Tài liệu Câu Hỏi Thường Gặp Về Nuôi Tôm Sú - Pdf 10

Câu Hỏi Thường Gặp Về
Nuôi Tôm Sú

Nuôi tôm, nuôi trồng thuỷ sản là một công việc đầy rủi ro, đặc biệt là nuôi
tôm đang được phát triển theo hướng tăng diện tích, loại hình nuôi và mức độ
thâm canh. Bên canh sự hấp dẫn về lợi nhuận cao, nuôi trồng thuỷ sản gặp
nhiều khó khăn về môi trường và dịch bệnh, đặc biệt là ở các khu nuôi tập
trung. Do vậy, vấn đề quản lý chất lượng nước đã trở nên cấp thiết và cần có
sự hỗ trợ của các cán bộ kỹ thuật, cán bộ khuyến ngư hay cộng đồng.

Chuẩn bị ao nuôi - Khâu quan trọng quyết định vụ nuôi thành công

Kiểm tra, đo đạt nguồn nước thường xuyên
Đây là kết quả nghiên cứu thử nghiệm "Quản lý môi trường trong nuôi
trồng thuỷ sản ven biển Bắc Trung Bộ" được tiến hành trong 2 năm trên 20
mô hình, 800 hộ nuôi tôm do các cán bộ hợp phần của dự án VIE97030 kết
hợp cơ sở lý thuyết tài liệu có uy tín của các chuyên gia về tôm trong và ngoài
nước.
Kết quả thử nghiệm tại 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Thừa Thiên Huế nên
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tài liệu này trước hết nhằm phục
vụ việc nuôi tôm ở khu vực Bắc Trung Bộ. Dù vậy, tài liệu này có thể linh
động áp dụng cho các khu vực khác và ngay cả trong khu vực Bắc Trung Bộ,
phải tuỳ theo từng trường hợp mà xử lý cho phù hợp với điều kiện từng ao, ở
từng thời điểm cụ thể.
A/ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG AO NUÔI TÔM
1/ Chất lượng nước trong trong ao tôm như thế nào là phù hợp ?
Bảng 1: Các thông số chất lượng nước chính trong ao nuôi tôm
Thông số

>100
Tuỳ hình thức nuôi, song tối thiểu phải >
(cm) 100
H
2
S (mg/l)

<0.03 0 Độc hơn khi pH thấp
NH
3
tự do
(mg/l)
<0.1 0 Độc hơn khi pH cao
(Nguồn: P. Characchakool, 1999)
2/ Nhiệt độ có ảnh hưởng trong ao tôm như thế và làm thế nào để quản lý
nhiệt độ trong khi nhiệt độ luôn biến động mạnh theo thời tiết ?
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản.
Nhiệt độ phù hợp cho tôm và tảo thực vật có lợi là 28°C-33°C. Nhiệt độ
không nên thay đổi đột ngột, nếu biến động quá 5°C/ngày sẽ làm cho tôm
giảm ăn. Nếu nhiệt độ >33°C hoặc <25°C tôm giảm ăn từ 30-50%. Nhiệt độ
thấp tôm giảm ăn hoặc ngưng ăn, chậm hoặc không lớn. Nhiệt độ cao > 35°C,
nhóm tảo lam gây hại cho tôm sẽ phát triển
3/ Quản lý nhiệt độ như thế nào ?
Thiết kế ao nuôi đủ độ sâu > 1m. Thả nuôi đúng mùa vụ. Mùa vụ ở Nghệ An,
Thanh Hoá qui định là tháng cuối tháng 3 đầu tháng 4 dương lịch (sau tết
Thanh Minh 3/3 âm lịch) và ở Thừa Thiên Huế là tháng 2- 3 và tháng 6-7
dương lịch. Có ao chứa để xử lý khi nhiệt độ dao động quá 5°C trong ngày.
4/ Trong quá trình nuôi nếu nhiệt độ trong ao biến động mạnh cần làm gì
?
Ao đủ độ sâu, nhiệt độ ít khi dao động quá 5°C/ngày. Thường nhiệt độ chỉ


Mùa vụ
nuôi thả
Không thả
không đúng
mùa vụ
Thả đúng mùa vụ theo qui
định của cơ quan thuỷ sản

Cố gắng duy trì
màu nước ổn định
Giải pháp tốt nhất để quản lý nhiệt độ trong ao là thiết kế ao đủ độ sâu, hạn
chế thấp nhất rò rỉ, dâng nước cao dần trong quá trình nuôi và giữ ổn định
màu nước.
5/ Độ pH là gì và có ảnh hưởng như thế nào trong ao tôm ?
pH trong môi trường ao nuôi là độ chua của nước và nền đáy. Mức pH từ 7.5-
8.5 đối với tôm là phù hợp. pH trong ao phụ thuộc vào các yếu tố thổ nhưỡng,
lượng vôi bón, mật độ tảo và chế độ thay nước. Nếu pH dao động quá 0.5 đơn
vị trong một này thì hoạt động sống của tôm sẽ bị ảnh hưởng bất lợi
6/ Quản lý pH như thế nào cho tốt ?
Cải tạo ao thật tốt từ ban đầu. Chú ý dọn sạch các chất hữu cơ và bón đủ vôi
để cải thiện pH, lượng vôi bón tuỳ theo pH đất ở bảng sau:
Bảng 2: Bảng tương quan giữa lượng vôi bón để cải tạo ao và pH đất
pH
đất
Vôi nung
CaO
Vôi tôi
Ca(OH)
2


1500

1500

4.0 1000

1200

-

-

(Nguồn: Công ty CP, 2002)
Bón CaCO
3
hoặc Dolomite định kỳ 7-10 ngày một lần, mỗi lần bón 15-
20kg/ha. Bón liên tục 2-3 ngày để ổn định pH trong khoảng từ 7.5-8.5 và độ
kiềm trong khoảng 80-150 mgCaCO
3
/l. Duy trì màu nước ổn định, bằng bón
phân hợp lý kết hợp sử dụng đường cát, men vi sinh để ổn định màu nước.
Nếu mất màu phải gây lại màu (xem phương pháp gây màu). Có ao chứa để
chủ động thay nước khi có tình huống gấp xảy ra. Ở những vùng ao nuôi bị xì
phèn, cần phủ cát dày 30-40cm trên đáy ao để hạn chế xì phèn. Đồng thời bên
ngoài ao phải đào mương tiêu phèn rộng 40-50cm, sâu hơn đáy 40-50cm để
ép phèn từ đáy ao ra ngoài, không để phèn lưu lại trong ao gây ảnh hưởng đến
hô hấp của tôm và giảm lượng ô xy trong ao.
7/ Trong quá trình nuôi, nếu pH biến động cần làm gì ?
Khi pH trong ao thấp (<7.5), muốn tăng pH phải bón vôi CaCO

độ mặn 15-25‰. Biến động trong ngày không quá 5‰. Một nguyên tắc quan
trọng trong nghề tôm sú là giảm dần độ mặn và tăng dần độ sâu của nước
trong quá trình nuôi. Đầu vụ độ mặn cao, tôm ít nhiễm bệnh, tỷ lệ sống cao.
Cuối vụ độ mặn thấp, tôm mau lột xác chóng đạt cỡ thương phẩm và tránh
bệnh đóng rong. Độ mặn quá thấp, tôm dễ bị các bệnh mềm vỏ, chất lượng
thịt kém (không chắc) và khả năng đề kháng, phòng bệnh kém. Trước khi thả
tôm phải kiểm tra độ mặn, nếu độ mặn < 5‰ cần thuần hoá độ mặn từ trại
giống và ao ương. Nếu độ mặn thấp hơn 5‰, nên cho Vitamine C-Mix,
khoáng chất (Mutagen) và vaccine (Becta-min) nhất là khi tôm trong giai
đoạn tuổi 45 ngày trở lên. Trước khi thả tôm nên ngâm với Macroguard tối
thiểu 30 phút sẽ sẽ chịu đựng để thích nghi tốt trong môi trường có độ mặn
khác nhau. Độ mặn quá cao, tôm dễ bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn và chậm
lớn (tôm khó lột xác). Độ mặn > 40‰, tôm giảm ăn, ảnh hưởng đến tăng
trọng tôm sau 1.5 tháng nuôi đầu, tôm khó lột xác. Năm 2002, ao nuôi ông
Đào (Xuân Lâm) và ông Hải (Diễn Kim) đã thành công nhờ có ao chứa điều
tiết độ mặn trong quá trình nuôi.
10/ Quản lý Oxy hoà tan (DO) như thế nào ?
Mức qui định phù hợp > 4 mg/l, tốt nhất 5-6 mg/l. Muốn quản lý tốt ô xy
buộc phải duy trì được màu nước (duy trì tảo) và sử dụng linh hoạt máy sục
khí (bảng 3).
Bảng 3: Hướng dẫn sử dụng máy quạt nước:
Ngày tuổi
Mục đích sử dụng
Cung cấp oxy Xử lý đáy
1-20 Trong quá trình ánh sáng thấp (trời u
ám)/trong khi trời mưa/sau khi thêm
nước
8-12 giờ về đêm, liên
tục trong 2-3 ngày
20-40 Như trên 8-12 giờ về đêm và 1-

CaCO
3
/ hoặc Dolomite 150-300kg/ha để lắng bớt bùn và tảo, ổn định pH duy
trì màu nước ổn định. Độ trong 20-30cm màu nước bắt đầu đậm đặc, nên cẩn
thận không để pH buổi sáng >8.0, thay bớt nước trong ao ngưng mở máy quạt
vào buổi chiều. Nếu độ trong thấp < 20cm, nước đục do phù sa lơ lửng, cần
để lắng ở ao chứa koảng 1-3 ngày cho đến khi trong sạch sau đó mới bơm vào
ao nuôi. Không lấy nước đục phù sa trực tiếp vào ao nuôi tôm. Nên trồng cỏ ở
quanh bờ ao để giũ bờ chắc, không rò rỉ, và không bị sói lở làm đục nước ao
khi trời mưa. Nếu nước ao bị đục sau khi mưa, phải bón vôi (bảng 1) để lắng
tụ các chất lơ lửng và làm trong nước để tảo hoạt động trở lại. Nếu độ trong >
60cm, màu nước rất nhạt, có thể nhìn thấy đáy, nếu tôm ở giai đoạn <50 ngày
tuổi nên dùng phân gà 20-30kg/1000m
2
, bỏ vào bao và treo trong ao. Sau đó
dùng Dolomite 15-20 kg/ha vãi theo hướng cánh quạt nước cho đến khi lên
màu thì dừng bón phân (xem thêm phần phương pháp gây màu hữu cơ). Quản
lý tốt màu nước, theo dõi độ trong, sử dụng vi sinh và dolomite định lỳ là giải
pháp tốt để duy trì độ trong từ 30 đên 45 cm.
12/ Độ sâu và quản lý độ sâu phù hợp như thế nào ?
Mức qui định phù hợp >1 m cho ao quảng canh cải tiến và > 1,2 m cho ao bán
thâm canh trở lên. Độ sâu có liên quan mật thiết đến biến động nhiệt độ và
màu nước trong ao. Nhiệt độ dao động sẽ làm tôm bị căng thẳng, giảm ăn và
dễ nhiễm bệnh. Nước quá nông (độ sâu <80 cm) và trong, tảo đáy dễ phát
triển gây thối đáy (xem thêm phần tảo đáy). Thường xuyên kiểm tra các chỗ
rò rỉ và bịt kín ngay lập tức, tránh thẩm lậu mất nước trong quá trình nuôi.
Nếu ao bị rò rỉ, bay hơi nhiều phải bổ xung nước từ ao chứa cho đủ độ sâu >1
m. Năm 2002, hầu hết các ao thất bại hoặc là do độ sâu không đảm bảo
(<0.8m) hoặc là do ao có diện tích quá nhỏ (4000m
2

2
S (<0.03 mg/l) nếu thích hợp thì mới được phép
gây màu. Ở các ao nuôi bán thâm canh và thâm canh, có thể gây màu từ ao
chứa và bổ sung sang ao nuôi khi cần thiết.
14/ Tại sao lại gọi các khí Amonia tự do (NH
3
) và Hydrosulfide (H
2
S) là
khí độc ?
Mức qui định phù hợp. < 0.1 ppm cho NH3, độc hơn khi pH cao. <0.03 ppm
cho H
2
S, độc hơn khi pH thấp. NH
3
và H
2
S tác động đến hô hấp, nếu xuất
hiện dài ngày sẽ làm giảm sinh trưởng, tôm còi chậm lớn. Hầu hết các ao nuôi
hàm lượng NH
3
và H
2
S cao là do hàm lượng hữu cơ quá nhiều, không cải tạo
sạch triệt để từ ban đầu hoặc trong quá trình nuôi cho ăn quá nhiều, cho ăn
thức ăn tươi và thức ăn bị ẩm mốc, kém chất lượng. Kết quả là nước bị ô
nhiễm, tôm kéo đàn và nhiễm bệnh. Để phòng ngừa tác hại của NH
3
và H
2

,
Baccillus 1070 vv
16/ Khi NH
3
và H
2
S trong nước quá cao, cần xử lý như thế nào ?
Khi NH
3
và H
2
S vượt quá tiêu chuẩn bảng 1. Giải pháp đầu tiên là thay bớt
20-30% nước đã xử lý từ ao chứa. Sau đó tăng cường sục khí. Nếu không có
ao chứa phải sử định kỳ sử dụng Zeolite 10-20kg/1000 m
3
nước. Sau đó cấy
men vi sinh BRF
2
, Aquabac, Bacciluss 1070, định kỳ sử dụng Zeolite, duy trì
màu nước để ổn định pH.
17/ Độ kiềm là gì ?
Độ kiềm là chỉ tiêu đánh giá khả năng đệm của nước ao nuôi tôm. Hiện thị
khả năng tự điều chỉnh giá trị pH của thuỷ vực trước những thay đổi của các
nhân tố từ bên trong hoặc bên ngoài. Mức qui định phù hợp: Tôm mới thả :
80-100ppm (không nên thấp hơn 50ppm), từ 45 ngày tuổi trở lên: 100-130
ppm; 90 ngày tuổi trở lên: 130-160 ppm. Độ kiềm có vai trò quan trọng trong
việc tạo vỏ, lột xác của tôm. Khi tôm lột xác độ kiềm giảm. Độ kiềm liên hệ
mật thiết tới sự biến động của giá trị pH và sự ổn định màu nước (tảo). Trong
khoảng độ kiềm thích hợp pH rất ít khi dao động quá 0.3 đơn vị/ngày. Nuôi
tôm ở độ mặn thấp, độ kiềm thường xuyên thay đổi. Cần hết sức chú ý bón

thuốc hoá chất trong quản lý môi trường ao nuôi tôm sú. Nên áp dụng các
biện pháp kỹ thuật như thiết kế ao chứa lắng, độ sâu ao trên 1m, duy trì màu
nước, bón vôi định kỳ vv và sử dụng các chế phẩm sinh học để quản lý môi
trường. Bất đắc dĩ mới phải sử dụng hoá chất, giảm và từng bước không sử
dụng hoá chất ngay trong ao nuôi.
Trong những trường hợp bất khả kháng, dự án khuyến cáo bà con chỉ nên sử
dụng vôi (các loại), Formol, Zeolite, Chlorinre, BKC, đường cát, Thuốc tím
(KMnO
4
), H
2
O
2
đây là những chế phẩm sử dụng khá hiệu quả và không gây
nhiều nguy hiểm cho tôm, môi trường và sức khỏe người sử dụng.
Bảng 4: Hướng dẫn quy đổi ký hiệu ppm khi sử dụng.
Tài liệu ghi

Hướng dẫn sử dụng
Dạng lỏng Dạng rắn (bột)
Sử dụng
Chlorine 10
ppm
Có nghĩa là 10 ml Chlorine
hoà tan trong 1 m
3
nước ao
nuôi tôm.
Có nghĩa là 10 mg Chlorine hoà
tan trong 1 lít nước ao nuôi tôm.

sau đó cày lật, bón vôi, phơi đáy 10-15 ngày trước khi lấy nước gây màu,
lượng vôi bón tuỳ thuộc pH đất (bảng 2). Sau đó bừa đáy, làm phẳng. Có thể
bón phân NPK (20-20-0) 200-300kg/ha nếu đáy xấu (nghèo dinh dưỡng). Sau
đó lọc nước, xử lý nước, sau 5-7 ngày tiến hành gây màu theo một trong hai
phương pháp vô cơ hoặc hữu cơ. Chú ý gây màu trước khi thả tôm 1-2 tuần,
không để quá lâu tảo tàn hoặc tảo đáy phát triển, tốn công cải tạo gây màu lại.
2/ Phương pháp cải tạo ao trên nền đất cát và ao bị nhiễm phèn tiềm
tàng, ao nuôi ở vùng thấp không nạo vét phơi khô được như thế nào ?
Đối với vùng đất phèn tiềm tàng hoặc ao không thể nạo vét, phơi khô thì áp
dụng phương pháp cải tạo ướt, như sau. Dùng máy bơm, xả nước thật mạnh
xuống đáy cho chất thải nổi lên và khí độc bay hơi hết. Nếu có ao xử lý (5%
diện tích) hoặc khu chờ xử lý thì bơm chất thải đó lên, sau đó chờ phơi khô
làm phân bón cho nông nghiệp (lúa, ngô). Nếu không có ao xử lý, phải chờ
con nước xuống, bơm xả hết các chất thải này ra kênh cho thuỷ triều cuốn đi.
Chú ý việc này làm cần có sự thông nhất của các hộ xung quanh. Sau khi xả
nước, dùng men vi sinh như BFR
2
, Bacciluss 1070 để cải tạo, sau đó gây màu,
thả nuôi. Tuy nhiên phương pháp này rất tốn kém, chỉ áp dụng khi ở tình
trạng bất khả kháng. Về nguyên tắc ao nuôi thâm canh phải phơi khô, ao nuôi
quảng canh nếu dùng men vi sinh để cải tạo sẽ không kinh tế. Với vùng đất
nhiễm phèn, cần phủ cát dày 30-40cm để hạn chế xì phèn. Đồng thời bên
ngoài ao phải đào mương tiêu phèn rộng 40-50cm, sâu hơn đáy 40-50cm để
ép phèn từ đáy ra ngoài. Nếu nuôi QCCT trong diện tích nhỏ (<4000 m
2
) hoặc
ao rộng mà độ sâu trung bình thấp (<80 cm), chưa có điều kiện đào sâu hơn
thì phải phải có mương nội đồng (rộng 2-5 m sâu hơn đáy 0.4-0.6 m) cho tôm
trú ẩn khi thời tiết và chất lượng nước có những diễn biến phức tạp. Lưu ý:
Tất cả các loại dạng ao trên đều không thuận lợi cho nuôi tôm công nghiệp nó

vv để bón xuống ao, thúc dẩy vi khuẩn có lợi phát
triển. Định kỳ 10 ngày bón vôi nông nghiệp (CaCO
3
) hoặc Dolomite, mỗi lần
10-20kg/ha sau đó có thể bổ sung đường cát 0.5-1 kg/1000m
3
nước. Thay
nước khi tảo dày, gây lại màu khi tảo tàn.
5/ Tôi nuôi tôm sú thâm canh (công nghiệp) (25 con/m
2
), sau 50 ngày thả,
màu nước chuyển xanh đậm, độ trong chỉ đạt 20cm, pH dao động từ 8.4-
9.2, cách nào để làm thưa tảo và hạ pH trong khi không thay được nước?
Ngừng bón các loại vôi. Dùng Formol hoặc đường cát hoặc Acid acetic với
nồng độ như sau: Formol 6-10 lit/ha, liên tục mỗi ngày từ 9-10h sáng. Dùng ở
1/3 ao cuối gió cho đến khi pH < 8.5. Đường cát: 2-5 kg/1000 m
3
, lúc 9-10h
liên tục đến khi pH < 8.5. Acid acetic 0.5-2.0 lit/1000 m
3
lúc 10-12h. Sau đó
vớt xác tảo, Zeolite (100-200 kg/ha) để hấp thụ NH
3
, H
2
S ở đáy. Định kỳ sử
dụng BRF
2
và bón đường cát 0.5-1 kg/1000 m
3

định kỳ 10 ngày lần, mỗi lần 15-20kg/ha kết hợp gây màu ổn đinh pH.
7/ Ao nuôi của tôi thiết kế trên nền đất cát. Nguồn nước cấp từ biển có độ
mặn 30-35 ‰, Trong quá trình nuôi nước thường xuyên bị mất màu, đặc
biệt là giữa vụ nuôi (sau 50 ngày tuổi). Vậy nguyên nhân vì sao và có cách
gì giải quyết ?
Nguyên nhân: Do đất cát, đáy hấp thụ các muối dinh dưỡng tảo không có
thức ăn để lên màu. Thay nước không thường xuyên, tảo chưa kịp lên màu.
Nguồn nước cấp vào độ mặn cao, không có các chủng tảo làm thức ăn cho
tôm. Giải pháp: Theo dõi các thông số có liên quan (pH, độ trong, màu nước,
bọt khí). Nếu xuất hiện các bọt tạo váng và pH dao động quá 0.5 ngày đêm
cần phải thay 10% nước sau đó bón vôi, gây màu (hữu cơ). Sau đó bón
Dolomite: 50-100kg/ha/lần bổ xung đường cát: 0.5-1 kg/1000m
3
cho đến khi
ổn định màu, pH, độ kiềm. Nên thiết kế ao chứa đã gây.
8/ Ao tôm của tôi được xây dựng trên nền đất giàu sulffate acid (phèn
tiềm tàng). Khoảng 2-3 tuần sau khi thả, khá nhiều tôm bị cong chân
(dính chân) không thể rút khỏi vỏ khi lột, đặc biệt là sau mỗi trận mưa
lớn. Có cách nào điều trị hiệu quả ?
Các dấu hiệu mô tả ở trên có liên quan đến pH và độ kiềm thấp. Thường xuất
hiện ở các ao nuôi có độ mặn thấp hoặc nuôi tôm trái vụ vào mùa mưa. Acid
từ bờ ao xả xuống sau mỗi trận mưa làm pH giảm, thậm trí ngay cả khi đáy ao
đã được xử lý cải tạo tốt từ ban đầu. Giải pháp: cần kiểm tra chất lượng nước
thường xuyên, nếu pH và độ kiềm thấp cần bón vôi tôi Ca(OH)
2
trên bờ ao,
10-20 kg/m
2
và bón vôi nông nghiệp CaCO
3

nước lớn, sử dụng lưới lọc nước cẩn thận trước khi cấp vào ao. Túi làm bằng
vải Cotton, may 2 lớp, chiều dài 8-10m, đường kính 0.6m. Để lắng ao trong
5-7 ngày cho trứng và ấu trùng nở ra hết sau đó, xử lý nước bằng Chlorine 10-
15 (kg) lít/1000m
3
hoặc Formol 20-30 lít/1000m
3
. Sau đó để chờ 24-48 h bơm
sang ao nuôi, chú ý trước khi bơm phải bắt tôm vào thử đảm bảo các chất này
đã phân huỷ hoặc bay hơi hết. Nếu trước khi thả phát hiện vẫn còn ốc trong
ao phải xả nước xử lý lại đáy ao. Trong quá trình nuôi, nếu có ốc phải tìm
cách vớt định kỳ (chú ý không để đục nước). Dùng vợt để thu sứa và dùng vó
để bắt ốc bằng cách cho các thức ăn vụn (nhỏ ơn cỡ thức ăn của tôm) vào vó,
chờ ốc vào ăn, vớt lên và bắt dần đi. Đánh Saponine 100-200kg/ha sau 2
tháng nuôi để phòng cá tạp, cá dữ cạnh tranh thức ăn của tôm.
12/ Biện pháp xử lý khi xuất hiện rong đáy trong ao như thế nào ?
Vớt sạch các váng tảo vì đó là bào tử sẽ sinh ra nhiều tảo mới. Rút đáy, thay
nước từ ao chứa nếu có thể, dâng nước > 1m. Kiểm tra pH, nếu chưa đủ phải
bón vôi đạt 7.5-8.5. Gây lại màu nước (xem phương pháp gây màu) Bón vôi
Dolomite dể điều chỉnh độ kiềm đạt 80-150 ppm. Trong trường hợp không có
nước để thay cần vớt hết váng tảo, sử dụng Zeolite 100 kg/ha để xử lý đáy.
Zeolite sẽ hấp thụ các khí NH
3
, H
2
S, các khí này là thủ phạm gây độc cho
tôm.
13/ Xin cho biết biện pháp xử lý khi tôm bị đốm trắng ? Muốn nuôi tiếp
cần làm gì ?
Nếu tôm đã lớn và chết rất nhanh (5 con ở ngày thứ nhất, 20 con ở ngày thứ

tôm, cua còng cáy chết (ngoi lên) sau khi xử lý thuốc. Cày bừa, bón vôi theo
pH đất, phơi ao…sau đó lọc nước, xử lý, gây màu như bình thường. Nếu
không muốn nuôi, sau khi nhặt hết tôm, cua còng cáy có thể dâng đầy nước
ngâm xả ao cho đến khi sạch sẽ. Chờ vụ nuôi tới.
14/ Phòng các bệnh nhiễm khuẩn như thế nào ?
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Cách phòng bệnh tốt nhất là áp dụng các biện
pháp kỹ thuật để tăng cường sức khoẻ và sức đề kháng của tôm thay vì sử
dụng thuốc, hoá chất để phòng bệnh. Các biện pháp đơn giản nhất là thiết kế
ao chứa, độ sâu ao nuôi > 1m, cải tạo ao thật tốt, chọn con giống khoẻ, sử
dụng thức ăn chất lượng tốt, giữ được màu nước, bón vôi định kỳ, sử dụng
các chất kích thích tăng trưởng, kích thích tôm ăn nhiều, sử dụng các chế
phẩm sinh học làm sạch môi trường… Nếu nuôi bán thâm canh trở lên và
nuôi tôm ở những vùng hay có bệnh xuất hiện có thể phải sử dụng BKC 0.5-
0.7 lít/1000m
3
hoặc Mizuphor 100cc/1000m
3
/3 ngày liên tục để xử lý nước
cấp trước khi bơm vào ao nuôi.
15/ Phòng trị các bệnh đóng rong, bám bẩn như thế nào ?
Formol 10-20 lit/1000m
3
nước. BKC 0.5-0.7 lit/1000m
3
nước.
16/ Phòng bệnh đốm trắng như thế nào ?
Kiểm ngiệm con giống trước khi thả, tránh thả tôm trong giai đoạn nhiệt độ
thấp. Có ao chứa để xử lý, tránh việc lan truyền bệnh sang các hộ khác. Hạn
chế thấp nhất còng cáy, cua, thức ăn tươi là tôm vào ao nuôi. Tiêu diệt ngay
khi phát hiện tôm qua trong ao bị chết bằng cách chon hoặc đốt xác, không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status