thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư tỉnh bắc giang - Pdf 10

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “ Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư tỉnh Bắc Giang” là một công trình nghiên
cứu độc lập của tôi, dựa trên những số liệu, thông tin được thu thập từ thực thế
và do cơ quan thực tập cung cấp, không sao chép từ bất cứ luận văn, chuyên đề
hay công trình nghiên cứu nào khác.

Sinh viên

Nguyễn Thị Loan

NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
AFTA: Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
DA: Dự án
DN: Doanh nghiệp
DNCVĐTNN: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
ĐTRNN: Đầu tư ra nước ngoài
ĐTTN: Đầu tư trong nước
ĐTTTNN: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCNĐT: Giấy chứng nhận đầu tư
HNKTQT: Hội nhập kinh tế quốc tế
KCN, KCX: Khu công nghiệp, Khu chế xuất
NSNN: Ngân sách nhà nước
TW: Trung ương

TS.Nguyễn Hồng Minh và các cán bộ Trung tâm xúc tiến đầu tư Tỉnh Bắc Giang đã
giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
TỈNH BẮC GIANG
1.1. Khái quát về tình hình thu hút đầu tư và hoạt động của cơ quan xúc
tiến đâu tư tỉnh Bắc Giang.
1.1.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Bắc Giang
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1.1. Vị trí địa lý kinh tế
Bắc Giang nằm ở toạ độ địa lý từ 21
0
07’ đến 21
0
37’ vĩ độ bắc; từ 105
0
53’ đến
107
0
02’ kinh độ đông; là tỉnh miền núi có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía
Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội. Phía Nam giáp các
tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng
Ninh; phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và thủ đô Hà Nội. Đến nay, tỉnh Bắc Giang có 9
huyện và 1 thành phố (thành phố Bắc Giang), trong đó có 6 huyện miền núi và 1
huyện vùng cao, với 229 xã, phường, thị trấn. Vị trí của tỉnh nằm cạnh tam giác kinh tế
trọng điểm phía Bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển

Yên Tử; Suối Mỡ. Ngoài ra có thể xây dựng các sân gôn, khu nghỉ dưỡng
Đến nay, đã phát hiện và đăng ký được 63 mỏ với 15 loại khoáng sản khác nhau
bao gồm: than, kim loại, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản, vật liệu xây dựng
Một số mỏ than đã được khai thác ở quy mô lớn.
So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang có vị trí địa lý tương đối thuận
lợi: Có một số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ) quan trọng
của Quốc gia chạy qua. Thành phố Bắc Giang cách thủ đô Hà Nội 50km tính theo
đường ô tô, nằm trên Quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn lên cửa khẩu Quốc
tế Đồng Đăng, nơi giao lưu buôn bán sầm uất hiện nay, là điều kiện quan trọng khi
hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng đi vào
hoạt động để phát triển sản xuất hàng hoá và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế.
Quốc lộ 31 từ thành phố Bắc Giang đi các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động,
Đình Lập gặp quốc lộ 4A (Lạng Sơn) đi ra cảng Mũi Chùa, Tiên Yên và nối với cửa
khẩu Móng Cái (Quảng Ninh). Quốc lộ 279 từ Hạ Mi (Sơn Động) đến Tân Sơn (Lục
Ngạn) nối với Quóc lộ 1A. Quốc lộ 37 từ Lục Nam đi Hòn Suy sang thị trấn Sao Đỏ
(Hải Dương) gặp Quốc lộ 18 có thể về cảng Hải Phòng hay ra cảng nước sâu Cái Lân
(Quảng Ninh). Tuyến đường sắt Lưu Xá - Kép - Hạ Long nối Thái Nguyên với Quảng
Ninh, đi qua các huyện Yên Thế, Lạng Giang và Lục Nam. Đường sông (có sông
Thương, sông Cầu và sông Lục Nam) với tổng chiều dài qua tỉnh là 347km, trong đó
chiều dài đang khai thác là 189 km, tàu thuyền có thể đi lại được quanh năm, đây là
những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.
Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của
“Tam giác kinh tế phát triển”: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, nơi tập trung tiềm lực
khoa học kỹ thuật của cả nước (với hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng Viện
nghiên cứu của Trung ương), nơi tập trung đầu mối kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế,
khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ
đô thị hoá nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn về nông sản hàng hoá và các hàng tiêu
dùng khác.
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
3

thấp nhất khoảng 16
0
C, tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ khoảng 29 – 30
0
C. Độ
ẩm không khí trung bình 83%.
Chế độ gió: Bắc Giang chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè và gió
mùa Đông Bắc về mùa đông.
Thuỷ văn: Bắc Giang có hệ thống sông, hồ khá dày, trong tỉnh có 3 sông lớn
chảy qua là sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam.
Theo số liệu điều tra tại 2 trạm thuỷ văn là Bắc Giang và Cầu Sơn cho thấy:
Mực nước sông trung bình tại trạm Cầu Sơn là 2,18m, mực nước trung bình mùa lũ
4,3m. Lưu lượng kiệt nhỏ nhất Qmin = 1m
3
/s. Lưu lượng lũ lớn nhất Qmax =
1.400m
3
/s. Mực nước lũ lớn nhất tại trạm Bắc Giang 6,2- 6,8m thường xuất hiện vào
tháng 8 và tháng 9.
Diễn biến nhiệt độ: Các số liệu về diễn biến nhiệt độ không khí qua các năm
của Bắc Giang cho thấy nhiệt độ trung bình của các năm ít thay đổi, số tháng có nhiệt
độ không khí dưới 15
0
C không có, số tháng có nhiệt độ trên 27
0
C là 4 tháng, các tháng
còn lại nhiệt độ trung bình khoảng 24
0
.
Về độ ẩm, ở Bắc Giang các tháng mùa khô cũng luôn có độ ẩm không khí từ

- Chia theo ngành sản xuất: Nông - lâm nghiệp 72,49%; Công nghiệp và xây
dựng 11,68%; Thương mại - dịch vụ 15,83%.
- Chia theo thành phần kinh tế: Nhà nước: 6,41%; Tư nhân: 2,17%; Cá thể, hộ
gia đình: 90,61%; có vốn đầu tư nước ngoài: 0,56%.
- Chia theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động(từ đủ 15 đến đủ 59 tuổi):
+ Nhóm đủ 15- 34 tuổi: 406.410 người ( bằng 47,75%).
+ Nhóm 35 - 44 tuổi: 242.230 người (bằng 28,46%).
+ Nhóm 45 – đủ 59 tuổi: 202.480 người (bằng 23,79%).
Tiền lương bình quân: Lương bình quân các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất hiện nay từ 800 đến 1.000.000 đồng/người/tháng. Với
lao động quản lý thì cao hơn tuỳ thuộc vào vị trí công việc.
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Cơ cấu lao động qua đào tạo:
Tổng số lao động qua đào tạo năm 2006 là: 254.731 người , trong đó:
- Công nhân kỹ thuật không có bằng: 33.831 người;
- Công nhân kỹ thuật có bằng: 34.868 người;
- Sơ cấp, chứng chỉ nghề: 77.244 người;
- Trung cấp chuyên nghiệp: 54.478 người;
- Cao đẳng, Đại học trở lên: 54.760 người (Trong đó: Tiến sỹ 9; Thạc sỹ 353).
Nguồn đào tạo và khả năng cung ứng lao động:
Số học sinh tốt nghiệp lớp 12 bình quân hàng năm : 22.600 người trong đó đi
học Đại học, Cao đẳng, THCN và học nghề : 11.440 người. Số học sinh tốt nghiệp lớp 12
chưa đi đào tạo bình quân hàng năm: 11.160 người. Luỹ kế đến nay là 30.500 người.
Hiện nay nếu nhà đầu tư có nhu cầu tuyển dụng lao động để đào tạo và sử dụng
thì có thể cung ứng 30.500 người là học sinh đã tốt nghiệp lớp 12 chưa qua đào tạo.
Các cơ sở dạy nghề có thể mở rộng quy mô nâng cao năng lực đào tạo có thể
đáp ứng 10.000 người được đào tạo nghề điện tử, tin học cung ứng cho nhà đầu tư
trong năm đầu tiên.

2. t i nỳi cha s dng 55.126 31.967
3. Nỳi ỏ khụng cú rng cõy 994 668
1
Diện tích tự nhiên của tỉnh năm 2005 tăng lên là do xử lý sai số kết quả đo đạc, diện tích thực tế là 382.331 ha.
Nguyễn Thị Loan Lớp: Kinh Tế Đầu T 47D
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang
Tình hình biến động đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
Trong giai đoạn 1997-2005 tổng số diện tích đất nông nghiệp, và đất lâm
nghiệp có rừng chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác là 16.927 ha. Đất khai
hoang đưa vào sản xuất nông-lâm nghiệp được 46.209 ha, trong đó cho sản xuất nông
nghiệp là 21.382 ha và lâm nghiệp là 3.533 ha
Về chất lượng đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ lập địa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có các loại
đất chính sau:
- Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200ha, chiếm 0,1% diện tích tự
nhiên. Phân bố ở độ cao > 700m thuộc 2 dãy An Châu, Yên Tử. Đất có tầng mùn dày chủ
yếu ở dạng mùn thô, tầng đất mỏng, độ dốc lớn, đá lộ nhiều, thành phần cơ giới nhẹ.
- Đất Feralit mùn trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha, chiếm 7,5% diện tích tự
nhiên. Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam. Đất chủ yếu
phát triển trên đá sa thạch và phiến thạch sét, tầng đất trung bình nhiều đá lẫn, dễ bị
xói mòn.
- Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện tích76.400 ha chiếm
20% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động. Tầng đất
mỏng, thành phần cơ giới trung bình, đất bị xói mòn mạnh.
- Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá phiến thạch sét. Diện tích 83.910ha,
chiếm 22% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục
Nam, Yên Thế, Lạng Giang. Tầng đất từ trung bình đến mỏng thành phần cơ giới
trung bình.

+ Sông Lục Nam: Đoạn chảy qua Bắc Giang dài 150 Km, trong đó đoạn khai
thác vận tải dài 30 Km.
+ Sông Cầu: Đoạn chảy qua Bắc Giang 110 Km, trong đó đoạn khai thác vận
tải dài 85Km.
- Hệ thống bến cảng, kho bãi: Hiện tại, Bắc Giang có 3 hệ thống cảng là Cảng
Trung ương, cảng chuyên dùng và cảng địa phương.
- Cảng Á Lữ (Cục Đường sông quản lý): Nằm trên địa bàn thành phố Bắc
Giang, diện tích 2ha, 01 kho có diện tích 4.440m
2
, một bãi chứa than, năng lực bốc xếp
150.000 tấn đến 200.000 tấn.
- Cảng chuyên dùng: Cảng của Công ty Đạm và Hoá chất Hà Bắc, năng lực bốc
xếp 70.000 tấn – 100.000 tấn.
- Cảng xăng dầu: của Tổng công ty xăng dầu quản lý sử dụng.
- Cảng địa phương: Là các bến bãi tự nhiên để phục vụ xếp dỡ hàng hoá bao gồm
cảng: Lục Nam, Đình Kim, Bến Tuần, Bến Nhãn, Đông Xuyên đây là cảng tự nhiên,
không có phương tiện bốc xếp, năng lực thông qua nhỏ từ 3.000 tấn – 5.000 tấn.
- Công trình đê điều: có 4 hệ thống đê chống lũ, tổng chiều dài đê cấp 3 và đê
cấp 4A dài 233,2 km, trong đó các tuyến đê Tả sông Cầu, Tả Hữu Thương, Cổ Mân
thuộc đê cấp 3 dài 151,7 km, các tuyến đê Hữu sông Lục Nam, đê Tả cầu Ba Tổng,
Hữu Thương Ba Tổng, đê Dương Đức, đê Tả Hữu Lái Ngiên thuộc đê cấp 4A dài 81,5
km, ngoài ra còn 23 tuyến đê bối với chiều dài 105,5 km, cụ thể các đê như sau: Đê
sông Tả Cầu dài 81,8 km, trong đó có 60 km đê do trung ương quản lý, có 41 cống
dưới đê; Đê Hữu sông Thương dài 41,8 km có 29 cống và 9 kè dưới đê; Đê Tả sông
Thương - Cổ Mân dài 68 km (Tả sông Thương dài 47 km, đê Cổ Mân dài 21 km), có
26 cống dưới đê Tả sông Thương và 17 cống dưới đê Cổ Mân; Đê Hữu sông Lục Nam
dài 15 km có 14 cống và 1 kè dưới đê.
Tỉnh còn có hệ thống sông, suối xen kẽ nổi tiếng trong vùng như: hồ Cấm Sơn
(Lục Ngạn) rộng gần 3.000 ha, các hồ Khuôn Thần, làng Thum, Lòng Thuyền (Lục
Ngạn), suối Nứa (Lục Nam), sông Sỏi (Yên Thế)…, mỗi hồ rộng hàng trăm ha với

goox, 4.000-5.000 cây tre nứa/ha và 48 ha rừng tre, nứa
có trữ lượng 4.000-5.000 cây/ha.
Hệ động vật rừng khá đa dạng, theo số liệu điều tra trên địa bàn tỉnh ( chủ yếu ở
khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử) có khoảng 226 loài, 81 họ và 24 bộ, trong đó có
nhiều loại thú quý như cu ly lớn, voọc đen, tê tê, chó sói, gấu ngựa, báo gấm, beo, sơn
dương, sóc bay lớn, sóc bay đen trắng, khỉ đuôi lợn, khỉ vàng.
1.1.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Cho đến nay trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã phát hiện và ghi nhận được 68 mỏ
và điểm mỏ, với 15 loại khoáng sản khác nhau như: than đá, sắt, đồng, barit, kaolin,
sét gạch ngói, sét gốm, cát cuội sỏi, Cụ thể:
Khoáng sản nhiên liệu:
Than đá: Có 16 mỏ và điểm mỏ than, tổng trữ lượng 113,582 triệu tấn. Mỏ Đồng
Rì có quy mô lớn (107,313 tr.tấn); 7 mỏ khác có triển vọng: Bố Hạ, Đèo Vàng-Bến
Trăm, Đông Nam Chũ, An Châu, Nước Vàng, Hạ My, Đồng Thông.
Khoáng sản kim loại: Có 18 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng nhỏ, không tập trung.
Gồm có: Quặng sắt (1 mỏ, trữ lượng 0,503 triệu tấn, chất lượng thấp); Chì- kẽm (có 4
điểm mỏ, ít triển vọng); Quặng đồng (7 mỏ và điểm quặng, tiềm năng dự báo 5.226
ngàn tấn quặng, hàm lượng đồng thấp, quy mô nhỏ); Vàng (3 điểm sa khoáng, 2 điểm
vàng gốc, trữ lượng tài nguyên 1.035 kg; Thuỷ ngân (1 điểm quặng, không có triển
vọng, không cần đầu tư đánh giá)
Khoáng chất công nghiệp: Có 09 mỏ và điểm mỏ, chủ yếu là mỏ quy mô nhỏ.
Có tiềm năng hơn cả là khoáng sản barit (5 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng 615 ngàn tấn,
chất lượng trung bình). Ngoài ra còn có Kaolin (01 điểm mỏ, tài nguyên dự báo
khoảng 13 triệu m
3
); Than bùn (02 mỏ, trữ lượng 168,5 ngàn tấn); Fenspat (01 điểm
mỏ, trữ lượng 591,5 ngàn tấn, chất lượng thấp).

điểm mỏ
Trữ lượng
Đ.V tính
Được xác định
hay dự báo
Đã khai
thác
Còn lại
1 Than đá 16 1000 tấn 113.580 2.450 111.132
2 Quặng sắt 1 1000 tân 503 109 394
3 Quặng đồng 7 1000 tấn 5.226 60 5.166
4 Chì kẽm 4 chưa
5 Vàng 5 Kg 1.035 - -
6 Thuỷ ngân 1 chưa -
7 Barit 4 1000 tấn 615 150 465
8 Kaolin 2 triệu m
3
13 - 13
9 Than bùn 2 1000 tấn 168,5 - 168,5
10 Fenspat 1 1000 tấn 591,5 - 591,5
11 Sét gạch ngói 16 triệu m
3
365 5 360
12 Cát, cuội, sỏi 5 triệu m
3
100,679 3,6 97,079
13 Sét gốm 1 1000 m
3
313,2 - 313,2
14 Sét chịu lửa 2 1000 m

80 triệu USD. Các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, y tế, văn hoá, TDTT đạt nhiều tiến bộ; đời
sống nhân dân ổn định và từng bước cải thiện.
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Trong 10 năm qua, tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động đạt trên 15 ngàn tỷ
đồng, riêng năm 2006 đạt 3,2 ngàn tỷ đồng. Hàng loạt các công trình giao thông quan
trọng như các quốc lộ 1A mới, 31, 37, 279, các tỉnh lộ 398, 295, 292; các cầu lớn như:
Xương Giang, Vát (Hiệp Hoà), Bố Hạ (Yên Thế), An Châu (Sơn Động), Chũ (Lục
Ngạn), Lục Nam, Bắc Giang, Bến Đám (Yên Dũng) được đầu tư, nâng cấp và trên
2.700 km đường giao thông nông thôn được cứng hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho
giao lưu phát triển kinh tế; nhiều công trình thuỷ lợi quan trọng như các hồ Khe Chão,
Khe Đặng (Sơn Động), Lòng Thuyền (Lục Ngạn), Suối Nứa, Suối Mỡ (Lục Nam),
Chồng Chềnh (Yên Thế) ; cùng với hàng trăm km đê, kè, cống và hệ thống kênh
mương được tu bổ, kiên cố hoá đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Bộ mặt đô
thị và nông thôn ngày một đổi thay; hạ tầng đô thị và một số khu dân cư mới được hoàn
thành; thị xã Bắc Giang đã trở thành thành phố thuộc tỉnh; nhiều thị trấn, thị tứ của các
huyện được quan tâm đầu tư, nâng cấp trở nên khang trang, sáng, xanh, sạch, đẹp hơn.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm đạt trên 20%, năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp đạt
1.723 tỷ đồng, tăng gấp 3,2 lần so với năm 1997. Đáng chú ý, tỉnh đã triển khai xây
dựng 3 khu công nghiệp là: Đình Trám với quy mô 100 ha đã cho thuê hết đất; Song
Khê – Nội Hoàng quy mô 150 ha; Quang Châu quy mô 426 ha đang tích cực triển
khai, cùng 25 cụm công nghiệp, làng nghề, thu hút trên 4,5 ngàn lao động.
Các thành phần kinh tế được quan tâm khuyến khích phát triển. Kinh tế tập thể
có bước củng cố, mở rộng; đến năm 2006, toàn tỉnh đã có 670 hợp tác xã, thu hút gần
150 ngàn xã viên tham gia. Kinh tế tư nhân phát triển nhanh; đến nay, có 1.280 doanh
nghiệp dân doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện, với tổng số vốn đăng ký trên 2 ngàn
tỷ đồng, tăng hơn 20 lần so với năm 1997, bình quân 1.200 người dân có 1 doanh
nghiệp; năm 2006, khối doanh nghiệp tư nhân đã tạo việc làm cho gần 6 nghìn lao

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, văn hoá- xã hội, y tế có
chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, với 796 trường từ mẫu giáo đến cao đẳng. Tỉnh nhà đã hoàn thành
phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở vào năm 2003 và đang tiến
hành phổ cập bậc trung học, đến nay có trên 30% số trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ
phòng học kiên cố ở ngành học phổ thông đạt 64,5%; chất lượng giáo dục toàn diện có
chuyển biến và được Bộ Giáo dục & Đào tạo xếp trong tốp 10 tỉnh dẫn đầu toàn
quốc. Thiết chế văn hoá cơ sở được tăng cường, toàn tỉnh có trên 46% số thôn, bản, tổ
dân phố được công nhận đạt danh hiệu văn hoá. Tất cả các xã, phường, thị trấn có trạm
y tế, trong đó 116/229 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt 50,5%; 100% xã, phường, thị
trấn có bác sỹ; các thôn, bản đều có nhân viên y tế hoạt động; tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên giảm từ 1,6% năm 1997 xuống còn 1,18% năm 2006.
Đào tạo nghề có bước phát triển, đến nay có 4 trường trung học nghề, số cơ sở
đào tạo nghề tăng gấp 4 lần so với năm 1997, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 25%.
Bình quân hàng năm đã tập trung giải quyết việc làm cho 1,5 vạn lao động. Đáng chú ý
công tác đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài được quan tâm; đến nay, toàn
tỉnh đã có trên 1,5 vạn lao động đang làm việc tại nước ngoài, hàng năm đem về cho gia
đình 600- 700 tỷ đồng, bằng tổng thu ngân sách của tỉnh. Số hộ nghèo giảm mạnh, năm
2006 tỷ lệ hộ nghèo còn 25,04%, giảm 5,6% so với năm 2005; đã thực hiện chế độ bảo
hiểm y tế và khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn
tỉnh và nhân dân ở 44 xã đặc biệt khó khăn Công tác quân sự địa phương, an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Tuy nhiên, hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
như: Quy mô nền kinh tế nhỏ bé, GDP bình quân/người mới bằng một nửa mức trung
bình của cả nước, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, tỷ trọng ngành nông nghiệp còn cao,
nguồn thu ngân sách trên địa bàn còn hạn hẹp và chưa bền vững, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, tỷ lệ lao động trong nông
nghiệp còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thu nhập của đại bộ phận nông dân còn thấp.
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D

NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
Mười năm- khoảng thời gian không dài so với lịch sử của một tỉnh. Nhìn lại
chặng đường đã đi qua, Bắc Giang có quyền tự hào về những thành tựu đã đạt
được. Điều đó, sẽ giúp chúng ta thêm tự tin và vững bước trên con đường đi tới.
1.1.2. Khái quát về tình hình thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong
những năm qua
1.1.2.1. Tổng quan về đầu tư
Đầu tư là gì?
Có rất nhiều khái niệm về đầu tư nhưng đứng trên các góc độ nghiên cứu khác
nhau chúng ta đưa ra các khái niệm khác nhau như sau:
- Trên góc độ tiêu dùng thì Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hôm nay để kỳ vọng
tiêu dùng trong tương lai.
- Trên góc độ là các nhà đầu tư thì : Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm tạo ra lợi
nhuận, đầu tư là việc bỏ vốn nhằm tạo ra tiềm lực lớn hơn, đầu tư là việc sử dụng tài
nguyên lâu dài để thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội.
- Đầu tư nước ngoài: là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng
quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm
vi toàn cầu.
Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
- Đầu tư trực tiếp là việc nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý vốn. Có 4 loại
hình: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước
ngoài, BOT
- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư bỏ vốn nhưng không trực
tiếp quản lý vốn. Ví dụ: Cho vay, viện trợ hoàn lại và không hoàn lại.
Hai hình thức trên bổ sung cho nhau, đầu tư gián tiếp là nguồn quan trọng
để đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung mở rộng hoặc nâng cấp cơ sở hiện có cho đầu
tư trực tiếp.
Các hình thức đầu tư trực tiếp:

Là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan có thẩm quyền
của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp, khai thác công trình kết
cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định ( thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý) sau
đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Đặc trưng của hình thức này:
NguyÔn ThÞ Loan Líp: Kinh TÕ §Çu T 47D
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GV: T.s NguyÔn Hång Minh
- Cơ sở pháp lý là hợp đồng
- Vốn đầu tư của nước ngoài
- Hoạt động theo dạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc xí ngiệp liên doanh
- Đối tượng hợp đồng thường là các công trình cơ sở hạ tầng.
Đầu tư mới ( Greenfield Invesment )
Là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng
các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ
yếu để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển.
Mua lại và sát nhập (Mergers And Aquisitions)
Là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh
nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (Các nước
công nghiệp mới)
Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Integration - Tích hợp dọc)
Các nhà đầu tư đi chuyên sâu vào một hoặc một vài mặt hàng. ở các loại mặt
hàng này các nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z. Đây là hình thức khi nhà đầu tư thực
hiện đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên nhiên liệu tự nhiên và
các yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai )
Ưu điểm: Lợi nhuận cao (vì lấy được ở tất cả các khâu)
Nhược điểm: Rủi ro cao, thị trường không rộng
Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Integration - Tích hợp ngang)
Nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm
có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, hình thức này thường dẫn tới cạnh tranh độc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status