Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc xuất khẩu của Công ty cổ phần May Thăng Long trên thị trường Mỹ - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một lĩnh vực có từ rất lâu nhơng thực sự để nó mang lại
hiệu quả cao thì đó là vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm. Không chỉ
riêng đối với các nước phát triển mà cả những nước dang phát triển đầu
tư là nhân tố quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Đồng thời là đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ câu của mỗi
quốc gia. Vì vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một trong những vấn
đề hết sức quan trọng trong vấn chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.
điều này còn có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam chúng ta. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa như hiện nay , xu thế hội nhập vào khu vực và thế giới là tất
yếu. Mỗi quốc gia đều phải tự chủ động tìm lợi thế của mình trong quá
trình hợp tác phát triển.
Thực hiện đường lối đổi mới của đảng , tư năm 1986 tới nay , rõ
nhất là từ năm 1990 , cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích
cực. Tỷ trọng các ngành công ngiệp và dịch vụ trong GDP của toàn nền
kinh tế nước ta đã và của các vùng tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn , tỷ
trọng của nông ngiệp có xu hướng giảm dần , cơ cấu các thành phần kinh
tế có xu hướng thay đổi theo hướng hợp lí hơn. Những chuyển biến đó đã
góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng
mới chỉ là bước đầu, và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm. Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở
nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Để đạt được
mục tiêu đến năm 2020, “ đưa nước ta cơ bản trở thàn một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,…” mà
Đại hội VIII của Đảng đề ra, thì còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cức và có giải pháp sát thực.
Để có một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý như hiện nay không thể
không kể đến vai trò của đầu tư. Đầu tư được coi như một công cụ hữu
hiệu, lá bài quan trọng nhất trong tay các nhà quản lý nhằm đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chính vì thế mà những năm gần

Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một
loại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng , máy móc , vật tư cũng
như để mua cổ phiếu hay cho vay lấy lãi mà ở đây những tài sản đầu tư
này có thể sinh lợi dần hay thõa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó
của người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định.
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở
hiên tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư
các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguôn lực đã bỏ ra để
đạt đươc kết quả đó. nguồn lục đó có thể là tiền , là tài nguyên thiên nhiên
, là sức lao động và trí tuệ. những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng
thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy , đường sá ,
bệnh viện, trường học ... ) , tài sản trí tuệ ( trình độ văn hóa , chuyên
môn , quản lí , khoa học kĩ thuật...) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện
làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. trong
những kết quả đã đat được trên đây , tài sản trí tuệ và vai trò quan trọng
trong mọi nguồn nhân lực tăng thêm lúc và mọi nơi không chỉ đối với
người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. những kết quả này khong
chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được hưởng thụ.
Theo nghĩa hẹp , đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại , nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả
đó.
Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp , hoạt động trong
đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản
mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt
động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo được việc làm , nâng cao
được đời sống người dân trong xã hội. đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng ,
sưa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng , mua sắm thiết bị , lắp đặt chung
trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực , thực hiện các chi phí
thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì

ta cần lưu ý rằng đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư thương
maijxets về bản chất nhơng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa
thiếu hàng hóa một cách giả tạo , gây khó khăn chi việc quản lí lưu thông
phân phối , gây mất ổn định cho sản xuất , làm tăng chi phí cho người
tiêu dùng
1.2 Phân loại các hình thức đầu tư
Theo bản chất của đối tượng đầu tư : hoạt động đầu tư bao gồm
đầu tư cho các đối tượng vật chất hoặc tài sản (nhà xưởng , máy móc thiết
bị) cho các đối tượng tài chính (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực
như đào tạo , nghiên cứu khoa học , y tế.. ). Trong các loại đầu tư sau đây
đầu tư đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết , cơ bản làm tăn tiềm lực
của nền kkinh tế , đầu tư tài chính là điều kiện quan trọng để thu hút mọi
nguồn vốn từ mọi tầng lơp dân cư cho đầu tư mọi đối tượng vật chất, còn
đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để đảm
bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả
kinh tế xã hội.
theo cơ cấu tái sản xuất có thể phân loại hoạt động đầu tư thành đầu tư
theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong đó đầu tư theo chiều rộng
vốn lớn để khe dọng lâu , thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần thực
hoạt động để thu hồi vốn lâu , tính chất xã hội phức tạp độ mạo hiểm cao.
còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn , thời gian thực
hiện đầu tư không lâu , độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo ciều
rộng
Theo phân cấp quản lí , điều lệ quản lí đầu tư và xây dựng ban
hành theo nghị định số 12/CP ngày 5 thánh 5 năm 2000 phân thành 3
nhóm A, B, C tùy theo tính chất và quy mô của dự án , trong đó nhóm A
của dự án do thủ tướng chính phủ quyết đinh , nhóm B, C do bộ trưởng ,
thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơ quan trực thuộc chính phủ , UBND tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Theo quan hệ quản lí của chủ đầu tư , hoạt động đầu tư có thể phân

nền kinh tế
2. Lý luận chung về cơ cấu kinh tế - chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1. Khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều
yếu tố , có quan hệ chặt chẽ với nhau , tác động qua lại với nhau trong
một không gian và thời gian nhất định , trong những điều kiện xã hội cụ
thể , hướng vào thực hiện những mục tiêu đã định
2.1.2. Phân loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế gồm 3 phương diện hợp thành:
- Cơ cấu kinh tế.
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ.
Chỉ tiêu kinh tế làm cơ sở để biểu hiện cơ cấu là GDP ( tổng sản
phẩm nội địa )
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương
quan tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia.
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất
theo không gian địa lý trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu
ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Việc chuyển dịch
cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệuh quả
của các ngành kinh tế trên lãnh thổ và trên phạm vi cả nước.
Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện tr chức kinh tế với các chế độ
sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xuất, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội.
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế

các yếu tố sản xúât. Và ngược lại việc phát triển các yếu tố sản xuất lại
thúc đẩy quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế do vậy làm sâu sắc
thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hợp lý - hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa là một tất yếu
khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế trong giai đoạn hội nhập của
Việt Nam.
3. Lý luận về đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1 Mối quan hệ giữa đầu tư tăng trưởng kinh tế, cơ cấu đầu tư
A, Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.
(+) Tác động đến tổng cầu:
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư. Đầu tư là một
yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn xã bộ nền kinh tế. Theo
số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm tỷ trọng từ 24 đến
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng
cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình
kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi
tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD)
tăng ( nếu các yếu tố khác không đổi).
AD = C + I + G + X – M
Trong đó: C: Tiêu dùng
I: Đầu tư
G: Tiêu dùng của chính phủ
X: Xuất khẩu
M: Nhập khẩu
Từ quan hệ trên ta thấy khi đầu tư tăng sẽ tiếp tục lam tăng GDP.
Theon Keyness thì đầu tư tăng 1 đơn vị thì sẽ làm cho GDP tăng nhiều
hơn 1 đơn vị .
Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn phụ thuộc vào
mức độ cung của nền kinh tế.Nếu năng lực cung hạn chế thì việc gia tăn
tổng cầu , với bất cứ lí do nào chỉ làm tăng giá mà thôi , sản lượng thực tế

lao động , tài nguyên và khoa học công nghệ
Y= T. K
α
. L
β
. R
µ
Trong đó : Y : là đầu ra GDP
K : là vốn sản xuất
R : là nguồn tài nguyên thiên nhiên
T :là khoa học công nghệ
α, β, µ : là các số lũy thừa , phản ánh tỷ lệ cận biên các yếu
tố đầu vào
Sau khi biến đổi , thiết lập được mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng của
các biến số
G= t + αk + lβ + µr
Trong đó : G là tốc độ tăng trưởng của GDP
K, l , r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
T là phần dư còn lại , phản ánh tác động của khoa học công
nghệ.
Như vậy từ đây ta có thể lượng hóa được tác động của các yếu tố
tới tốc dộ tăng trưởng , trong đó có tốc dộ tăng của vốn sản xuất. Hay có
thể đánh giá được tác dộng của đầu tư tới tốc dộ tăng trưởng kinh tế
Mô hình Harrod- Domar đã đưa ra mối quan hệ hàm số giữa vốn
( kí hiệu là K ) và tăng trưởng sản lượng ( kí hiệu là Y ). Mô hình này cho
rằng sản lượng của bất kì một thực thể nào – cho dù là doanh nghiệp ,
một ngành hay toàn bộ nền kinh tế - đều phụ thuộc vốn đã đầu tư với thực
thể kinh tế đó cà được thể hiện dưới dạng hàm.
Y= K/ k
Với k là hằng số , được gọi là hệ số vốn – sản lượng vốn

các nước phát triển , tỷ lệ đầu tư thấp dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
C, Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng
Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố
quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế , muốn có tăng trưởng thì
phải có đầu tư. Tuy nhiên cơ cấu đầu tư là một vấn đề gây nhiều tranh
cãi.
Các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau rằng cần có một cơ cấu đầu tú
hợp lí để tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lí. Thuật ngữ hợp lí ở đây được hiểu là
cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế như thế nào để đảm bảo được tốc dộ phát
triển nhanh và bền vững. Mặc dù đồng ý với nhau như vậy nhơng các nhà
kinh tế có quan điểm rất khác nhau về cách thức tạo ra một cơ cấu đầu tư
hợp lí. Có một số quan điểm chủ yếu sau :
+ Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền
kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực ( vốn, lao động... ) mà sự vận
động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này
khẳng định một trong những ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân
bổ nguồn lực một cách tự động dưới sự tự điều khiển của thị trường. Các
danh nghiệp ới mục đích tối da hóa lợi nhuận sẽ tim kiếm những cơ hội
đầu tư tốt nhất cho mình. Tuy nhiên giả thiết của trường phái tân cổ điển
là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đó là thị trường mà người bán và
người mua không ai kiểm soát và có khả năng kiểm soát giá cả và có đầy
đủ thông tin trong cả hiện tại và tương lai. Trong thực tế giả định này là
một điều phi thực tế , nhất là về thông tin
+ Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của chính phủ
Quan điểm này cho rằng do thị trường không hoàn hảo , nhất là đối
với các nước đang phát triển , nên tự vận động của thị trường sẽ không
mang lại kết quả tối ưu. Thông tin không hoàn hảo có thể dẫn đến sản
xuất và đầu tư quá mức.
Mặt khác , ở hầu hết các nước dang phát triển kinh tế còn lạc hậu

Như vậy cơ sở giúp chúng thấy được mối liên hệ giữa quá trình
phát triển kinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính toán GDP theo các
biến số kinh tế vĩ mô
Trước hết nếu xét về phía cung , chúng ta phải phân tích cơ cấu sản
xuất được tính theo các ngành sản xuất. Ngoài các ngành có thể dễ quan
sát như nông nghiệp , công nghiệp , hệ thống tài chính là ngành có tầm
quan trọng đặc biệt trong cơ cấu của một nền kinh tế. Một số kết quả
quan sát cho thấy rằng , khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên , thì tỷ
trọng trong tổng số sản phẩm quốc dân của ngành nông nghiệp giảm cùng
với số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành công nghiệp trong đó chủ
yếu là ngành khai khoáng và ngành chế biến tăng lên cùng với số lao
động sử dụng. Đặc biệt ngành chế biến ban đầu có xu hướng tập trung
vào sản xuất cac mặt hàng tiêu dùng giản đơn như lương thực thực
phẩm , quần áo , sau này chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng tư liệu
sản xuất thuộc nghành công nghiệp nặng và sau cùng là sản xuất các sản
phẩm vi điện tử và các sản phẩm có công nghệ cao. Vai trò của các ngành
dịch vụ có xu hướng tăng lên tương đối rõ rệ. Do kết quả mở rộng của
nền kinh tế quốc dân khi quá trình kinh tế diễn ra nên sự phụ thuộc vào
ngoại thương giảm dần cùng với tỷ trọng của sản phẩm khai thác trong
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Một điiều đáng quan tâm nữa là quá trình tăng trưởng có liên hệ
chặt chẽ với sự đa dạng hóa sản xuất. Mặt hàng chế biến và dịch vụ ngày
cang đa dạng hơn sẽ có tác dụng mở rộng cơ cấu sản xuất mà trước đây
chủ yếu là nông nghiệp. Trình dộ chuyên môn hóa trong sản xuất và phân
phối sẽ tăng lên khi nhu cầu cho nền kinh tế trở nên đa dạng hơn. Tương
tự như vậy trong nội bộ các ngành sản xuất vì thế trong nội bộ khu vực
kinh tế nông thôn , các nghề phụ , phi nông thôn cũng sẽ trở thành các
nguồn thu nhập và công ăn việc làm ngày càng quan trọng hơn so với thu
nhập trực tiếp từ nông nghiệp nghĩa là khu vực không chính thức trong
nền kinh tế sẽ giảm đi.

Như vậy có thể nói khi đời sống được nâng lên thì tỷ trọng các ngành
công nghiệp dịch vụ có xu hướng tăng , còn tỷ trọng ngành nông nghiệp
có xu hướng giảm dần
3.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về
vốn , nguồn vốn , cơ cấu huy động và sử dụng vốn... quan hệ hữu cơ ,
tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian , vận động theo
hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lí và tạo ra những tiềm lực lớn
hơn về mọi mặt kinh tế xã hội
Cơ cấu đầu tư luôn luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế , có nhân tố thuộc nội tại nền kinh tế , có
nhân tố tác động từ bên ngoài , có nhân ntoos thúc đẩy sự phát triển ,
song cũng có nhân tố kĩm hãm sự phát triển. Các nhân tố trong nội bộ nền
kinh tế bao gồm : nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội ,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , quan điểm chiến lược , mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của đât nước trong mỗi gian đoạn nhất dịnh ,
cơ chế quản lí có thể ảnh hương đến cơ chế hình thành cơ cấu đầu tư...
nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài như xu thế chính trị , xã hội kinh tế
của khu vực và thế giới. Trong xu thế quốc tế hóa lực lượng sản xuất và
thời đại bùng nổ thông tin , tìm hiểu thị trường và xác dịnh chiến lược
đầu tư hợp lí để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm chủ đọng hội nhập
Sau thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này sang mức độ khác ,
phù hợp với môi trường và mục tiêu phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu
đầu tư. Sự thay đổi không chỉ là sự thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự
thay đổi về chất trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng. Về thực
chất chuyển dịch cơ cấu đầu tư là điều chỉnh cơ cấu vốn , nguồn vốn đầu
tư , điều chỉnh cơ cấu huy động và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn...
phù hợp với mục tiêu đã xác dịnh của toàn bộ nền kinh tế , ngành địa
phương và các cơ sở trong từng thời kì phát triển
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới

vốn , kế hoạch hóa , xây dựng cơ chế quản lí đầu tư hoặc điều tiết gián
tiếp qua công cụ chính sách như tuế , tín dụng , lãi suất để xác dịnh và
định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo
hương ngày càng hợp lí hơn.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rằng nếu có chính sác đầu tư
hợp lí sẽ tạo đà tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấ thành nền kinh
tế , có quan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện cả mạt chất và mặt
lượng, tùy thuộc vào mục tiêu của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của
các bộ phận cấu thành nền kinh tế. sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có
sự phát triển không đồng đều về quy mô , tốc độ giữa các vùng miền
Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế việt nam thời kì 1990-2004 , thể
hiện qua bảng sau :
Bảng hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam
Năm 1990 1994 1995 1999 2000 2004
GDP (%) 100 100 100 100 100 100
Trong đó :
Nông nghiệp 38,7 27,4 27,2 25,4 24,5 20,4
Công nghiệp 22,7 28,9 28,8 34,5 36,7 41,1
Dịch vụ 38,6 43,7 44,1 40,1 38,7 38,5
Chuyển dịch cơ cấu của hai ngành nông nghiệp và công nghiệp
Hệ số k 0,139 0,018 0,04
Độ lệch tỷ
trọng nông
nghiệp
-11,31% -1,75% -4,13%
Độ lệch tỷ trọng nông nghiệp thời kì 1990-2004 âm , theo bảng
trên
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. đầu

đầu tư thực hiện,đóng góp cho nền kinh tế,đạt khoảng 3,3 tỷ USD,tăng
trên 15% so với năm 2004,chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội,đã góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của cả nước về phát triển
KT-XH với mức tăng GDP gần 8,5%-mức tăng cao nhất trong 5 năm qua.
Khu vực kinh tế có vốn FDI trong năm 2005 đạt doanh thu khoảng
21 tỷ USD (không có dầu thô), trong đó giá trị xuất khẩu khoảng 10,3tỷ
USD,tăng khoảng27% so với năm 2004,chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu
cả nước(nếu tính cả dầu thô thì tỷ lệ đạt trên 56%);nộp ngân sách nhà
nước đạt 1,29 tỷ USD,tăng gần 40% so với năm 2004 và chiếm 12% tổng
thu ngân sách nhà nước.Các doanh nghiệp FDI đã thu hút khoảng 70.000
lao động,đưa tổng số lao động trực tiếp trong khu vực FDI lên khoảng 87
vạn người,tăng 18% so với năm 2004.
Cơ cấu kinh tế tiếp tuịc chuyển dịch theo hướng tích cực.Tỷ trọng
khu vực công nghiệp –xây dựng sẽ đạt trên 41%,không những vựơt mục
tiêu 38-39% đề ra cho năm 2005 mà còn cao hơn so với mục tiêu 40-41%
đề ra cho năm 2010.Riêng tỷ trọng xây dựng sẽ tăng trở lại nhờ tốc độ
tăng cao hơn năm trước.
Như vậy,theo tính toán trên đây,khả năng huy động vốn đầu tư phát
triển toàn xã hội trong năm 2001-2005 vào khoảng 840 nghìn tỷ đồng
(theo nặt bằng giá 2000) tương đương khoảng 60 tỷ USD,bằng 1,5 lần
tổng vốn đầu tư thực hiện thời kỳ 1996-2000;trong đó nguồn vốn trong
nước chiếm khoảng 2/3. Tỷ lệ đầu tư so với GDP chiếm khoảng
31-32%,bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,5%/năm và có công trình
gối đầu cho kế hoạch 5 năm tiếp theo.
Trong tổng nguồn vốn nêu trên,khả năng huy động đầu tư từ ngân
khố Nhà nước trong 5 năm (2001-2005) vào khoảng 186 nghìn tỷ
đồng,chiếm trên 22%;từ tín dụng Nhà nước khoảng 117 nghìn tỷ
đồng,chiếm 14%;khu vực doanh nghiệp Nhà nước đầu tư khoảng 162
nghìn tỷ đồng,chiếm trên 19%;vốn đầu tư của dân cư và tư nhân khaỏng
221 nghìn tỷ đồngchiếm trên 26% ;vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

biến,công dụng công nghệ cao,vật liệu mới,điện tử,viễn thông phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế,xã hội và các ngành Việt Nam có lợi thế,gắn với
công nghệ hiện đại và tạo việc làm;dành ưu đãi tối đa cho đầu tư vào các
vùng,các địa bàn còn nhiều khó khăn.
Đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),một mặt
cần nhanh chóng hợp thức hoá bằng các hiệp định vay vốpn cho các dự
án ODA đã được cam kết;mặt khác cần vận động thu hút thêm vốn ODA
đẻ đảm bảo nhu cầu thực hiện trong kỳ kế hoạch và gối đầu thực hiện cho
cá năm sau.Đinh hưóng trong năm năm tới khoảng 15% nguồn vốn ODA
sẽ đưa vào hỗ trợ đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp,thuỷ lợi,lâm
nghiệp.thuỷ sản,kết hợp mục tiêu ngành,năng lượng và công
nghiệp;khoảng 25% cho các ngành giao thông,bưu điện;khoảng 35% cho
các lĩnh vực phát triển xã hội,giao dục và đào tạo.khoa học và công
nghệ,bảo vệ môI trường,cấp thoát nước và bảo vệ đô thị.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.môI trường đầu tư chư
minh bạch,thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản còn
nhiều,hiệu quả sử dụng vốn chưa cao… Do đó chính phủ đã và đang
quyết tâm chỉ đạo và cảI thiện môI trưòng đầu tư và kinh doanh như việc
triển khai thành công sáng kiến Việt-Nhât. về cảI thiện môI trường đầu
tư,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Viêt Nam,xây dựng và được
quốc hội thông qua nhiều bộ luật quan trọng,trong đó phảI kể đến luật
đầu tư chung và luật DN thống nhất có hiệu lực vào ngày 1/7/2006,nhừ
đó hệ thống Pháp luật,chính sách đầu tư đã không ngừng được cảI thiện
theo hướng ngày càng minh bạch,thông thoáng và thuận lợi cho các nhà
đàu tư.
II. Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cư cấu ngành kinh
tế
1. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta hiện nay
Hiện nay trên thế giới xu hướng chuyển mạnh sang các ngành kinh
tế cạnh tranh của các nguồn tài nguyênvà lao động nước ta.Trên cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status