Tài liệu Nhãn quan ngôn ngữ của Nguyễn Tuân - Pdf 10

Nhãn quan ngôn ngữ của Nguyễn Tuân

"Nghề văn là nghề của chữ Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa sinh sự để sự sinh"
(1). Ý kiến này của Nguyễn Tuân một mặt, đã nêu được bản chất lao động của nhà
văn, mặt khác, chỉ ra chất liệu đặc thù của văn học.
Thực tế, không phải người cầm bút nào cũng hiểu thấu đáo đặc điểm chất liệu
mà họ dùng để tạo nên sản phẩm nghệ thuật. Chỉ những ai thực tài, có quan niệm thẩm
mỹ riêng, có ý thức trau dồi nghề nghiệp bền bỉ mới mong nắm được công năng cũng
như hạn chế của vật liệu và mới có thể hình thành nhãn quan ngôn ngữ qua sáng tạo
văn học.
Một đời làm nghề văn, Nguyễn Tuân có nhiều dịp phát biểu những suy nghĩ về
công việc viết lách; về những sở trường sở đoản; những thị hiếu sở thích cá nhân;
những hay dở, thành bại; những kinh nghiệm, những ngón nghề…và nhất là về tiếng
Việt, thứ bảo vật truyền đời mà ông hết lòng yêu quý. Nguyễn Tuân từng nguyện đem
tâm lực của mình góp phần "xây cao thêm cái lâu đài ngôn ngữ dân tộc lung linh diễm
lệ". Từ những lời "tán" tuỳ hứng và phóng túng nhưng thể hiện sự am tường rất sâu về
tiếng Việt đến những sản phẩm nghệ thuật phong phú, đa đạng thuộc nhiều thể loại,
Nguyễn Tuân đã tự bộc lộ nhãn quan ngôn ngữ độc đáo của mình.
1. Trước cách mạng, với sự tôn sùng cái đẹp vô vụ lợi, ít nhiều Nguyễn Tuân
đã thể hiện thiên hướng duy mỹ. Sau cách mạng, ông vẫn là một trong những nhà văn
hàng đầu say mê săn tìm cái đẹp. Tuy nhiên, cái đẹp lọt vào "nhỡn tuyến" của Nguyễn
Tuân dù lắm hình nhiều vẻ, nhưng vẫn cho thấy sự đãi lọc rất kỹ lưỡng của một người
có gu thẩm mỹ, có quan niệm riêng. Với Nguyễn Tuân, cái đẹp, có khi là một lối sống
thanh cao, một khí phách cứng cỏi, một tài năng phi phàm, một đồ vật tuyệt kỹ, một
hương vị thuần khiết, một cảnh sắc kỳ thú…
Và rất nhất quán, một trong những cái đẹp đã hút hồn Nguyễn Tuân chính là lời
ăn tiếng nói của dân tộc mà ông gọi một cách âu yếm, tự hào: "tiếng ta". Hiếm có nhà
văn nào thổ lộ lòng yêu tiếng Việt một cách nồng nàn như Nguyễn Tuân. Với một mỹ
cảm riêng, trong tay Nguyễn Tuân, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện biểu đạt nội
dung mà chính nó cũng là thông tin thẩm mỹ. Điều tưởng chỉ có được ở địa hạt thơ trữ
tình hoá ra lại rất phổ biến trong văn xuôi Nguyễn Tuân. Nó mở ra một khoảng trời tự

trần…Không dễ cảm thụ tác phẩm nếu thiếu sự chú giải cẩn thận.
Đáng kể nhất là những tìm tòi sáng tạo của Nguyễn Tuân về cách nói. Ông
gọi thuốc lào là cỏ tương tư, trí thức là bọn bán óc, thơ lục bát là cách nói sáu
tám, chết được gọi là mạch sống đứt phựt, đưa năm được dùng thay cho tiễn năm
cũ, khuôn mặt được gọi là khổ mặt, tàu hoảthành ô-tô ray, đèn pha ô-tô được thay
bằng con mắt điện… Có thể tìm thấy vô số những dẫn chứng kiểu này trong văn
Nguyễn Tuân. Càng về sau, tần số xuất hiện của chúng càng cao. Đây là một trong
những "bí thuật" mà Nguyễn Tuân ưa dùng để làm giàu thêm vốn từ và luôn thay đổi
"thực đơn" cho người thưởng thức, dẫu có lúc vì điều này mà ông không khỏi mang
tiếng là cầu kỳ, là "vầy vò chữ nghĩa" và thiếu tính đại chúng. Một phong cách ngôn
ngữ không dễ đáp ứng yêu cầu của những thị hiếu khác nhau.
Nguyễn Tuân cũng có nhiều sáng tạo ở cấp độ câu. Dường như câu tiếng Việt
có bao nhiêu kiểu cấu trúc thì có thể tìm thấy bấy nhiêu kiểu trong văn ông. Nguyễn
Tuân đặc biệt thích viết những câu văn phức hợp, nhiều thành phần, trổ nhiều "cành
nhánh", tạo ấn tượng lập thể, gợi liên tưởng nhiều chiều, tránh cái cảm giác đơn điệu,
đơn giản, phẳng dẹt. Mỹ cảm Nguyễn Tuân còn bộc lộ rõ trong quan niệm của ông về
tiết tấu câu văn. Ưa viết câu văn có nhịp điệu, vì thế ông rất ghét những câu văn trúc
trắc mà ông gọi là mắc "chứng tê thấp". Ngược lại, ông cũng dị ứng với âm điệu du
dương biền ngẫu mà ông chỉ đích danh là "con hoang của thể phú", mặc dầu trong một
số truyện giai đoạn đầu, ông đã không tránh khỏi sự ảnh hưởng của nó.
2. Trong quan niệm của Nguyễn Tuân, vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật không
phải là cái gì mù mờ, sương khói, "khả giải bất khả giải chi gian" mà là điều có thể
cảm nhận được bằng giác quan, phân tích được bằng lý trí. Phan Ngọc nhận xét:
"Nguyễn là người đầu tiên nêu được cái đẹp ở khía cạnh kỹ thuật…Anh ra sức tìm
hiểu chữ tại sao, đi vào kĩ thuật tạo ra cái đẹp" (4). Ý thức này của Nguyễn Tuân thể
hiện không chỉ qua việc đánh giá hiệu quả ngôn ngữ trong tác phẩm của người khác,
không chỉ trong việc khám phá cái đẹp tiềm ẩn của tiếng Việt, mà quan trọng hơn, nó
thể hiện trong thao tác sử dụng ngôn ngữ của ông. Thực chất, những mặt ấy có tác
dụng bổ trợ cho nhau một cách tích cực.
Từ góc nhìn vật lý, Nguyễn Tuân giảng giải rất thuyết phục cái đẹp của câu thơ

liệu (ở đây là ngôn từ) bằng những kiến thức khoa học. Những dẫn chứng nêu trên cho
thấy Nguyễn Tuân đã có được những phẩm chất của một kiểu tư duy hiện đại trong
quan niệm về ngôn ngữ. Trong mắt Nguyễn Tuân, dường như ngôn ngữ cũng là một
kiểu "đồ vật" đặc biệt. Nó khiến ông có thể ngắm nghía, lật xoay, tỉa tót, chạm trổ,
tháo lắp, tạo dáng cho phù hợp với mỹ quan của ông. Ông "gieo xuống", "gõ lên",
lắng nghe độ vang ngân của chúng để mà đặt mỗi chữ, mỗi lời vào đúng chỗ thật đắc
địa.
3. Sinh thời, trong cuộc sống và trong tác phẩm, Nguyễn Tuân không hề giấu
giếm khao khát hưởng lạc. Hành lạc trong ẩm thực, trong xê dịch giang hồ, trong men
rượu và khói thuốc phiện, trong thanh sắc ca nữ cô đầu…đã đành; lại còn một kiểu
hưởng lạc khác lạ cũng được ông nói tới một cách rất thành thực: ấy là hưởng lạc
trong viết văn (10). Ông tìm thấy những khoái thú đặc biệt trong việc tự biểu hiện cái
cái bản ngã độc đáo vô song của m ình bằng sự hành ngôn. Ta mới hiểu tại sao
Nguyễn Tuân vừa cảm thấy viết văn là một sự khổ hạnh, lại vừa "sung sướng đến
chảy nước mắt ra đến nỗi có thể tưởng rằng mình sẽ chết ngay được nếu bị tước mất
cái quyền viết" (Võng ngô đồng).
Kiệm lời đến mức dè sẻn hay đa ngôn đến mức phóng túng - hai cách ứng xử
với ngôn ngữ trái ngược nhau ấy hoàn toàn bình đẳng trong công việc làm ra sản
phẩm nghệ thuật, miễn sao đạt đến những giá trị đích thực. Nguyễn Tuân theo hướng
thứ hai, và cách lựa chọn ấy tỏ ra rất hợp với cá tính sáng tạo cũng như sở trường của
ông. Trong viết văn, Nguyễn Tuân thuộc hạng "xài sang", nghĩa là rất tốn chất liệu.
Lối viết này vừa cho phép nhà văn lật xoay mọi góc cạnh của đối tượng được miêu tả,
lại vừa giãi bày miên man cái thế giới nội tâm phức tạp, những suy tưởng lạ lùng của
mình. Nhờ đó, người đọc có thể hình dung "khuôn mặt tinh thần" của nhà văn qua
"hình tượng ngôn từ" trong tác phẩm của ông. Suốt đời, Nguyễn Tuân phấn đấu cho
sự giàu có, đa sắc, tinh tế của ngôn ngữ nghệ thuật là bởi lý do căn bản đó.
Từng có lúc Nguyễn Tuân thú nhận: "Lòng kiêu căng của ta đã xui ta chỉ chơi
có một lối độc tấu"(11). Chữ "độc tấu" mà Nguyễn Tuân dùng ở đây hàm chứa nhiều
nghĩa. Xét về mặt ngôn ngữ, "độc tấu" là sự thể hiện bản sắc riêng, độc đáo của người
nghệ sĩ. Với Nguyễn Tuân, dù là viết bút ký hay tuỳ bút, truyện ngắn hay tiểu thuyết,

ông loay hoay thế nào khi muốn diễn tả đúng nhất cái màu nước biển Cô Tô: "Cái
màu xanh luôn luôn biến đổi của màu nước bể chiều nay trên biển Cô Tô như là thử
thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng. Biển xanh như gì nhỉ?
Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng
Vòng? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó xanh như cái
màu áo Kim Trọng trong tiết Thanh minh? Đúng một phần thôi. Bởi vì con sóng đang
dội lên kia đã gia giảm thêm một chút gì, đã pha biển sang màu khác. Thế thì nước
biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn trên con sóng Giang
Châu thì có đúng không? Chưa được ư? Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được
không? Hay là nói thế này: nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người,
lúc con người phải viết vào thân tre? Nghe hơi trừu tượng quá phải không? Mà kìa,
nhìn cho kĩ mà xem, nước biển đang xanh như cái màu xanh dầu xăng của những
người thiếu quê hương. Cũng không phải là sợ lai căng, nhưng nghe có vẻ vẫn chưa
trúng, vẫn chưa ổn phải không? Sóng vẫn kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng
chiều nay luôn thay màu cho sóng. Mà chữ thì không tài nào tuôn ra kịp với nhịp
sóng" (Cô Tô).
Đoạn văn trên đây bộc lộ hai điều trái ngược: sự giàu có và sự bất lực của ngôn
từ Nguyễn Tuân khi cần định danh thật chính xác một sắc màu. Đây hoàn toàn không
phải chuyện khoe chữ, làm dáng, mà là chân thành thú nhận sự thất bại khi "đua tranh
với tạo hoá" (chữ của Nguyễn Đăng Mạnh). Cái bảng màu của Nguyễn Tuân dù
phong phú đến đâu thì cũng chỉ là những tín hiệu ngôn ngữ, sản phẩm của tư duy,
không thể nào trùng khít với cái màu thực của đối tượng trong thế giới khách quan.
Nhà văn càng cố tìm cách so sánh, liên tưởng bao nhiêu, càng xa bản chất sự vật bấy
nhiêu. Cho nên, đặt vấn đề tính chính xác của ngôn từ trong những trường hợp như thế
này dễ rơi vào cảm tính, chủ quan. Không bao giờ có sự đồng nhất giữa cái biểu
đạt và cái được biểu đạt. Cũng bởi điều này mà suốt cuộc đời cầm bút, không ít lần
Nguyễn Tuân trải nghiệm cái cảm giác bất lực về mặt ngôn từ. Mỗi lần ngồi trước
trang giấy là một lần ông cảm thấy như đối diện với "pháp trường trắng", cũng như
nhiều lúc ông rơi vào cảnh ngộ của "một kẻ cùng đường bên dòng sông chữ quạnh
vắng thê lương". Đó là tâm thế của một nghệ sĩ trung thực và có yêu cầu rất cao trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status