KẾT CẤU
A. LỜI MỞ ĐẦU.
B. NỘI DUNG CHÍNH.
I. Cơ sở của quá trình phân chia hệ thống cơ quan hành chính Trung ương và cơ quan
hành chính địa phương
1. Sự phân chia hệ thống cơ quan hành chính Trung ương và địa phương như thế nào?
2.Quan điểm về phân cấp ở Việt Nam
II. Nguyên nhân của sự phân chia hệ thống cơ quan hành chính Trung ương và cơ quan
hành chính địa phương.
1. Nguyên nhân khách quan
2. Nguyên nhan chủ quan
3. Tác dụng của việc phân cấp quản lý
IV.Thực tế phân chia hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan
hành chính nhà nước địa phương ở Việt Nam
1.Khái quát chung về tình hình phân cấp, phân quyền ở Việt Nam
2.Ưu điểm, hạn chế của việc phân chia ở Việt Nam
3.Giải pháp phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương ở nước ta giai đoạn
hiện nay
C. KẾT LUẬN.
A.LỜI MỞ ĐẦU
Trong các bản Hiến pháp (HP 1946, HP 1959, HP 1980, HP 1992) đã chỉ rõ sự
phân chia hệ thống cơ quan hành chính trung ương và hệ thống cơ quan hành chính địa
phương của Việt Nam. Tuy nhiên trước đổi mới, chúng ta đã thực hiện chế độ tập trung
trong quản lý hành chính nhà nước. Không thể phủ nhận những kết quả quan trọng đã
đạt được nhưng chúng ta cũng đã mang không ít hậu quả từ khiếm khuyết của mô hình
tập trung ấy. Khi hệ thống cơ quan hành chính trung ương bao quát tất cả và can thiệp
trực tiếp tới các hoạt động, công việc lớn nhỏ trên phạm vi cả nước đã khiến chức
năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính địa phương trở nên hết sức mờ nhạt. tình trạng
ấy không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà phổ biến trên khắp thế giới. theo TS.Võ Kim
Sơn “xu hướng vận động và phát triển của xã hội đã chỉ ra hạn chế của mô hình tập
trung trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và trung ương …sự phân cấp trở
quyết định các vấn đề thuộc quyền địa phương. Một tổ chức hành chính địa phương
được hướng phân quyền phải có những yếu tố: có công việc địa phương, có quyền bầu
cử các nhà chức trách địa phương, có tính cách tự quản địa phương, chịu sự kiểm soát
của chính quyền Trung ương.
Trên thế giới hiện nay tồn tại hai mô hình cơ bản đó là nhà nước liên bang và nhà
nước đơn nhất.
Sự phân quyền ở nhà nước liên bang, ví dụ như ở Đức:
Hệ thống hiến pháp phân quyền theo nguyên tắc bang và liên bang, trong đó thủ
tướng liên bang chịu trách nhiệm ban hành những chính sách chung; các bộ trưởng
chịu trách nhiệm trong từng lĩnh vực và đưa ra chính sách không phụ thuộc vào định
hướng chung đó. Các bang thì có bộ máy hành pháp cuả bang (pháp luật này cũng
trong khuôn khổ Hiến pháp và luật của liên bang).
Nhà nước đơn nhất khác với nhà nước liên bang là bang được sử dụng quyền hành
như một quốc gia độc lập, ở nhà nước đơn nhất, địa phương là các cấp hành chính và
chỉ được sử dụng quyền hành chính.
Những quan điểm về phân chia hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Trung ương
và địa phương :
Baron Montesquyeu được coi là người đưa ra ý tưởng hoàn thiện và đầy đủ nhất về
việc phân chia quyền lực Nhà nước, các nhóm quyền và phân chia việc thực thi quyền
lực nhà nước cho các tổ chức khác nhau thực hiện. Theo ông đó chính là một cách
thức để bảo đảm quyền lực không bị lạm dụng vì khi trao quyền (toàn bộ) cho một tổ
chức Nhà nước hay một cá nhân đều có thể dẫn đến lạm dụng quyền.
Thế kỉ XVI, triều đại Tudor đã gia tăng mức độ hợp tác giữa hoàng gia, quý tộc và
thương gia trong khi vẫn duy trì một sự tin tưởng quyền bất khả xâm phạm của nhà
Vua.
Cuối thế kỉ XVI nữ hoàng Elizabeth I đã chia sẻ quyền lãnh đạo cho Thượng nghị
viện và Hạ viện.
John Locke đưa ra quan điểm về phân chia quyền lực cho các cơ quan Nhà nước
khác nhau để thực thi các loại quyền lực đó, cụ thể hơn trong tác phẩm “Luận thuyết
thư hai của chính phủ” (second treatise of Government).
-Thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
II. Nguyên nhân của sự phân chia
1.Nguyên nhân khách quan
Nhà nước pháp quyền được đặc trưng bởi tính dân chủ trong phương thức tổ
chức quyền lực nhà nước. Phân cấp với mục đích tạo quyền tự chủ, sáng tạo, phát huy
tính năng động của địa phương, để khai thác thế mạnh và tiềm năng của chính quyền
cơ sở là một biểu hiện rõ nét của dân chủ;
Việc phân chia cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương là dựa vào tính kế
thừa của lịch sử. Lịch sử hình thành và phát triển đất nước đã tồn tại sự phân chia hệ
thống cơ quan giữa Trung ương Và địa phương;
Do diện tích lãnh thổ rộng lớn, chính quyền địa phương hình thành để giúp cơ
quan hành chính Trung ương quản lý ở các đơn vị hành chính lãnh thổ. Một mặt đảm
bảo chủ quyền quốc gia, mặt khác giảm tải gánh nặng để hoạt động quản lý ở Trung
ương;
Do phân cấp là xu hướng chung của các nước trên Thế giới, tăng cường tính tự
quản của địa phương trong việc quyết định những vấn đề của địa bàn lãnh thổ, là nền
tảng cho sự phát triển ổn định.
2.Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, Ở Trung ương tập trung khối lượng công việc khổng lồ,việc thành lập
chính quyền ở địa phương sẽ giúp giảm bớt gánh nặng của Trung ương. Tạo điều kiện
để cơ quan ở Trung ương tập trung quản lý ở tầm vỹ mô, đem lại hiệu quả cao trong
công việc
Thứ hai, cơ quan hành chính ở địa phương sát với người dân hơn, do đó, các chính
sách, quyết sách của Trung ương giao xuống sẽ được cơ quan hành chính ở địa phương
làm việc, áp dụng tốt hơn vào địa phương. Và ngược lại, khi đã sát với nhân dân thì
chính quyền địa phương sẽ nắm bắt tình hình ở địa phương một cách đầy đủ, từ đó đưa
ra các chính sách phù hợp với địa phương mình và cũng kiến nghị lên các cơ quan cấp
trên, đóng góp ý kiến để xây dựng, ban hành các chính sách đạt hiệu quả cao nhất.
Thứ ba, việc phân chia cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương còn nhằm
quan nhà nước các cấp.
Tăng cường hiệu quả và nâng cao chất lượng của những dịch vụ công cung cấp
cho người dân.
Tăng cường sự phát triển về kinh tế, xã hội dựa trên sự am hiểu chính xác điều
kiện kinh tế - xã hội và các đặc điểm về địa lý, dân cư… của chính quyền địa phương,
trên cơ sở đó đề ra các kế hoạch và có những chính sách đúng đắn cho việc phát triển
đó, phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương.
Tăng cường sự chủ động, minh bạch, trách nhiệm giải trình và năng lực giải
quyết các công việc của các cơ quan chính quyền địa phương.
Tăng cường sự ổn định chính trị và sự thống nhất của quốc gia thông qua việc
cho phép người dân quyền giám sát một cách trực tiếp và hiệu quả hơn các chương
trình, kế hoạch và hoạt động của chính quyền nhà nước ở địa phương thuộc các cấp
khác nhau.
Tạo điều kiện cho những ý tưởng kinh tế, chính trị, xã hội… mới nảy sinh,
từ đó có được những chương trình, hoạt động quản lý Nhà nước có tính sáng tạo hơn
đối với mỗi địa phương.
IV.Thực tế phân chia hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ
quan hành chính nhà nước địa phương ở Việt Nam
1.Khái quát chung về tình hình phân chia hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở
trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương ở Việt Nam
Vấn đề phân chia hệ thống cơ quan hành chính Trung ương và địa phương ở Việt Nam
đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Bên cạnh hệ thống cơ quan hành chính Trung ương đã đề cập đến hệ thống cơ quan
hành chính địa phương. Điều này được thể hiện ngay trong những văn bản đầu tiên của
chính quyền lâm thời Việt Nam (Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 và Sắc lệnh số 76
ngày 21/12/1945 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính nhà nước ở các địa phương). Tiếp đến là hệ thống chính quyền Trung ương
và địa phương được quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 có 14 điều quy
định về Chính phủ và 06 điều quy định về chính quyền địa phương. Hiến pháp năm
1959 có 07 điều quy định về Hội đồng bộ trưởng và 14 điều quy định về chính quyền
các luật chuyên ngành( ngân sách, đất đai, giáo dục ) Đảng và Nhà nước ta chủ
trương đẩy mạnh phân cấp quản lý Nhà nước giữa Chính phủ, chính quyền cấp tỉnh và
các cấp chính quyền địa phương.
Sự phân cấp bước đầu đã phân biệt hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước
với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thông qua một loạt thể chế về tổ
chức, nhân sự, tài chính công, trong thời gian qua chúng ta đã tạo lập được cơ chế để
tiếp tục quá trình tách rõ hành chính với doanh nghiệp, hành chính với sự nghiệp theo
quan điểm của Nghị quyết Đại hội Đảng IX. Trong vòng 4 năm qua các đầu mối thuộc
Chính phủ đã giảm xuống đáng kể, từ 48 đầu mối nay còn 39 đầu mối (26 Bộ và cơ
quan ngang Bộ, 13 cơ quan thuộc Chính phủ) . Nghị định số 171/2004/NĐ-CP, số
172/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã khẳng định mô hình tổ chức cứng được tổ chức
nhất quán theo qui định của Trung ương, đồng thời trao quyền cho địa phương tự quyết
định các vấn đề địa phương một cách phù hợp.
Việc phân chia hệ thống cơ quan hành chính Trung ương và địa phương từng bước
đã đi vào thực tiễn khi vai trò ở địa phương ngày càng được nâng cao.
2.Ưu điểm và hạn chế của việc phân cấp ở Việt Nam
2.1 Ưu điểm
• Chính quyền địa phương đã có được sự chủ động , minh bạch, trách nhiệm giải
trình và năng lực giải quyết các công việc.
• Hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ công cho nhân dân được nâng cao thông qua
việc ủy quyền cho chính quyền địa phương thực thi chức năng cung cấp dịch vụ công,
phần nào hạn chế sự quan liêu và trì trệ của cơ quan Nhà nước cấp trên, cơ quan TƯ.
• Phân cấp tạo điều kiện thúc đẩy, mở rộng dân chủ, người dân đã tham gia tích
cực và trực tiếp hơn vào các quá trình ra quyết định của các cơ quan Nhà nước các cấp.
• Việc phân cấp cho các chính quyền địa phương cũng đã giúp cho chính quyền
địa phương đề ra các kế hoạch, chính sách đúng đắn, phát huy thế mạnh của địa
phương mình.
• Việc phân cấp là nguyên nhân chính giúp cho Nhà nước ta có nền chính trị ổn
định như hiện nay.
2.2 Hạn chế
Việt Nam thời gian qua đã dẫn đến nhiều địa phương cấp phép sử dụng đất không hợp
lý hoặc khai thác khoáng sản không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và sự phát
triển cân đối, bền vững của đất nước.
3. Giải pháp phân cấp giữa Trung ương và địa phương ở nước ta giai đoạn hiện nay
Để vấn đề phân cấp ở nước ta được tiến hành có hiệu quả cần chú ý các giải pháp
cụ thể sau:
-Giải pháp về nhận thức.
Nhận thức đầy đủ và hiện thực hóa nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực
hiện quyền lực Nhà nước ở tất cả các cấp của bộ máy Nhà nước.
Tiếp tục nhận thức đúng đắn về phân cấp, phân quyền trong giai đoạn hiện nay
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, phục vụ tốt hơn
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của mỗi địa phương.
- Giải pháp về xây dựng pháp luật.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở rà soát, tổng kết đánh giá những quy định
pháp luật có liên quan đến vấn đề phân cấp, phân quyền, đến mối quan hệ giữa Trung
ương và địa phương thời gian qua.
- Giải pháp về đổi mới tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền các cấp, nhất là chính quyền địa phương các cấp.
Đổi mới tổ chức của bộ máy Nhà nước: “Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng
giảm các đầu mối, phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các
cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước các cấp, ”
Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của các cơ quan Nhà nước mỗi cấp.
Phân định rõ nhóm các công việc thuộc thẩm quyền của mỗi cấp để tránh trùng lặp.
Cụ thể là:
- Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan Trung ương, nhất là liên quan
đến lĩnh vực lập pháp.
- Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan ở địa phương, trong đó cũng
phân công theo từng cấp cho phù hợp với khả năng thực hiện.
- Nhóm các công việc có sự phối hợp thực hiện giữa Trung ương và địa phương,