Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan - Pdf 10

Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Lời cảm ơn!
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này cũng như trong suốt thời
gian học
Xin cảm ơn các bạn trong lớp đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi, để tôi hoàn
thành tiểu luận này một cách tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 11 năm 2010
Sinh viên:
Nguyễn Thị Phương Ly

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
1
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
PHẦN MỞ ĐẦU
I .Lí do chọn đề tài
“Ngôn ngữ không những là một thứ của cải vô cùng quý báu trong cuộc sống
con người mà còn là một hoạt động kì diệu của con người. Ngôn ngữ không phải là
một nhưng nó thu hút mọi cái. Không có một sự vật nào, một hoạt động nào mà
ngôn ngữ không vươn tới được”( Trích “Huy Thông văn học và ngôn ngữ”)
Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp đồng thời nó là chất liệu để sáng tạo nghệ
thuật . Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật làm cho nó khác với ngôn ngữ của các
phong cách khác là tính hình tượng, tính cá thể và tính cụ thể hóa. Ngôn ngữ văn
chương được xem là một công cụ cơ bản để thể hiện hình tượng văn học “ngôn ngữ
là yếu tố thứ nhất của văn học”
Do tính hình tượng và luôn hướng vào chức năng thẩm mỹ nên khi diễn đạt
ngôn ngữ văn chương cần đến các biện pháp tu từ làm cho ngôn ngữ có hình ảnh,
tạo cho ngôn ngữ có nhiều lớp, nhiều tầng bậc ý nghĩa phục vụ cho mục đích, ý đồ
sáng tác của nhà văn. Đại từ xưng hô vốn là một nét đẹp trong văn hóa của người
Việt Nam. Nó thể hiện người Việt Nam rất gần gũi, thân thiện, dễ mến nhưng cũng

• Khảo sát và tìm hiểu hệ thống đại từ xưng hô được Nguyễn Công Hoan sử dụng
trong những truyện ngắn của ông.
• Đánh giá những thành công về mặt nội dung cũng như nghệ thuật của việc sử dụng
đại từ xưng hô .
• Nhằm khẳng định tài năng của bậc thầy truyện ngắn Việt Nam – Nguyễn Công
Hoan .
• Giúp khám phá vẻ đẹp của đại từ xưng hô trong tác phẩm văn học. Qua đó, làm tăng
thêm tình yêu đối với tiếng Việt.
III. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan vẫn là
“mảnh đất hứa hẹn” ở các tầng bậc ý nghĩa mới. Các nhà nghiên cứu đã khai thác
ngôn ngữ diễn đạt của Nguyễn Công Hoan trên nhiều phương diện : thi pháp truyện
ngắn, bút pháp tự sự, ngôn ngữ trào phúng Về phương diện ngôn ngữ của Nguyễn
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
3
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Công Hoan đã có nhiều tác giả đề cập đến . Nguyễn Thanh Tú nghiên cứu “Chất
hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan” cho rằng : ngôn ngữ của Nguyễn Công
Hoan là một thứ ngôn ngữ suồng sã, để lật ngược, lộn trái, nhòm ngó từ dưới và từ
trên đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong”. Đánh giá “Kĩ thuật viết truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan”, tác giả Lê Thị Đức Hạnh cho rằng “ngôn ngữ của
Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm
hương vị ca dao tục ngữ ,có khi tác giả đưa ca dao tục ngữ vào truyện một cách rất
tự nhiên, thoải mái. Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh, cụ
thể ”
Theo tìm hiểu của tôi thì tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào về
việc sử dụng đại từ xưng hô của Nguyễn Công Hoan. Đối với những tác giả khác
như Nam Cao, Khái Hưng thì có nhiều người đã nghiên cứu như : “Tìm hiểu đặc
trưng phong cách Nam Cao qua hệ thống đại từ trong sáng tác trước cách
mạng tháng Tám” – Nguyễn Thị Phương, luận án thạc sĩ khoa học, đại học sư

IV – Phạm vi nghiên cứu của đề tài
V – Cấu trúc đề tài
Phần II : Phần nội dung
Chương I : Những vấn đề chung
I.1 Giới thiệu một số nét về tác giả, tác phẩm
I.1.1 Tác giả
I.1.2 Tác phẩm
I.2 Một số khái niệm chung liên quan đến đề tài
I.2.1 Đại từ
I.2.2 Từ xưng hô
I.2.3 D
Chương II : Thống kê, phân loại nhận xét về đại từ xưng hô trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan
II.1 Thống kê, phân loại
II.2 Nhận xét
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
5
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Chương III : Gía trị của việc sử dụng đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan
III. 1 Về mặt nội dung
III.2 Về mặt nghệ thuật
Phần III : Phần kết luận
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I . Giới thiệu một số nét về tác giả, tác phẩm
I.1 Tác giả
Nguyễn Công Hoan là một trong những đại biểu ưu tú của trào lưu văn học hiện
thực phê phán trước cách mạng tháng Tám ở nước ta. Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm
1903 tại làng Xuân Cầu – huyện Văn Giang – tỉnh Bắc Ninh ( nay là tỉnh Hải

trong văn học Việt Nam. Không phải mọi truyện đều có giá trị , song số truyện có
giá trị là phần nhiều trong đó có không ít truyện thật xuất sắc.
Nếu không kể tập Kiếp hồng nhan có tính chất thử bút, in năm 1923 thì sự
nghiệp của nhà truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thật sự bắt đầu là từ năm 1929 khi
ông ra mắt khá thường xuyên trên mục “Xã hội ba đào kí” của An Nam tạp chí do
Tản Đà chủ trương. Sau đó ông viết nhiều trên báo Nhật Tân rồi Tiểu thuyết thứ bảy
và Phổ thông bán nguyệt san của nhà Tân Dân. Trước cách mạng, một số lớn truyện
ngắn của ông đã được tập hợp xuất bản thành tập : Hai thằng khốn nạn ( 1934),
Kép Tư Bền ( 1935), Đào kép mới ( 1938 ) , Sóng vũ môn (1939 ), Người vợ lẽ
bạn tôi ( 1939), Ông chủ báo ( 1940 )
Nguyễn Công Hoan được xem là bậc thầy trào phúng của văn học Việt Nam.
Mỗi truyện ngắn của ông thường là một cảnh tượng một tình thế mâu thuẫn đầy tính
chất hài hước trong cái “Tấn trò đời” nhố nhăng đồi bại của xã hội đương thời.
Truyện ngắn của ông thường ngắn gọn, chủ đề rõ ràng, chỉ một tuyến tình tiết đơn
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
7
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
giản. Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan rất gần với kết cấu truyện kể dân gian
trong đó cốt truyện kịch tính đóng vai trò quan trọng.
Về mặt ngôn ngữ học, ngòi bút Nguyễn Công Hoan có những đặc sắc góp
phần đáng kể vào sự phát triển văn xuôi Việt Nam hiện đại : ngôn ngữ hài hước, lời
ăn tiếng nói hằng ngày, ngôn ngữ nhân vật ứng với từng người trong xã hội .
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan không giống truyện ngắn Thạch Lam với
chất thơ bàng bạc, cũng không giống truyện ngắn Nam Cao , chân thực như cuộc
đời nhưng đầy triết lí sâu xa. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thuộc loại hồn nhiên,
mặn mà, có cái hóm hỉnh thông minh của tri thức tiểu tư sản song chủ yếu gắn với
truyện cười dân gian khỏe khoắn. Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan
là một biểu hiện cụ thể về sức sống mãnh mẽ của truyền thống đó là trong thời kì
hiện đại .
II. Một số khái niệm chung liên quan đến đề tài

Ngoài ra đại từ còn có thể thay thế cho một từ, một ngữ thậm chí một đoạn văn.
Như vậy, đại từ là một thể từ nhưng bản thân nó không có ý nghĩa biểu vật. Nó chỉ
có giá trị thay thế chỉ trỏ khi được dùng trong ngữ cảnh nhất định.
II.2 Từ xưng hô
Theo từ điển tiếng Việt “ xưng hô” là tự xưng mình và gọi người khác là gì khi
nói với nhau để biểu thị mối quan hệ với nhau.
Trong hệ thống ngôn ngữ của bất kì dân tộc nào trên thế giới đều tồn tại từ xưng
hô. Nó trở thành phương tiện giao tiếp hữu hiệu trong cuộc sống. Ở một góc độ nào
đó có thể coi từ xưng hô là những từ loại bao gồm các đại từ xưng hô các danh từ
chỉ người lâm thời, những tính từ danh hóa. Nó được sử dụng để xưng và gọi . Từ
xưng hô thể hiện vai trò , vị trí của người xưng gọi trong quá trình diễn ngôn. Từ
xưng hô có khả năng định vị cao. Dưới ánh sáng của ngữ dụng học thì khả năng
định vị của từ xưng hô biểu thị qua các ngôi cụ thể. Đó là : tôi, anh, nó ( Ngôi I, II,
III ). Hầu hết ngôn ngữ của các dân tộc đều xuất hiện trong lúc có mặt của một cặp
đối thoại, một bên là “tôi”, một bên là “anh” và ngôi thứ ba lại không cần sự có mặt
của chủ thể mà hai ngôi kia (ngôi I và ngôi II) đã biết về ngôi số III này.
Về từ xưng hô trong tiếng Việt, theo tài liệu nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn
Chiến trong bài viết “ Từ xưng hô tiếng Việt – Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ và
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
9
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
văn hóa – 1993” đã khẳng định khái niệm “ Từ xưng hô không phải là sản phẩm của
cách tiếp cận cấu trúc luận ngôn ngữ đơn thuần, đây là những lớp từ thuộc nhiều
lớp từ loại của hệ thống ngôn ngữ được đem ra sử dụng để xưng hô ( biểu thị các
phạm trù xưng hô, giao tiếp xã hội. Các thuộc tính về “loại” của lớp từ này được
xác định cơ bản trong cơ chế giao tiếp ngôn ngữ. ( Từ xưng hô trong tiếng Việt-
Hội ngôn ngữ học Việt Nam)
Theo lí thuyết ngữ dụng học, chủ trương nghiên cứu mối quan hệ giữa kí hiệu
đóng vai trò quan trọng về mặt xã hội là cái nền cơ bản . Xét trong ba ngôi trên lấy
ngôi I làm trung tâm của lời nói trong quá trình diễn ngôn thì ngôi II, III sẽ thay đổi

viết “Từ xưng hô trong tiếng Việt ông đã phân chia từ xưng hô trong tiếng Việt gồm
hai loại: đại từ thực thụ và đại từ lâm thời
(a ) Đại từ thực thụ
Gồm những danh từ chỉ người thực thụ như “tôi”, “tớ”, “mình” đại từ thực thụ
thường được sử dụng thành từng cặp trong quá trình diễn ngôn hội thoại giữa người
nói và người nghe và người ta sử dụng đại từ thực thụ để thể hiện cách xưng hô của
mình trong giao tiếp hằng ngày
(b) Đại từ lâm thời
Đại từ thực thụ rất ít đa số là đại từ lâm thời . Đại từ lâm thời có nguồn gốc danh
từ chỉ người ( thân tộc ). Nhờ lớp đại từ lâm thời mà số lượng đại từ xưng hô tăng
lên một cách đáng kể, nội dung ngữ nghĩa của đại từ mang thêm nhiều yếu tố xã hội.
Cách xưng hô trong họ hàng tiếng Việt rất phức tạp: Phân biệt họ nội với họ
ngoại, lớn tuổi với nhỏ tuổi, bậc trên với bậc dưới Nhưng về cách sử dụng cụ thể
lại có khác. Những danh từ chỉ quan hệ thân tộc bao gồm : cụ, kị , cha, chú, em , anh
, bác Phần nào nghĩa của các danh từ này bị hư hóa và có tác dụng chỉ trỏ , thay
thế nên mang tính chất của đại từ
II.3.3 Đặc điểm của đại từ xưng hô tiếng Việt
(a)Các sắc thái biểu cảm của đại từ xưng hô trong tiếng Việt
Đại từ xưng hô tùy thuộc vào người sử dụng vào mục đích hoàn cảnh giao tiếp,
người đối thoại mà có những sắc thái biểu cảm riêng. Tuy nhiên, trong mỗi đại từ
xưng hô ở hai ngôi đều biểu hiện nội dung vốn có của nó.
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
11
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Theo Nguyễn Văn Chiến thì “trong giao tiếp người nói thường hướng tới người
đối thoại với hai thái độ lịch sự hoặc không lịch sự”. Sự chi tiết hóa hai thái độ này
là bốn sắc thái xưng hô như sau:
- Trang trọng
Ví dụ :
Vô phép các ngài!

(b)Phạm vi xã hội của đại từ xưng hô
Đại từ xưng hô tiếng Việt có sức hoạt động rất mạnh mẽ nhưng vẫn nằm trong
một phạm vi xã hội nhất định. Trong giao tiếp xã hội, đại từ xưng hô luôn tuân theo
mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng . Mối quan hệ đó được cấu trúc
theo hai kiểu : quan hệ thân tộc (gia đình ) , quan hệ xã hội (ngoài gia đình). Theo
đó, trong giao tiếp đại từ xưng hô cũng thể hiện ở hai phạm vi: gia đình và xã hội
Ở phạm vi gia đình phổ biến nhất là các đại từ lâm thời . Mỗi một từ hàm chứa một
mối quan hệ thân tộc rõ ràng. Ví dụ như từ “dì” được xưng lên thì ta biết từ được
gọi có thể là cháu hay bố mẹ gọi thay ngôi. Vì vậy, qua cách xưng hô chúng ta có
thể xác định được mối quan hệ thân tộc.
Nếu nói rằng đại từ xưng hô ở phạm vi gia đình chỉ mối quan hệ thân tộc thì ở
phạm vi xã hội , đại từ xưng hô thể hiện thái độ ứng xử giữa những người không có
quan hệ máu mủ ruột rà mà đơn thuần là quan hệ công việc và nhiều quan hệ xã hội
khác. Và đại từ xưng hô trong phạm vi này không mang tính chính xác chặt chẽ.
Những đại từ lâm thời không mang ý nghĩa ban đầu là đại từ thân tộc nữa.
Ví dụ :
“Con” trong mối quan hệ gia đình được xưng với bố - mẹ thì trong phạm vi xã hội
lại được xưng với các từ cụ, ông, chú, bác hoặc từ “em” trong quan hệ anh, em
chị em thì trong quan hệ xưng em – bác, em - ông
Ví dụ : Bác xem nhà em lại đi đâu mất rồi ?
(c) Vẻ đẹp văn hóa của tiếng Việt qua đại từ xưng hô
Sống vững chải bốn nghìn năm lịch sử
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
13
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
( Chế Lan Viên )
Đất nước Việt Nam giàu đẹp, con người Việt Nam anh dũng kiên cường, vừa

Sự giao tiếp củng cố tinh thần : “Áo năng may năng mới, người năng tới năng
thân”. Năng lực giao tiếp của người Việt Nam được xem là tiêu chuẩn đánh giá con
người:
Vàng thì thử lửa thử than
Chim kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
Việc xưng hô với ngôi từ xưng hô là rất quan trọng trong giao tiếp . Nó có sức
biểu đạt tình cảm lớn, đồng thời nó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá con người. Ngay
từ xưa, khi văn học viết chưa ra đời thì cách xưng hô của người Việt đã thể hiện qua
những câu ca dao :
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Đây là lời ngợi ca cũng là lời khuyên răn : ngợi ca công ơn sinh thành dưỡng dục
trời biển của mẹ cha và khuyên răn người con phải làm tròn chữ hiếu. Có thể mỗi
địa phương, mỗi vùng quê sẽ gọi cha mẹ theo những cách khác nhau : thầy – u, tía -
má, bố - mẹ nhưng dù là gọi như thế nào thì cũng chứa chan tình cảm, sự tôn trọng
kính yêu của con với cha mẹ. Hay là cách xưng hô ví von, gọt giũa mà sâu sắc, dí
dỏm, nhuần nhụy có duyên trong bài ca dao :
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Mận hỏi thì đào xin thưa :
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Đây là lời ướm hỏi tình yêu của người con trai dành cho người con gái anh đang
để ý. Cách xưng hô “mận – đào” phần nào đó thể hiện được những e thẹn, ngại
ngùng của buổi đầu làm quen, gặp gỡ nhưng cũng không kém phần tinh tế, sắc sảo.
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
15
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt mang một sức sống riêng nhưng tùy

Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
trọng người đối thoại và xu hướng đề cao người được gọi. Bên cạnh quy tắc : xưng
phải khiêm, hô phải tôn còn có quy tắc gọi thay ngôi :
(1) “ xưng hô, nâng bậc, phân vai”. Ví dụ : vợ chồng gọi nhau bằng thầy nó, u
mày hoặc là goi theo tên con như : bố thằng Nam, mẹ cái Nga, mẹ gọi em
gái của mẹ là “dì” để thay cho con mình
(2) Gọi thay ngôi và xu hướng nâng bậc, phân vai phản ánh một đặc điểm văn
hóa, ngôn ngữ của xã hội người Việt. Chú trọng đề cao các vai xã hội của
đối tượng xưng hô theo tuổi tác và chức năng của gia đình
(3) Trong cách gọi ngoài xã hội có hiện tượng gọi tên riêng của con cái thay
cho tên riêng của người được gọi ( đặc biệt là con dâu, nam giới ). Đối với
phụ nữ khi lấy chồng thì tên gọi của họ thường là tên chồng. Hiện tượng
này rất phổ biến trước đây đặc biệt là xã hội phong kiến nhưng giờ người
ta đã dần dần loại bỏ.
Với những cách xưng hô như vậy, đại từ xưng hô tiếng Việt luôn được sử
dụng một cách linh động không hề cứng nhắc hay bó hẹp trong một giới hạn nào.
Tuy thế việc thống nhất dùng đại từ xưng hô trong cộng đồng người Việt theo
một trật tự có sẵn trong các mối quan hệ, vai vế xã hội luôn được coi trọng.
Trong nhà trường xưng hô có tính chất chuẩn mực và quy phạm hơn :
Thầy cô : - học sinh gọi giáo viên
- giáo viên xưng với học sinh
Giáo viên gọi học sinh theo tên riêng, em, anh, chị, các bạn, trò học sinh tự xưng
với giáo viên là em, đối với các sinh viên đại học cao đẳng thì có thể xưng là “tôi”.
Ở lớp mẫu giáo, nhà trẻ cô giáo thường xưng “cô” và gọi các trò là “cháu”
Đối với nhà thờ thiên chúa giáo, tồn tại cặp xưng hô “cha- con” là bắt buộc theo
nghi thức. Cha là người giảng đạo, là giáo sĩ tự xưng trước các tín đồ của mình và cha
cũng là từ các tín đồ gọi lại, “con” là từ các tín đồ, giáo sĩ ấy gọi các con chiên, các tín
đồ của mình và là từ được các con chiên sử dụng để xưng với cha.
Hiện nay, trong các cơ quan, công ty người ta thường dùng một đại từ xưng hô đi
kèm với một từ xưng hô để chỉ chức danh, nghề nghiệp.

một cách chính xác nhất. Đối với dân tộc Việt Nam thì nét đẹp nhuần nhụy, sâu sắc,
nhân hậu của con người cũng ảnh hưởng cả lời ăn tiếng nói, cả cách xưng hô.
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phương Ly – Lớp Văn 4B
18
Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Chương II : Sự thể hiện đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Dựa trên những cơ sỏ lí luận đã nêu trên, người viết sẽ thực hiện từng bước làm
rõ việc sử dụng đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan như thế nào ?
Và qua việc nhận thức cách sử dụng đại từ xưng hô của ông sẽ góp phần khẳng định
tài năng của một nhà viết truyện đỉnh cao của văn học Việt Nam .
II.1 Bảng thống kê, phân loại đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan
S
T
Tên
truyện
Đại
từ
Ngôi số
T

N
g
ôi
S

1
SÓNG

MÔN

Đại từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2
RĂNG
CON

c
2 I 4
Tôi 1 I 1
1

y
2 I 2
Ôn
g
1 I 3
3
OẲN

ROẲN
An
h
2 I 2
9
Tôi 1 I 6
8
Cậ
u
2 I 1
4
Mợ 2 I 4

NG
n
5
NGỰ
A
NGƯ
ỜI,
NGƯ
ỜI
NGỰ
A
Bà 2 I 1
8
An
h
2 I 3
7
Tôi 1 I 4
7
Cô 2 I 1
7
Co
n
1 I 4
Ch
áu
2 I 2
6
THẰN
G ĂN

Bà 2 I 8
Tôi 1 I 6

y
2 I 2
Ta
o
1 I 1
8 CỤ
CHÁN
H BÁ
MẤT
GIÀY
Cậ
u
2 I 3
Ta
o
1 I 4

y
2 I 1

c
2 I 1
Tôi 1 I 1
Ch
ún
g
bay

g
1 I 3
1
0
KÉP

BỀN
Cậ
u
2 I 1
8
Tôi 1 I 1
3
Cụ 2 I 3
Ôn
g
2 I 3
1
1
CÁI
NẠN
Ô TÔ

c
2 I 4
Ch
ún
g
tôi
1 N 1

o
1 I
i
1
1
Ch
ún
g
con
1 N 1
Th
ầy
1 I 9
1
3
MỘT
TẤM
GƯƠ
NG
SÁNG
Tôi 1 I 2
3

nh
2 I 1
3
Ch
ún
g ta
1 N 1

n

c

2 N 1
Tôi 1 I 1
Cô 2 N 1
1
5
THẾ
CHO

CHỪA
con 1 I 1
1

c
ôn
g
2 I 1

c

2 I 1
Ôn
g
1 N 1
Th
ầy
2 N 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status