Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
052/04VIE: QUẢN LÝ BỆNH PHYTOPHTHORA
HẠI CÂY TRỒNG Ở VIỆT NAM
CARD
MS7: Báo cáo tổng kết dự án
Tháng 6 năm 2007
1
Mục lục
1. Thông tin về các tổ chức tham gia dự án 1
2. Trích lược dự án (Project Abstract) 2
3. Tóm tắt (Executive Summary) 2
4. Giới thiệu và thông tin cơ bản 6
5. Tiến độ dự án đến kỳ báo cáo (Progress to Date) 7
5.1. Những hoạt động nổi bật (Implementation Highlights) 7
5.2. Lợi ích của nông dân (Smallholder Benefits) 9
5.3. Xây dựng năng lực (Capacity Building) 11
5.4. Quảng bá 15
5.5. Quản lý dự án 16
6. Báo cáo về những vấn đề liên quan ( Cross-Cutting Issues) 17
6.1. Môi trường 17
LỜI CÁM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cám ơn toàn thể nông dân đã tham gia dự án này, đã chia sẻ với
chúng tôi về những suy nghĩ, những ý kiến và lắng nghe chúng tôi, đã tạo điều kiện về đất
đai, cây trồng để chúng tôi thực hiện các khảo nghiệm ngoài đồng và các mô hình trình diễn.
Sự tham gia của bà con nông dân là điều cốt yếu của dự án này. Chúng tôi hy vọng họ sẽ
được hưởng những phần thưởng xứng đáng.
Chúng tôi cũ
ng xin cám ơn Thạc sĩ Nguyễn Vĩnh Trường đã hỗ trợ phiên dịch các bảng
câu hỏi, phiên dịch trong các chuyến thăm đồng, các lớp huấn luyện, và cám ơn Tiến sĩ Trần
Nguyên Hà đã giúp phiên dịch trong lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học ở Viện
Bảo vệ thực vật-Hà Nội. 2
1. Thông tin về các tổ chức tham gia dự án
Tên dự án
Quản lý bệnh Phytophthora hại cây trồng ở Việt
Nam
Đơn vị phía Việt Nam
Viện Bảo vệ thực vật, Hà Nội
Giám đốc dự án phía Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuất
Tổ chức của Úc
Trường Đại học Sydney
Nhân sự Úc
Giáo sư David Guest
Ngày bắt đầu
Tháng 4/ 2005
Fax:
(02) 9351 3256
Tổ chức
Trường Đại học Sydney
Email:
Ở Việt Nam
Tên
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuất
Telephone:
+84 4838 5578
Chức vụ
Viện Trưởng
Fax:
+84 4836 3563
Tổ chức
Viện Bảo vệ thực vật
Email:
1
2. Trích lượt dự án (Project Abstract)
ỉ lệ bệnh cao, mất năng suất trầm trọng
và áp dụng biện pháp hoá học phòng trừ bệnh không thích hợp và không bền vững.
Dự án này xúc tiến một chiến lược tiếp cận với nghiên cứu và quản lý bệnh
Phytophthora trong tương lai. Những vấn đề ở địa phương đã được xác định từ những thành
viên dự án phía Úc đã từng trải qua, thông qua những điều tra cán bộ khuyến nông và nông
dân và t
ừ những kết qủa thảo luận nhóm trong những lớp huấn luyện. Những cây trồng ưu
tiên đã được xác định cho mỗi vùng của ba miền trong phạm vi dự án; miền bắc, miền trung
và miền nam Việt Nam. Các biện pháp quản lý bệnh đã giới thiệu trong quá trình thực hiện
dự án là có thể áp dụng cho các cây trồng ngoài những cây đã chọn trong dự án này. Những
cây ưu tiên đã được xác định ở miề
n nam là dứa (khóm, thơm), cây ăn quả có múi, và tiêu; ở
miền trung là cây ăn quả có múi, tiêu và cao su; ở miền bắc là vải, cà chua, dứa và khoai tây.
Mục đích dự án là huấn luyện cán bộ địa phương về chẩn đoán bệnh và đẩy mạnh thực
hiện chiến lược quản lý bệnh bền vững và hiệu quả. Điều này đã được hoàn thành qua 2 lớp
Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học (Scientific Training Workshops), qua những
chuyến thăm đồng của các thành viên dự án phía Úc và phía Việt Nam, qua sự phát triển các
tài liệu huấn luyện và kết quả những dự án nghiên cứu nhỏ. Những lớp huấn luyện cán bộ
khuyến nông địa phương, lớp huấn luyện nông dân và các điểm trình diễn về các biện pháp
Những bệnh do nấm Phytophthora gây ra đã tấn công trên nhiều loài cây trồng ở Việt
Nam, có vài vụ làm giảm năng suất đến 70%. Mục tiêu của dự án là cải tiến sự quản lý
bệnh Phytophthora hại cây trồng Việt Nam, bằng cách nâng cao kiến thức cho các nhà
khoa học, cán bộ khuyến nông và nông dân, để giảm sự mất mùa và tăng thu nhập cho
nông dân. Các nhà khoa học Úc và Việt Nam đã tổ chức các lớp huấn luyện để truyền bá
nhữ
ng biện pháp quản lý bệnh hiệu quả và bền vững cho các nhà khoa học, các cán bộ
Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, các cán bộ Khuyến Nông và các nông dân. Dự án đã huấn
luyện 157 nhà khoa học và cán bộ khuyến nông và trên 450 nông dân. Những khảo
nghiệm đồng ruộng và mô hình trình diễn có nông dân tham gia đã được thực hiện bởi các
cán bộ khuyến nông và các nhà khoa học để phát triển các biện pháp quản lý bệnh tổng
Hà Nội, TTCAQTTH-Huế, Viện NCCAQMN-Mỹ Tho vào khoảng giữa ngày 31 tháng 3 đến
13 tháng 6 năm 2005. Có 77 nhà khoa học và cán bộ khuyến nông tham dự trong các lớp
huấn luyện đế
n từ các trường Đại học, các Viện Nghiên cứu và các Trung tâm Khuyến Nông
ở miền bắc, trung và nam Việt Nam. Trong 3 ngày huấn luyện cán bộ nghiên cứu khoa học,
khởi đầu là các học viên xác định và phân tích những tồn tại của sản xuất cây trồng ở vùng
họ ở. Những chuyến thăm đồng cùng với các chuyên gia Úc đã giúp họ có thể xác định
những triệu chứng bệnh đúng. Như mong đợi, những phân tích này đã xác đị
nh những bệnh
Phytophthora (cho dù chẩn đoán đúng hay không) là những vấn đề chính đối với cán bộ
khuyến nông và nông dân. Sự thiếu thông tin khuyến nông và năng lực khuyến nông dẫn
đến kết quả chẩn đoán bệnh không đúng và quản lý trang trại không thích hợp được xác định
một cách phù hợp là những tồn tại chính của nông dân.
Sau đó, trong lớp huấn luyện học viên đã được hướng dẫn chọn mẫu b
ệnh trên đồng,
chẩn đoán và quản lý bệnh phytophthora ở Việt Nam. Các học viên còn được huấn luyện về
giám định nấm bệnh, chẩn đoán bệnh, các phương pháp phòng trừ bệnh và kỹ thuật nghiên
cứu có tham gia của nông dân (PAR). Những buổi học đã giới thiệu học viên sự đa dạng của
loài Phytophthora và những bệnh chúng gây ra trên nhiều cây trồng, tác động của những
bệnh Phytophthora ở Đông Nam Á, những khái ni
ệm của chẩn đoán bệnh, phân lập nấm và
giám định, dịch tễ học và chu kỳ bệnh (hình 1). Những thông tin đã được trình bày bằng
tiếng Việt Nam và tiếng Anh, được phiên dịch đồng thời khi cần thiết. Những kiến thức này
đã được thực hành khi học viên ra đồng ruộng để xác định cây bệnh và thu thập mẫu để phân
tích trong phòng thí nghiệm.
Hình 1. Tiến sĩ Andre Drenth giảng bài trong lớp huấn luyện đầu tiên ở TTCAQTTH , tháng 6 năm 2005
Trong phòng thí nghiệm các học viên đã học các kỹ thuật phân lập Phytophthora từ đất
và mẫu bệnh cây đã được thu thập khi thăm đồng, và làm thế nào để giám định Phytophthora
là nguyên nhân gây bệnh. Những học viên được chia làm nhiều nhóm để thảo luận về mức độ
ững chuyến thăm đồng, hiểu nguyên nhân gây bệnh, xây dựng những
khảo nghiệm đồng ruộng và sự phát triển và mở rộng những khuyến cáo về quản lý
bệnh cho 77 nhà khoa học và cán bộ khuyến nông đã tham dự những lớp huấn luyện tổ
chức tại Viện BVTV, TTCAQTTH và Viện NCCAQMN.
Vào tháng 7 năm 2005 (Thạc sĩ Nguyễn Thị Ly và Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoà) và tháng 7
năm 2006 (Thạc sĩ Đoàn Nhân Ái) nh
ững nhà khoa học Việt Nam từ Viện BVTV, Viện
NCCAQMN và TTCAQTTH đã đến Úc và tham dự chuyến tham quan học tập về cây trồng
Úc. Chuyến tham quan học tập này đã cho các nhà khoa học Việt Nam thấy rõ những kỹ
thuật tốt nhất được áp dụng trong vườn ươm và ngoài vườn trồng cũng như những kỹ thuật
giám định nấm bệnh và huấn luyện nghiên cứu. Khi trở về Việt Nam, những nhà khoa học
Vi
ệt Nam vận dụng những kỹ thuật thích hợp với điều kiện của họ. Nguồn kiến thức họ học
được từ chuyến thăm này đã chuyển giao đến các Trung tâm Khuyến Nông thông qua các lớp
Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông và chương trình huấn luyện nông dân, và đã hoàn thành
xây dựng năng lực của dự án. Chuyến tham quan cũng xây dựng trên mối quan hệ sẵn có và
thiết lập những m
ạng lưới hợp tác mới giữa các nhà khoa học Việt Nam và Úc. Các nhà khoa
học Việt Nam đánh giá rất cao về giá trị của chuyến tham quan này mà họ đã trình bày trong
4
những báo cáo đã nộp với những báo cáo 6 tháng lần 2 và 3. Chính phủ Việt Nam đã cấp
kinh phí cho 2 nhà khoa học Việt Nam tham quan Queensland và Northern NSW vào năm
2007, lần nữa chứng tỏ những tác động đã vượt quá nhiệm vụ của dự án này.
Kết quả nổi bật từ những chuyến tham quan học tập đã cho ba nhà khoa học Việt Nam
thấy rõ những kỹ thuật thực hành tốt nhất trên vườn ươm và vườn tr
ồng, và chuyển
giao những ý tưởng mới cho cán bộ khuyến nông và nông dân Việt Nam.
Sau những lớp huấn luyện cán bộ nghiên cứu khoa học được tổ chức ở Việt Nam và sau
những chuyến tham quan học tập cây trồng ở Úc của các nhà khoa học Việt Nam, cán bộ
qua các lớp huấn luyện nông dân, các mô hình trình diễn và khảo nghiệm đồng ruộng ở cả 3
miền. Những khảo nghiệm đã được theo dõi và những kết quả đã thảo luận ở lớp Huấn luyện
Cán bộ Nghiên cứu Khoa học cuối cùng vào tháng 1 (Viện BVTV) và tháng tư (TTCAQTTH
và Viện NCCAQMN) năm 2007. Các học viên đã trình bày ở những lớp huấn luyện cuối
cùng những kết quả
thu được từ những khảo nghiệm của họ (đã nộp những báo cáo này
trong đĩa CD) và cho thấy huấn luyện nông dân trong thời gian tới được lập kế hoạch vượt
quá dự án này, dựa trên những kỹ năng đã phát triển. Thành viên dự án phía Úc đã thăm
nhiều khảo nghiệm trên đồng khác nhau để giám sát và thảo luận quá trình thực hiện những
chiến lược phòng trừ bệnh. Kết quả đã nâng cao ki
ến thức về nấm bệnh và những bệnh hại
do chúng gây ra, sự chẩn đoán bệnh bấy giờ được đúng hơn. Quản lý trang trại đã được cải
thiện có ý nghĩa và trên vài cây trồng, năng suất tăng bền vững trên 70% đã được thừa nhận.
Kết quả nổi bật từ những lớp huấn luyện nông dân và khảo nghiệm đồng ruộng là
cán bộ khuy
ến nông và nông dân hiểu biết nhiều hơn về nấm và bệnh. Sự chuyển giao
những biện pháp quản lý bệnh thích hợp và bền vững đã cải thiện sự quản lý trang trại,
giảm sự ỷ lại, và sử dụng không đúng, vào thuốc Bảo vệ thực vật; và kết quả đã nâng
cao chất lượng và năng suất cây trồng.
5
Mục tiêu cơ bản của dự án này là nâng cao năng suất cây trồng cho nông dân sản xuất
nhỏ (tiểu nông) và xoá đói giảm nghèo, bằng cách phát triển những kỹ năng và năng lực của
các nhà khoa học và cán bộ khuyến nông để thực hiện những khuyến cáo về quản lý bệnh
thích hợp và hiệu quả đối với nông dân. Bây giờ, các cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ
khuyến nông đã được nâng cao năng l
ực có ý nghĩa hơn để chẩn đoán những bệnh do
Phytophthora gây ra và để truyền bá những biện pháp quản lý bệnh thích hợp. Chẩn đoán
bệnh đúng, nâng cao kiến thức về nấm bệnh, và có các biện pháp quản lý bệnh tạo điều kiện
thuận lợi thực hiện những chiến lược quản lý bệnh đạt mục đích và hiệu quả. Từ những quan
ệt hại do bệnh, hoặc họ bỏ bê
luôn, không phòng trừ gì cả. Sự thiếu thông tin cũng dẫn đến kết quả là sử dụng thuốc Bảo vệ
thực vật không thích hợp. Ví dụ, trước dự án này, ở tỉnh Bắc Ninh, nông dân đã sử dụng
thuốc Bảo vệ thực vật 10 lần để phòng trừ bệnh trên khoai tây trong một vụ. Họ sử dụng
thuốc trừ nấ
m không thích hợp và xử lý thuốc không đúng lúc. Ở xã Thuỷ Biểu-tỉnh Thừa
Thiên Huế, chúng tôi đã gặp một nông dân đã dùng thuốc trừ sâu để trừ bệnh do nấm gây ra
vì cô ta không có kiến thức để chẩn đoán đúng nguyên nhân gây bệnh trên cây tiêu của cô. Ở
Tây nguyên, phần lớn nông dân tạo " hố voi" dưới gốc cây tiêu để giữ nước chống hạn trong
mùa khô, nhưng lại bị úng nước trong mùa mưa, đã tạo đi
ều kiện thuận lợi cho bệnh
Phytophthora phát triển. Do áp lực của thị trường, yêu cầu sản phẩm nông nghiệp giá cao
phải có chất lượng tốt, không hư hỏng, người nông dân đã gia tăng áp dụng thuốc Bảo vệ
thực vật. Hậu quả là dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trong lương thực, thực phẩm và môi
trường ô nhiễm đã trở thành vấn đề nghiêm trọ
ng.
6
Mục tiêu cơ bản của dự án này là nâng cao năng suất cây trồng cho nông dân sản xuất
nhỏ (tiểu nông) và xoá đói giảm nghèo bằng cách nâng cao kiến thức về những bệnh
Phytophthora và năng lực để thực hiện những khuyến cáo về quản lý bệnh ở tất các các mức
độ đối với cây trồng Việt Nam. Những cây ưu tiên đã được xác định mỗi vùng ở 3 miền;
bắc, trung và nam Việ
t Nam. Nhóm dự án phía Úc và Việt Nam đã thực hiện một lọat các lớp
huấn luyện và quản lý các đề tài khảo nghiệm đồng ruộng ngắn hạn. Những lớp huấn luyện
của chúng tôi với mục đích là lấp đầy những khoảng trống kiến thức về bệnh Phytophthora ở
tất cả các mức của cây trồng Việt Nam. Lớp huấn luyện tập trung vào sinh học Phytophthora,
những b
ệnh do nó gây ra, và các biện pháp quản lý bệnh. Các cán bộ nghiên cứu khoa học và
cán bộ khuyến nông đã được huấn luyện về chẩn đoán bệnh ở ngoài đồng và trong phòng thí
Ly (Viện BVTV) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoà (Viện NCCAQMN) đã đến Úc vào tháng 7
năm 2005 và Thạc sĩ
Đoàn Nhân Ái (TTCQTTH) đến vào tháng 7 năm 2007 tham gia
chuyến tham quan học tập để khảo sát kỹ thuật tốt nhất trên vườn ươm và trên vườn trồng ở
miền nam bang Queensland, và để chuẩn bị cho việc chẩn đoán triệu chứng bệnh
Phytophthora sau này. Điều này sẽ xây dựng năng lực cho các cơ quan và mục đích là tăng
tối đa lợi ích lâu dài của mỗi đơn vị.
5. Tiến độ dự án đến kỳ báo cáo (Progress to Date)
5.1. Những hoạt động nổi bật (Implementation Highlights)
Toàn bộ kết quả chủ yếu của dự án này là năng lực được nâng cao có ý nghĩa ở Việt Nam
ở các mức độ khác nhau (như nhà khoa học, cán bộ khuyến nông, nông dân) về chẩn đoán
7
đúng các vấn đề bệnh Phytophthora và, dựa vào sự hiểu biết các lãnh vực liên quan đến sinh
học nấm bệnh Phytophthora, để phát triển và thực hiện các chiến lược quản lý bệnh bền vững
và hiệu quả. Nông dân tham gia dự án này chứng tỏ họ đã làm giảm sự thiệt hại năng suất do
Phytophthora làm cho lợi nhuận tăng lên, giảm sự sử dụng hoá chất không thích hợp và hệ
thống sả
n xuất bền vững hơn.
Kết quả chi tiết của dự án được trình bày trong khung báo cáo ( Report Logframe) (phụ
lục I)
Tóm lại, những hoạt-động-chính của dự án đã hoàn thành các mục tiêu được thực hiện
như sau:
1. Ký kết hợp đồng dự án vào tháng 4 năm 2005 (xem bảng tóm tắt hoạt-động-chính lần 1
(Logframe reference Milestones 1).
2. Ký kết biên bản ghi nhớ giữa hai Giám đốc dự án phía Úc và phía Việt Nam (xem bảng
báo cáo tóm tắt hoạ
t-động-chính lần 1).
3. Sự đệ trình các báo cáo tiến độ dự án (xem bảng tóm tắt hoạt-động-chính lần 2, 3, 5)
4. Sự phát triển và phân phối Tài liệu Huấn luyện Cán bộ nghiên cứu khoa học (xem bảng
biên soạn bởi 3 đối tác Việt Nam để truyền bá thông tin về các biện
pháp quản lý bệnh đến bà con nông dân.
8
12. Bố trí các khảo nghiệm đồng ruộng có nông dân tham gia ở miền Bắc, miền Trung, và
miền Nam Việt Nam bởi các cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ khuyến nông từ Viện
BVTV, TTCAQTTH, Viện NCCAQMN, và các Chi cục BVTV ( phụ lục II).
a. Trên 450 nông dân đã được huấn luyện và tham gia khảo nghiệm trên đồng
ruộng. Những kết quả khảo nghiệm tiêu biểu của nông dân được trình bày ở phụ
lục III.
13. Nâng cao sự hi
ểu biết về nấm bệnh, nguyên nhân gây bệnh và các chiến lược quản lý
bệnh trong số những cán bộ Khuyến nông và nông dân thông qua các khảo nghiệm đồng
ruộng có nông dân tham gia và các hoạt động khuyến nông.
14. Nâng cao trình độ quản lý bệnh cho nông dân.
a. Trước dự án này, sự hiểu biết về nấm bệnh và những bệnh do chúng gây ra, và
những biện pháp hiện có để phòng trừ bệnh đã bị hạn chế ở một vài vùng.
b. Những nông dân tham dự những lớp Huấn luyện Nông dân đã chấp nhận những
biện pháp phòng trừ mới mà họ đã học được.
15. Các nhà khoa học Việt Nam (Thạc sĩ Nguyễn Thị Ly từ Viện BVTV, Hà Nội, và Tiến sĩ
Nguyễn Minh Châu, và Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoà từ Viện NCCAQMN, Mỹ Tho) và đối
tác Úc ( Giáo sư David Guest, Tiến sĩ Andre Drenth và Tiến sĩ Rosalie Daniel) đến Huế
(TTCAQTTH, ông Đoàn Nhân Ái) để
thăm các khảo nghiệm đồng ruộng có nông dân
tham gia (cây ăn quả có múi, cao su, tiêu) ở khu vục miền Trung vào tháng 2 năm 2006.
a. Củng cố mạng lưới giữa các Viện Nghiên Cứu, các Trung tâm Khuyến Nông
Quốc gia và các Trung tâm Khuyến Nông tỉnh từ miền Bắc và miền Nam Việt
9
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Lack of
information
Staff
shortage
Weather Money Time
Participants (%)
2005
2007
(lack of information: thiếu thông tin, staff shortage: thiếu cán bộ, weather: khí hậu, money: tiền, time: thời gian)
Hình 5. Những hạn chế chính về quản lý bệnh, được xếp hạng do các học viên của lớp Huấn luyện Cán bộ
Nghiên cứu Khoa học. Tất cả những hạn chế là thể hiện rõ ở lần điều tra thứ hai. Hạn chế lớn nhất vẫn là do
thiếu thông tin - số liệu tăng lên, có lẽ vì học viên đã nhận thứ
c rằng thông tin là rất quan trọng để thực hiện
chiến lược quản lý bệnh hiệu quả và bền vững và họ có thể cập nhật những thông tin sẵn có. Số liệu trình bày
giá trung bình thu được từ những câu hỏi kết hợp của những phiếu điều tra đã thực hiện ở những lớp Huấn
luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học tổ chức tại Viện BVTV, Việ
Số liệu trình bày giá tr
ị trung bình thu được từ những câu hỏi kết hợp trong những phiếu điều tra đã thực hiện ở
những lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học tổ chức tại Viện BVTV, Viện NCCAQMN và
TTCAQTTH vào năm 2005 và 2007.
d. Giảm tỉ lệ bệnh
• Những kết quả từ những khảo nghiệm nông dân cho thấy những biện pháp phòng
trừ mới là có hiệu quả làm giảm tỉ lệ bệnh (phụ lục II)
e. Chất lượng sản phẩm tốt hơn.
f. Tăng năng suất (phụ lục III)
g. Thu nhập cao hơn. 10
5.3. Xây dựng năng lực (Capacity Building)
Dự án này đã nâng cao kiến thức cơ bản, những kỹ năng và sự tự tin về chẩn đoán bệnh
cho các nhà khoa học, các cán bộ Khuyến nông và nông dân Việt Nam tham gia dự án. Chẩn
đóan bệnh đúng, kết hợp với những kiến thức về các biện pháp quản lý bệnh đã làm giảm tỉ
lệ bệnh và nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩ
m.
1. Những lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học ở Viện BVTV, TTCAQTTH, Viện
NCCAQMN
Tổ chức vào tháng 6 năm 2005 (bắt đầu) và tháng 1 và tháng 4 năm 2007 (kết thúc)
77 học viên của lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học đầu tiên đã xác định
những khó khăn chính mà nông dân đang đối đầu. Dựa vào những phân tích này, học viên đã
học về sinh học Phytophthora, nguyên nhân gây bệnh và các biện pháp phòng trừ sẵn có và
biết tại sao chúng lại có hiệu quả. Học viên đã được huấn luyện về chẩn đoán bệ
nh ngoài
đồng và trong phòng thí nghiệm, nâng cao năng lực của các cơ quan về chuẩn đoán triệu
2007
Hình 7. Tỉ lệ % học viên mô tả sự hiểu biết hiện có của họ về quản lý bệnh như không biết (no knowledge) ,
dưới trung bình (below average), trung bình (average), tốt (good), rất tốt (excellent). Các học viên đã xếp hạng
sự hiểu biết của họ về quản lý bệnh cao hơn vào giai đoạn kết thúc dự án. Những số liệu biểu thị giá trị trung
bình thu được từ những câu trả lời kết h
ợp trong bảng câu hỏi ở các lớp Huấn luyện cán bộ Nghiên cứu Khoa
học được tổ chức ở Viện BVTV,Viện NCCAQMN, và TTCAQ Thừa Thiên Huế năm 2005 và 2007.
Trong suốt lớp huấn luyên đầu tiên, học viên đã được giới thiệu những biện pháp quản
lý bệnh do những loài Phytophthora gây ra. Ở lớp Huấn luyện đầu tiên, biện pháp hoá học đã
được khẳng định là phương pháp phổ biến nhất để phòng trừ bệnh. Nhưng ở lớp Huấn luyện
Cán bộ Nghiên cứu Khoa học cuối cùng học viên đã đề nghị áp dụng các biện pháp kỹ thuậ
t
canh tác, như vệ sinh đồng ruộng, thoát nước tốt và chọn giống kháng, đã gia tăng các biện
pháp phòng trừ bệnh Phytophthora (Hình 8)
11
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Những lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông trong dự án này mục đích là phát triển
những kiến thức đã tiếp thu từ những lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học ở tất cả
các mức về cây trồng Việt Nam. Những lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông đã được Viện
BVTV, Viện NCCAQMN, và TTCAQTTH tổ chức. Những học viên đã được dạy về nh
ận
biết những triệu chứng bệnh và được giới thiệu những chiến lược quản lý tổng hợp bền vững
và hiệu quả. Sau khi tham gia lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông đầu tiên, các học viên đã
nâng cao hơn sự hiểu biết của họ về quản lý bệnh so với trước khi tham dự lớp huấn luyện
(hình 9). Như mong đợi, các học viên của lớp Huấn luyệ
n Cán bộ Khuyến nông do
TTCAQTTH tổ chức đã xếp hạng những yếu tố quan trọng gây ra mất mùa. Sự nhận thức về
sâu bệnh hại gây ra mất mùa đã tăng lên sau khi huấn luyện. Hoặc là thời tiết cũng tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho bệnh phát triển, làm cho tỷ lệ bệnh cao hơn và hậu quả là tăng mất
mùa (hình 10).
Một bộ tài liệu dự
a vào những gì phát triển ở lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa
học đã cung cấp cho học viên lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông. Các học viên từ những
lớp huấn luyện này đã giám sát các khảo nghiệm đồng ruộng có nông dân tham gia và thực
hiện các hoạt động Khuyến nông liên quan đến nông dân. Những kết quả của các khảo
nghiệm đồng ruộng có nông dân tham gia được trình bày ở những lớp Huấn luyện cu
ối cùng
trong tháng 1 và tháng 4 năm 2007. 12
0
10
20
30
70
80
90
100
Weather Management Diseases &
pests
Lack of
fertiliser
Water
Participants
First workshop
Second workshop
Hình 10. Nguyên nhân quan trọng nhất gây ra mất mùa theo các học viên lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông
do TTCAQTTH tổ chức. Những nguyên nhân gây mất mùa đã thay đổi. Sự nhận thức về dịch hại gây mất mùa
đã tăng lên sau khi được huấn luyện. Những số liệu biểu thị giá trị trung bình thu được từ những câu trả lời kết
hợp trong bảng câu hỏi ở cáclớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông do TTCAQTTH tổ
chức.
Dựa trên những câu trả lời từ học viên lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông, biện pháp
hoá học vẫn là phương pháp phổ biến nhất để phòng trừ bệnh (hình 11) và vẫn được xếp
hạng là phương pháp hiệu quả nhất để phòng trừ bệnh (hình 12). Sự khác nhau này từ những
câu trả lời của các học viên lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học, đề nghị rằng các
nông dân và cán b
ộ Khuyến nông có thể miễn cưỡng để thử các phương pháp mới cho đến
khi họ tự tin những gì họ làm, hoặc những chẩn đoán đúng tạo điều kiện chọn hoá chất thích
hợp và sử dụng hoá chất hiệu quả hơn những gì họ làm trước đây. Điều này được xác nhận từ
những báo cáo về hiệu quả thấp của hoá chất đã báo cáo trong l
ớp huấn luyện đầu tiên. Sự áp
dụng biện pháp canh tác được tăng lên trong quá trình thực hiện dự án (hình 11), cho thấy
Cán bộ Khuyến nông xếp hạng. Những số liệu biểu thị giá trị trung bình thu được từ những câu trả lời kết hợp
trong bảng câu hỏi ở các lớp Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông do TTCAQTTH tổ chức.
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Chemical Hygiene Drainage Mulch Cultivar
Participants (%)
First workshop
Second workshop
Hình 12. Các phương pháp quản lý bệnh được xếp hạng là hiệu quả nhất do các học viện lớp Huấn luyện Cán
bộ Nghiên cứu Khoa học tổ chức tại Viện BVTV, TTCAQTTH và Viện NCCAQMN năm 2005 và 2007. Giai
đoạn cuối của dự án, các biện pháp vệ sinh đồng ruộng đã được xem là quản lý bệnh hiệu quả hơn. Những số
liệu biểu thị giá trị trung bình thu được từ những câu trả l
ời kết hợp trong bảng câu hỏi ở các lớp Huấn luyện
Cán bộ Khuyến nông do TTCAQTTH tổ chức.
4. Các Khảo nghiệm Đồng ruộng Có Nông dân Tham gia (Farmer Participatory Action
Research Trials)
Ở lớp Huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học đầu tiên, học viên đã được giới thiệu về
Khảo nghiệm Đồng ruộng Có Nông dân Tham gia như là một công cụ để huấn luyện nông
thăm Huế
Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu (Viện NCCAQMN), Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoà (Viện
NCCAQMN), Thạc sĩ Nguyễn Thị Ly (Viện BVTV), Thạc sĩ Nguyễn Vĩnh Trường (trường
Đại học Nông Lâm Huế) và các thành viên dự án phía Úc đã thăm các Khảo nghiệm Đồng
ruộng Có Nông dân Tham gia do TTCAQTTH (ông Đoàn Nhân Ái) tổ chức. Chuyến thăm
này tạo ra một cơ hội độc nhất vô nhị cho các thành viên dự án Việt Nam được gặp nhau và
thiết lậ
p những mạng lưới mạnh mẽ hơn. Nó cũng tạo cơ hội cho các nhà khoa học từ miền
bắc và miền nam đến quan sát bệnh và các thực hành quản lý bệnh hại cây trồng mà những
loài cây này không được trồng hoặc không có ở miền bắc hay nam.
7. Những hoạt động khác kết hợp với dự án
7.1 Toạ đàm ở trường Đại học Nông Lâm Huế
Tiến sĩ Andre Drenth và Giáo sư David Guest đã trình bày về Phytophthora tại các buổi
toạ đàm (seminars) ở trường Đại học Nông Lâm Huế vào tháng 2 năm 2006.
7.2 Đề tài nghiên cứu sinh của cô Phạm Ngọc Dung và ông Nguyễn Vĩnh Trường
Cô Dung (Viện BVTV) đã bắt đầu thực hiện đề tài nghiên cứu sinh về " Nghiên cứu
bệnh Phytophthora trên cây tiêu" ở tỉnh Dak Nông. Giáo sư Guest và Tiến sĩ Drenth đã góp ý
cho cô Dung chọn đề tài và các phương pháp nghiên cứu. Cô Dung đã tham dự lớp Huấn
luyện cuối cùng ở TTCAQTTH vào tháng 4 năm 2007 và tham quan học tập ở Úc vào tháng
7 năm 2007. Ở miền Trung Việt Nam cô ta có thể đã thăm nhiều vườn tiêu và thảo luận về đề
tài của cô với ông Nguy
ễn Vĩnh Trường, ông Trường hiện đang thực hiện đề tài nghiên cứu
sinh tại trường Đại học Sydney-Úc về bệnh Phytophthora trên cây tiêu ở miền trung Việt
Nam.
7.3. Thạc sĩ Đoàn Nhân Ái (TTCAQTTH) đã trình bày " Quản lý Tổng hợp các bệnh
Phytophthora trên cây tiêu" ở 3 lớp Huấn luyện Nông dân do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh
Quảng Trị tổ chức vào tháng 3 năm 2007, và ở diễn đàn " Các giải pháp kỹ thuậ
động địa phương như là các lớp huấn luyện khuyến nông, các sách báo khuyến nông và
những khảo nghiệm nông dân. Từ đó người Việt Nam có quyền làm chủ hơn các thành
quả của dự án.
3. Mẫu báo cáo d
ự án nên được thay đổi để báo cáo kết quả dự án được ngắn gọn và rõ ràng
hơn. Yêu cầu về giới thiệu và thông tin cơ bản cho mỗi báo cáo 6 tháng là không cần
thiết.
4. Chúng tôi đã trông đợi sự phản hồi tốt hơn từ Ban Quản lý dự án sau các báo cáo hoạt-
động-chính. Những thông tin phản hồi hạn chế và chúng tôi đã nhận những thông tin
phản hồi rời rạc, khó hiểu, có vẻ tiêu cực, và không có tính cách xây dựng đố
i với sự
quản lý, các hoạt động khoa học hoặc khuyến nông của dự án. Tất cả những thẩm tra để
làm rõ hay giải thích các nhận xét đưa ra trong các ý kiến phản hồi đã bị che dấu những
khuyết điểm do Cố vấn Kỹ thuật Trưởng (Chief Technical Advisor) (CTA) mà không có
bằng chứng là đã tham khảo ý kiến với Ban Quản lý dự án (CARD-PMU), tạo ra sự nghi
ngờ về tính hiệu quả
của Ban Quản lý dự án về sự bảo đảm "quyền làm chủ" chương
trình về phía Việt Nam.
5. Một số điều kiện trong báo cáo, trong đó có một vài điều đã không chân thật, đã được đưa
vào sau khi dự án bắt đầu khởi động một cách tuỳ tiện, làm tăng thêm gánh nặng cho các
thành viên tham gia dự án phía Úc trong việc quản lý. Ví dụ, các lãnh đạo dự án phía Úc
đã bị yêu cầu kiểm tra tính chính xác của các báo cáo hoạt-
động-chính (milestone) dịch
sang tiếng Việt do Lãnh đạo dự án phía Việt Nam nộp cho Ban Quản lý dự án (PMU).
Đã một lần các nhà lãnh đạo Úc yêu cầu tổ chức sắp xếp lại việc báo cáo bằng cách kết
hợp các báo cáo hoạt-động-chính nhưng đã bị khước từ, buộc chúng tôi phải nhắc lại
những thông tin đã được đệ trình trước đây trong một báo cáo riêng lẻ khác. Mặc dù đã
có những báo cáo chi tiết về
các hoạt-động-chính nhưng các lãnh đạo dự án Úc vẫn bị
yêu cầu cung cấp những mẫu chuyện cho bản tin Hassals and Associates Incorporated
quản lý?
9. Thời gian thực hiện dự án hơi ngắn ngủi. Để có thể có tác động lâu dài, những dự án, nhất
là những dự án liên quan đến những loài cây trồng theo mùa (cây lâu năm), nên có qui
mô lớn hơn và có khung thời gian dài hơn. Cần tiếp tục huấn luyệ
n và huấn luyện chuyên
sâu để phát triển nhóm cán-bộ-nguồn (resource teams) của Việt Nam.
10. Dựa vào những hợp đồng đã trút tất cả rủi ro về tài chính, kỹ thuật và nhân sự lên tổ
chức đối tác Úc và thiếu sự ủng hộ rõ ràng về khoa học và quản lý để cung cấp cho
chương trình Hợp tác Phát triển Nông thôn (CARD) hiện hành, cho một vài tổ chức
nghiên cứu bao gồm cả các tổ chức liên quan đến dự án, không còn cho phép nhân viên
của h
ọ bị dính líu nữa vào các dự án Hợp tác Phát triển Nông thôn (CARD) do HAI
quản lý.
6.
Báo cáo về những vấn đề liên quan ( Cross-Cutting Issues)
6.1. Môi trường
Chẩn đoán bệnh đúng tạo cơ sở cho việc phòng trừ bệnh đúng đắn. Kết hợp các phương
pháp trong các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh hại sẽ đạt được kết quả toàn diện. Có nghĩa
là hệ thống canh tác trở nên bền vững hơn. Bằng cách huấn luyện các cán bộ Nghiên cứu
Khoa học, các cán bộ Khuyến Nông và các nông dân xác định đúng nguyên nhân gây bệnh,
sau đó ng
ười nông dân có thế kếp hợp nhiều phương pháp phòng trừ bệnh khác nhau để giảm
bớt sự trông cậy vào các biện pháp hoá học. Và họ có thể áp dụng đúng thuốc để phòng trừ
nấm gây bệnh trên cây trồng của họ, do đó làm giảm sự lãng phí và tăng hiệu quả. Đưa ra
những khuyến cáo về các biện pháp quản lý bệnh để họ có thể chọn ra những biện pháp thích
hợp nhất vớ
i môi trường và khả năng tài chính của họ. Dựa vào kết quả điều tra ở các lớp
Huấn luyện Cán bộ Khuyến nông, các học viên đã quan tâm đến môi trường bị ảnh hưởng do
quá trình canh tác của họ (hình 13). Các học viên đã giảm sự quan tâm về sức khoẻ và môi
trường theo thời gian.
được các triệu chứng bệnh do nấm Phytophthora gây ra. Họ không có kiến thức về tác nhân
gây bệnh, sự lây lan, những điều kiện thích hợp cho bệnh xâm nhiễm và phát triển. Từ đó,
nhiều nông dân đã không áp dụng các chiến lược quản lý để phòng trừ bệnh hoặc họ đã thực
hiện các phương pháp phòng trừ bệnh không thích hợ
p. Ví dụ, ở miền trung những nông dân
đã nhân giống từ cây mẹ đã bị nhiễm nấm bệnh bằng phương pháp giâm cành hoặc chiết
cành (đối với cây tiêu, bưởi), họ trồng cây con trên vùng đất thoát nước kém (bưởi), không
tỉa bỏ, không dọn dẹp sạch sẽ những bộ phận của cây hoặc quả bị nhiễm bệnh ra khỏi vườn
của họ (không làm vệ sinh đồng ruộng) và trồng xen nhữ
ng cây cũng nhiễm bệnh
Phytophthora như khoai sọ (môn), cà chua, ớt, cà dê (cà tím), các loại dưa, dứa (thơm, khóm)
hoặc dùng cây mít hoặc cây bơ làm trụ (choái, cọc) tiêu. Vài nông dân chỉ áp dụng biện pháp
hoá học như dùng thuốc trừ nấm Alliette, Ridomil hoặc Bordeaux để phòng trừ bệnh nhưng
họ lại không chọn được loại thuốc trừ nấm có hiệu quả nhất để phòng trừ bệnh Phytophthora.
Ở miền bắc Việt Nam, nông dân luân canh những cây trồng cùng nhi
ễm nấm Phytophthora
và những nấm khác, do đó nguồn bệnh ngày càng phát triển.
Sau khi bố trí các khảo nghiệm có nông dân tham gia, các cán bộ Khuyến nông và nông
dân đã có thể phân biệt bệnh Phytophthora với các bệnh khác. Bây giờ họ hiểu rằng nấm có
thể sống và tồn tại trong đất và trong tàn dư thực vật. Họ cũng rất hiểu rằng việc thóat nước
là quan trọng đối với sự nhiễm bệnh của cây trồng, đối v
ới sự lây lan của nấm bệnh và sự
quản lý bệnh hại. Những nông dân bây giờ đã trồng cây đã chọn lọc trên những luống đất cao
hoặc trên mô đất để cải thiện việc thoát nước (thoát nước tốt) (hình 14). Bằng cách dạy nông
dân nhận biết các triệu chứng bệnh, thực hiện các chiến lược quản lý tổng hợp có hiệu quả và
áp dụng thuốc trừ nấm bệ
nh thích hợp, sự sử dụng thuốc trừ nấm bệnh đã giảm sự lãng phí và
phòng trừ bệnh hiệu quả hơn.
suất và chất lượng cây trồng, các nông dân có thể tăng thu nhập. Dự án này đã được tài trợ
trong 2 năm. Nhưng hầu hết các loài cây trồng có thời gian sinh trưởng dài hơn thời gian thực
hiện dự án nên phải điều chỉnh sự quản lý sao cho thích hợp. Theo sự quan sát của chúng tôi
và sự thảo lu
ận giữa chúng tôi với nông dân và cán bộ tham gia dự án thì sự gia tăng năng
suất và kết quả làm tăng thu nhập đã được mọi người thừa nhận. Một trong những tồn tại
trong việc thu thập số liệu đúng và tiêu biểu về ảnh hưởng của những biện pháp quản lý mới
đến chất lượng và năng suất cây trồng là phụ thuộc vào mùa vụ cây trồng. Vì thế việc huấ
n
luyện và truyền bá những thông tin cần được tiếp tục ở Việt Nam để lợi ích của dự án được
tiếp diễn và phát triển. Mong rằng các đối tác Việt Nam và các học viên tham gia các lớp
huấn luyện tiếp tục nổ lực để lợi ích của dự án sẽ được phát triển trong tương lai.
19
7.2. Khả năng bền vững
Khả năng bền vững kết quả dự án sẽ phụ thuộc vào sự cố gắng của các đối tác Việt Nam
và các học viên tham gia các lớp huấn luyện để tiếp tục huấn luyện các cán bộ Khuyến nông
và nông dân, và tiếp tục truyền bá thông tin.
8. Các bước then chốt tiếp theo
Đây là báo cáo tổng kết dự án. Các bước tiếp theo sẽ do các đối tác Việt Nam, dựa trên
những thông tin mới đã học được từ dự án này, tiếp tục thực hiện về quản lý bệnh để bảo
đảm nâng cao lợi ích cho nông dân và nâng cao năng suất chất lượng cây trồng ở Việt Nam
trong tương lai. Nhất là cần chú ý hơn về việc sử dụng thuốc trừ bệnh đúng mục đích, đ
úng
thuốc, đúng lượng, đúng lúc, đúng cách vì sử dụng thuốc trừ bệnh thường được xem là giải
pháp trước mắt.
Dự án này đã xác định những vấn đề mới cần quan tâm trong tương lai, bao gồm:
1. Những bệnh Phytophthora trên cây tiêu và cao su là một vấn đề nghiêm trọng ở các tỉnh
miền trung.
đối với loài cây trồng nào đó rất cần thiết để tăng những mức kháng bệnh của nhiều loài
cây trồng.
9. Kết luận
Kết quả của dự án này, 77 nhà khoa học và cán bộ Khuyến nông đã được huấn luyện về
sinh học Phytophthora, nguyên nhân gây bệnh và các biện pháp quản lý bệnh thông qua một
loạt lớp huấn luyện Cán bộ Nghiên cứu Khoa học được tổ chức tại Viện BVTV-Hà Nội,
TTCAQTTH-Huế và Viện NCCAQMN-Mỹ Tho.
Dựa vào các bảng câu hỏi đã điều tra vào đầu và cuối những lớp Huấn luyện Cán bộ
Nghiên cứ
u Khoa học cho thấy các học viên đã nâng cao sự hiểu biết về chẩn đoán và quản
lý bệnh, và đây cũng là kết quả của chương trình huấn luyện (hình 7; phụ lục V). Sự áp dụng
nhiều biện pháp canh tác hơn để quản lý bệnh đã chứng minh được sự hiểu biết về các biện
pháp quản lý bệnh được nâng cao thông qua các lớp huấn luyện (hình 6,8,11,12; phụ lục V)
Dự án đã có m
ột tác động chủ yếu đến khả năng của cán bộ Nghiên cứu Khoa học và cán
bộ Khuyến nông ở Việt Nam về chẩn đoán đúng những nguyên nhân gây ra triệu chứng bệnh
hại cây trồng ở địa phương họ và nhận thức được những điều kiện thích hợp cho bệnh xuất
hiện và lây lan.
Những đối tác và các thành viên tham gia dự án đã được huấn luyện về thự
c hiện các
khảo nghiệm đồng ruộng có nông dân tham gia, và bây giờ họ có kiến thức về các biện pháp
quản lý bệnh để có thể phát triển và truyền bá đến bà con nông dân thông qua các khảo
nghiệm đồng ruộng, các buổi thảo luận, các lớp huấn luyện và qua các phương tiện thông tin
đại chúng. 21
22