang trại và doanh
nghiệp sản xuất lớn. Xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông và thủy lợi
phục vụ sản xuất thâm canh, hình thành một số cụm công nghiệp và dịch vụ
phục vụ sản xuất. Tại mỗi cụm, bố trí các nhà máy chế biến, các nhà máy công
nghiệp phụ trợ, các công trình dịch vụ và hệ thống thương mại, tập trung xây
dựng tại TP.HCM hệ thống các sàn giao dịch cho các nông sản có lợi thế trên.
- Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn
nuôi trong nước 5 năm/lần và điều tra, điều chỉnh hàng năm, thông báo rộng rãi
cho người sản xuất. Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ đẩy mạnh chăn nuôi
lợn, gà theo hình thức trang trại công nghiệp, gia trại tập trung. Đồng bằng sông
Cửu Long, phát triển chăn nuôi vịt tập trung thâm canh, chấm dứt nuôi vịt chạy
14
đồng. Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ như trâu, bò thịt, bò sữa ở Trung du
miền Núi phía Bắc và Tây Nguyên, dê ở miền Núi phía Bắc và miền Trung, cừu
về môi trường tại Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ; rừng
phòng hộ ven biển ở các vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long nhằm đảm bảo duy trì cân bằng sinh
thái, bảo vệ đất, môi trường nước và khí hậu, phòng chống thiên tai và tác động
của biến đổi khí hậu. Nhà nước cấp vốn và thực hiện giám sát bằng hình thức
đấu thầu cạnh tranh để các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế kể cả cộng
15
đồng tham gia thực hiện. Kết hợp cải tạo, làm giàu rừng tự nhiên với khai thác
vũng bền để vừa bảo vệ tài nguyên rừng, vừa có nguồn thu hợp lý tái sản xuất
mở rộng cho người làm lâm nghiệp theo nguyên tác “khai thác rừng giàu, dựa
trên tốc độ tăng trưởng”. Đối với rừng nghèo kiệt và mới phục hồi, phải
“khoanh nuôi, cải tạo, làm giàu”.
- Nhà nước tập trung đầu tư và quản lý để bảo tồn nguyên trạng rừng đặc dụng,
phát triển các hệ sinh thái đặc thù, bảo tồn qũy gen và bảo tồn giá trị đa dạng
sinh học. Đối với 3 loại rừng trên, kết hợp với phát triển du lịch sinh thái, các
dịch vụ môi trường khác. Kết hợp bảo vệ tại chỗ và xây dựng vùng đệm.
- Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn trồng cây bóng mát và chắn gió kết hợp lấy gỗ
dọc theo các công trình giao thông, thủy lợi, trong đô thị, trong khu dân cư tại
các vùng đồng bằng và trung du. Xây dựng chính sách khuyến khích nhân dân
trồng phân tán cây lấy gỗ có giá trị.
d) Phát triển thủy sản theo hướng tăng tỉ trọng của thủy sản trong cơ cấu
toàn ngành
- Tiến hành quy hoạch và phân chia rõ quy mô tối đa, địa bàn hợp lý cho từng địa
phương ven biển phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ (chủ yếu là tôm sú và
tôm chân trắng) và nước mặn (cá biển, tôm hùm, bào ngư v.v…). Xây dựng
chương trình nghiên cứu để xác định công nghệ nuôi trồng và sản xuất giống
nuôi trồng trên biển theo hướng đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng hiệu quả,
đảm bảo vệ sinh an toàn và duy trì cân bằng sinh thái môi trường.
- Phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt với đối tượng nuôi chính là cá tra, rô
phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản. Hỗ trợ để chuyển phần lớn cư dân sống
bằng đánh bắt ven bờ sang đánh bắt biển xa, nuôi trồng thủy sản và trở thành
lao động phi nông nghiệp.
e) Phát triển những ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ để nâng cao giá trị
gia tăng cho hàng nông sản
Công nghiệp sản xuất vật tư đầu vào phục vụ nông nghiệp
- Nghiên cứu xác định hiệu quả cân đối giữa vật tư sản xuất trong nước với vật tư
cần nhập khẩu. Áp dụng chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước phát
triển ngành cơ khí sản xuất, sửa chữa máy móc nông nghiệp, tàu thuyền phục vụ
thủy sản. Đặc biệt ưu tiên hỗ trợ những ngành áp dụng công nghệ cao, có tỷ lệ
nội địa hóa cao, thu hút đầu tư trong nước, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đặc biệt hỗ trợ cho các làng nghề, các hộ chuyên ở nông thôn, tham gia tổ chức
sản xuất và làm dịch vụ bảo dưỡng, nâng cấp các công cụ sản xuất tại địa
phương.
- Đề ra chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công
nghiệp sản xuất sửa chữa máy móc nông nghiệp, chế biến thức ăn chăn nuôi,
thuốc thú y và các loại vắc xin phòng bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đáp
ứng nhu cầu xuất trong nước. Song song với tăng cường sản xuất, đẩy mạnh
việc quản lý tiêu chuẩn chất lượng các loại vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp,
kể cả sản xuất trong nước và nhập khẩu. Cải tiến hệ thống quản lý thị trường,
phân phối lưu thông các vật tư nông nghiệp chiến lược theo hướng chuyển từ
vai trò của các doanh nghiệp lớn sang cho các tổ chức đại diện cho người nông
dân và người sản xuất.
17
- Tổ chức nghiên cứu khảo kiểm nghiệm máy, hình thành hàng rào kỹ thuật và
giải pháp thực hiện kiên quyết để ngăn chặn máy móc rẻ, chất lượng thấp,
không an toàn, ô nhiễm môi trường nhập khẩu vào Việt Nam. Công khai tiêu
chuẩn về kỹ thuật sử dụng, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường để tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu máy móc mà trong nước sản xuất
v.v ).
18
- Chuyên môn hóa nông dân, chỉ có nông dân có đủ trình độ tay nghề chuyên
môn mới được đăng ký chính thức trở thành hội viên Hội nông dân và được
hưởng các quyền lợi nhà nước ưu tiên cho nông dân (như sử dụng đất nông
nghiệp, được tích tụ đất nông nghiệp, được bảo hiểm nông nghiệp, được vay
vốn phát triển sản xuất v.v…). Hỗ trợ các hộ nông nghiệp làm ăn không hiệu
quả chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp (đào tạo nghề, vay vốn chuyển
nghề v.v ).
- Tiếp tục phát triển kinh tế hộ lên một bước mới theo hướng chuyên môn hóa
sản xuất nông nghiệp, sản xuất quy mô lớn. Tạo điều kiện cho hộ dồn điền đổi
thửa, cho thuê đất, tích tụ đất, chuyển bớt các hộ làm ăn không hiệu quả từ sản
xuất nông nghiệp sang ngành nghề và sản xuất phi nông nghiệp, áp dụng khoa
học công nghệ. Đưa sản xuất trang trại, gia trại chăn nuôi, thủy sản tập trung ra
khỏi khu dân cư, hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa, các vùng nguyên
liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu.
- Tiếp tục tổng kết, đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế, hình thức tổ chức
sản xuất có hiệu quả ở nông thôn. Có chính sách khuyến khích phát triển các
mối liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa
học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ
phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá
lớn.
- Ban hành chính sách đặc biệt ưu tiên khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác
(vay vốn, đào tạo, thuê đất, ưu đãi kinh doanh trong một số lĩnh vực) để đảm
bảo tham gia hợp tác xã, hộ nông dân sẽ được hưởng những ưu đãi hơn hẳn. Hỗ
trợ kinh tế hợp tác về đào tạo cán bộ quản lý, lao động; tiếp cận các nguồn vốn,
trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường, xúc tiến
thương mại và các dự án phát triển nông thôn; hợp tác xã phải làm tốt các dịch
vụ đầu vào, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.