Tài liệu Luận văn thạc sĩ "MÔ HÌNH ETA VÀ ÁP DỤNG VÀO DỰ BÁO BÃO Ở VIỆT NAM " doc - Pdf 10


LUẬN VĂN THẠC SỸ

MÔ HÌNH ETA VÀ ÁP
DỤNG VÀO DỰ BÁO
BÃO Ở VIỆT NAM
i

Lời cảm ơn

Trớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS. Trần Tân Tiến,
là ngời đã tận tình chỉ bảo và hớng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy cô và các cán bộ trong khoa Khí tợng - Thủy
văn - Hải dơng học đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn quý giá,
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất trong suốt thời gian tôi
học tập và thực hành ở Khoa.
Tôi xin cảm ơn Phòng sau đại học, Trờng Đại học Khoa học Tự nhiên
đã tạo điều kiện cho tôi có thời gian hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo Trung tâm khí tợng thủy văn Trung
ơng, các chú, các cô, các anh chị Phòng dự báo khí tợng hạn dài đã hết sức
giúp đỡ tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, ngời thân và
bạn bè, những ngời đã luôn ở bên cạnh cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện
tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trờng.
Trần Ngọc Vân

2.4 Các điều kiện tích phân số. 22
2.4.1 Lới tích phân của mô hình ETA 22
2.4.2 Điều kiện biên trong mô hình ETA 23
2.5 Tham số hóa vật lý trong ETA 24
2.5.1 Tham số hoá bức xạ 24
2.5.2 Sơ đồ tham số hóa đối lu của Betts-Miller-Janjic (BMJ) 24
2.5.3 Sơ đồ tham số hoá đối lu Kain-Fritsh (KF) 27 iii

2.5.4 Sơ đồ tham số hoá đối lu Kain-Fritsh với thông lợng động lợng
(KFMX) 30
2.6 Những điểm mới chủ yếu của phiên bản ICTP 2008 so với phiên bản
NCEP 2002 31
2.7 áp dụng mô hình ETA để dự báo bão ở Việt Nam 32
2.7.1 Miền dự báo và cấu hình lới 32
2.7.2 Mô tả tập số liệu nghiên cứu 33
2.7.3 Các phơng án thử nghiệm 36
2.7.4 Phơng pháp xác định tâm bão 36
2.7.5 Các chỉ tiêu đánh giá 37
CHƯƠNG III 40
Dự BáO BãO Đổ Bộ VàO Bờ BIểN VIệT NAM 40
BằNG MÔ HìNH ETA 40
3.1 Đánh giá kết quả dự báo quĩ đạo bão bằng mô hình ETA 40
3.1.1 Đánh giá kết quả dự báo cơn bão Mirinae 40
3.1.2 Đánh giá khả năng dự báo trên toàn bộ tập mẫu 53
3.2. Đánh giá kết quả dự báo vị trí đổ bộ của bão. 59
3.2.1 Định nghĩa vị trí đổ bộ của bão 59
3.2.2 Phơng pháp xác định vị trí đổ bộ của bão 59

Bố cục luận văn gồm các phần:
Mở đầu
Chơng 1: Tổng quan về bão
Chơng 2: Tổng quan về mô hình ETA và áp dụng vào dự báo bão ở Việt
Nam.
Chơng 3: Dự báo bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam bằng mô hình ETA.
Kết luận. 2

Chơng I Tổng quan về bão
1.1. Đặc điểm hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực Tây
Bắc Thái Bình Dơng và Biển Đông từ 1998 đến 2008
1.1.1. Số lợng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động ở Tây Bắc Thái Bình
Dơng và Biển Đông
a. Trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dơng
Theo [5],[11] số liệu thống kê trong giai đoạn 1959 1989, ở vùng Tây
Bắc Thái Bình Dơng hàng năm có khoảng 31 xoáy thuận nhiệt đới trong đó
có 27 cơn bão hoạt động. Trong số đó có khoảng 16 cơn bão mạnh đạt khoảng
59%.
Bảng 1.1 Bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên khu vực Tây Bắc
Thái Bình Dơng và Biển Đông.[5],[11]
Khu vực tây bắc Thái Bình Dơng Khu vực Biển Đông
Năm
Cấp
8 -11
>
>>
> 12

12 13 5 30 7 2 5
14
2006
10 14 6 30 3 7 6
16
2007
11 14 3 28 4 3 3
10
2008
11 11 5 27 6 4 5
15
Tổng

119 140 51 310 53 33 53 139
Qua Bảng 1.1, các năm 2001, 2002, 2004, 2005 và 2006 là những năm có
số lợng bão và áp thấp nhiệt đới xấp xỉ mức trung bình nhiều năm, các năm
còn lại có số lợng bão và áp thấp nhiệt đới thấp hơn trung bình nhiều năm. 3

Đặc biệt năm 1998 thấp hơn trung bình nhiều năm khá lớn (có 21 cơn bão và
áp thấp nhiệt đới).
Trong 11 năm qua, có ba năm 2001, 2003 và 2004 có tỉ lệ bão mạnh cao
hơn rất nhiều so với trung bình nhiều năm (đặc biệt năm 2004 có 20 cơn bão
mạnh, chiếm 68,9%), hai năm 1998 và 1999 có tỉ lệ thấp hơn trung bình nhiều
năm.
Nếu xét trung bình trong 11 năm qua thì số lợng bão và áp thấp nhiệt
đới hoạt động trên khu vực tây bắc Thái Bình Dơng khoảng 28,18 cơn một
năm (ít hơn trung bình nhiều năm khoảng 3 cơn) và số lợng bão mạnh trung

nhiều hơn trong tháng 4, mùa bão một số năm kết thúc khá sớm nh năm
2002: tháng 9 không có bão và áp thấp nhiệt đới, mùa bão kết thúc sớm hơn
hai tháng, năm 2007 kết thúc vào tháng 11.

0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Tháng
Số lợng
bão
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008


2008

Hình 1.2 Phân bố số lợng bão đổ bộ vào Biển Đông
trong 12 tháng từ năm 1998 -2008. [5],[11]
1.1.3. Đặc điểm hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến Việt
Nam
Từ 1998-2008, có 27 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới ảnh hởng trực tiếp,
8 cơn bão và 12 cơn áp thấp nhiệt đới ảnh hởng gián tiếp đến Việt Nam, đặc
biệt năm 2002 không có cơn bão và áp thấp nhiệt đới nào ảnh hởng trực tiếp
đến nớc ta và là năm thứ hai không có bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hởng trong
chuỗi số liệu nhiều năm (năm 1976).
a). Phân bố bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến Việt Nam
Theo [5], [11], trong số 31 cơn bão ảnh hởng trực tiếp có 12 cơn có
nguồn gốc từ Tây Bắc Thái Bình Dơng, số còn lại có nguồn gốc từ Biển
Đông. Qua Hình 1.3 cho thấy, bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến Việt
Nam chủ yếu tập trung vào các tháng nửa sau của năm. Theo trung bình nhiều
năm, bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến Việt Nam tập trung chủ yếu vào
ba tháng 8, 9 và 10, nhng trong 11 năm qua, bão và áp thấp nhiệt đới ảnh
hởng đến Việt Nam trải đều từ tháng 7 đến tháng 12, trong đó tháng 9 là
tháng có nhiều bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng nhất. 6

0
1
2
3
4
5

hội tụ nhiệt đới, gió mùa tây nam thì lợng ma tăng lên đáng kể. Nh cơn 7

bão số 2 tháng 8 năm 2007, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Hà
Tĩnh, do kết hợp với gió mùa tây nam nên đã gây một đợt ma 4 ngày (04 -
07/8/2007) ở các tỉnh từ Hà Tĩnh đến bắc Quảng Bình với lợng ma phổ biến
600 - 1000 mm, Tây Nguyên 200 - 300 mm, đặc biệt Hơng Khê (Hà Tĩnh)
1146 mm, Đồng Tâm (Quảng Bình) 1255 mm, Tuyên Hoá (Quảng Bình) 1127
mm.
Qua phân tích ảnh hởng của bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến
Việt Nam trong 11 năm qua, tác giả đa ra một số nhận xét và kết luận sau:
Trung bình số lợng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông
là 12,6 cơn xấp xỉ trung bình nhiều năm (khoảng 12 cơn).
Số lợng bão mạnh là 2,9 cơn một năm (trung bình nhiều năm là 4 cơn),
đặc biệt năm 2006 có 7 cơn bão mạnh.
Trung bình số lợng bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hởng đến Việt Nam
là 5,18 cơn, ít hơn so với trung bình nhiều năm (khoảng 7 cơn).
Năm 2002 không có cơn bão/áp thấp nhiệt đới nào ảnh hởng trực tiếp
đến Việt Nam.
Trong 11 năm qua có 4 cơn bão mạnh ảnh hởng đến Việt Nam (> cấp
12).
Trên đây chỉ là những nhận xét sơ bộ về đặc điểm hoạt động của bão và
áp thấp nhiệt đới trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dơng, Biển Đông và bão
ảnh hởng đến Việt Nam trong những năm gần đây. Qua đó ta có thể thấy một
sự biến động rất lớn về số lợng hoạt động của bão hàng năm, cũng nh mức
độ ảnh hởng, nó phụ thuộc nhiều nguyên nhân, nhiều hiện tợng, nhiều vấn
đề cần đợc nghiên cứu nh quá trình biến đổi khí hậu, hiện tợng ENSO, đã
và đang đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.

thuyết về cấu trúc và chuyển động của bão. Đặc điểm của các mô hình loại
này là mô tả đầy đủ các quá trình vật lý tác động đến chuyển động của bão 9

trong quá trình tơng tác và phát triển của chúng, song lại đòi hỏi về điều kiện
số liệu và phơng tiện tính toán.
Cho đến nay, trên thế giới cũng nh ở Việt Nam, rất nhiều mô hình số
dự báo bão đã đợc phát triển và đạt đợc những thành tựu đáng kể trong dự
báo quỹ đạo bão nh đa thời hạn dự báo bão và áp thấp nhiệt đới lên tới 72
hoặc 96h. Nhng do con ngời vẫn cha hiểu thấu đáo đợc những vấn đề liên
quan đến hoạt động của bão, vì tính phức tạp của nó, cho nên thời hạn dự báo
càng dài thì độ chính xác càng thấp. Hạn dự báo có thể tin cậy đợc là dự báo
hạn ngắn trong vòng 24 đến 48 h. Theo các tài liệu đã công bố trên thế giới thì
mức sai số trung bình về dự báo quỹ đạo của một số trung tâm trên thế giới
nh sau:
Bảng 1.2 Sai số dự báo của một số trung tâm dự báo trên Thế giới
(nguồn từ JMA ).[4]
Sai số vị trí theo thời gian (hải lý)
Khu vực
0h

12h

24h

36h

48h 72h 96h 120h


86,2

107,6

154,4

210,8
*

273,7
*

2000-2004
Tây bắc Thái
Bình Dơng
14

42 72 100

126 182 241
*
326
*
2000-2004
Bắc ấn Độ 15

49 78 104

129 192 N/A N/A 2000-2004

*
Phơng pháp thứ nhất là phơng pháp thống kê. Theo [11], bài báo đa ra
khả năng dự báo vị trí đổ bộ của bão vào nớc Mỹ dựa trên quĩ đạo của những
cơn bão và áp thấp nhiệt đới lịch sử trên Đại Tây Dơng. Phơng pháp đợc
đa ra là thống kê bão đổ bộ trên một vùng trong một khoảng thời gian nhất
định. Đồng thời bài báo cũng đa ra bản đồ phân bố bão đổ bộ cho từng vùng
và cho toàn bộ nớc Mỹ. Bản đồ này rất hữu ích cho việc dự báo đổ bộ. Bên
cạnh việc thống kê các cơn bão lịch sử, các nhà nghiên cứu còn tính toán ảnh
hởng của các yếu tố bất thờng của khí hậu nh dao động ENSO đối với vị
trí bão đổ bộ [13]. Theo các nhà nghiên cứu thì năm diễn ra El Nino thì có bão
ít hơn so với những năm có La Nina. Mối liên hệ giữa ENSO và bão cũng
đợc tài liệu [20] đa ra. Bài báo này đa ra số liệu thống kê bão đổ bộ vào
nớc Mỹ từ năm 1950 đến năm 2002. Theo các tác giả sự đổ bộ của bão ở
nớc Mỹ đợc phân thành ba nhóm: nhóm 10 năm đổ bộ nhiều, nhóm 9 năm
đổ bộ ít và những năm thông thờng trên tổng số 51 năm. Trong những năm
đổ bộ nhiều bão đổ bộ vào vào nớc Mỹ là 9 cơn (một nửa đổ bộ vào vịnh 11

Mexico và biển Caribe, và một nửa vào Đại Tây Dơng) và chỉ có 1 cơn đổ bộ
vào những năm đổ bộ ít. Trong những năm đổ bộ nhiều, bão hình thành ở vịnh
Mexico và vùng biển Caribe cao 6 lần so với những năm đổ bộ ít; 22/77 (29%)
trờng hợp có sự đổ bộ của bão Đại Tây Dơng vào bờ biển nớc Mỹ trong
năm bão đổ bộ nhiều nhng chỉ có 3/63 (5%) trờng hợp trong những năm
bão đổ bộ ít. Xấp xỉ 7,7 cơn/năm hình thành trên biển Đại Tây Dơng trong
những năm bão đổ bộ nhiều, và 5 cơn/năm hình thành ở những năm đổ bộ ít.
Trong những năm bão đổ bộ vào nớc Mỹ nhiều, trung bình 4,9 cơn/năm hình
thành ở vịnh Mexico và phía tây biển Caribe, trong khi đó những năm bão đổ
bộ ít có 1,6 cơn/năm hình thành ở khu vực này. Những năm có La Nina, số

số liệu quan trắc đợc thu thập, các tác giả có thể xem xét cấu trúc cũng nh
sự dịch chuyển của bão. Với số liệu quan trắc bao gồm số liệu bề mặt và trên
cao, số liệu này để xem xét sự phát triển của dòng thăng bão ở vùng gần trung
tâm. ảnh từ vệ tinh địa tĩnh sử dụng để phân tích sự phát triển của mây đối
lu. Thông qua việc phân tích ảnh, các tác giả có thể xác định vùng phát triển
đối lu sâu và sự hội tụ mực thấp. Từ đó, tác giả có thể xác định vùng giáng
thủy mạnh. Đặc biệt ảnh mây vệ tinh không những có thể giúp tác giả xác
định vị trí tâm bão thực tế, ảnh mây còn có thể giúp nhà nghiên cứu nhận xét
đợc xu thế di chuyển của cơn bão, cờng độ của cơn bão.
Nh vậy, để xác định đợc vị trí đổ bộ của bão cần kết hợp cả ba
phơng pháp số trị, thống kê và synop. Ba phơng pháp này sẽ hỗ trợ các nhà
dự báo trong công tác dự báo quĩ đạo bão và xác định vị trí bão đổ bộ.
1.4. Những nghiên cứu về dự báo bão ở Việt Nam
Nhiều mô hình số trị ở Việt Nam đợc sử dụng để dự báo bão nh
HRM, WRF, ETA, MM5, vv
a) Mô hình MM5: Theo [1], tác giả đã đề cập đến một số kết quả nhận
đợc trong dự báo quĩ đạo bão, áp thấp nhiệt đới ở Viện Khoa học Khí tợng
Thủy văn và Môi trờng bằng mô hình số trị MM5 thông qua mùa bão 2006.
Một hệ thống dự báo tổ hợp đợc xây dựng với 5 phơng án dự báo của MM5 13

trong các trờng hợp: không sử dụng sơ đồ phân tích xoáy nhng với các sơ
đồ tham số hóa đối lu khác nhau là Kuo, Grell và Betts Miller, sử dụng sơ đồ
phân tích xoáy đối xứng của MM5 và bất đối xứng TCLAPS với sơ đồ tham số
hóa đối lu Kuo. Kết quả cho thấy trong trờng hợp bão và áp thấp nhiệt đới
có quĩ đạo đơn giản thì sơ đồ tham số hóa đối lu Kuo cho kết quả khả quan
nhất trong số các sơ đồ sử dụng. Đối với các cơn bão mạnh các sơ đồ phân
tích xoáy có vai trò tích cực trong dự báo quĩ đạo bão và các sơ đồ này không

lợng của đối lu trong bão của sơ đồ KF là rất khả quan và mô hình Eta với
sơ dồ KF có thể sử dụng để tham khảo khi có hình thế bão hoặc áp thấp nhiệt
đới hoạt động trên Biển Đông.
c) Mô hình WRF: Theo [2], báo cáo đa ra thử nghiệm ứng dụng hệ
thống WRF-VAR kết hợp ban đầu hóa xoáy dự báo quĩ đạo bão trên khu vực
Biển Đông. Mô hình WRF kết hợp hệ thống đồng hóa số liệu ba chiều
(3DVAR), gọi là hệ thống WRF-VAR, đã đợc ứng dụng dự báo thử nghiệm
cho một số trờng hợp bão có quĩ đạo tơng đối phức tạp hoạt động trên Biển
Đông. Ngoài các tập số liệu toàn cầu và số liệu địa hình cần thiết cho việc
chạy mô hình WRF, việc đồng hóa số liệu đã đợc thực hiện với nguồn số liệu
quan trắc giả mà chúng đợc tạo ra nhờ một module ban đầu hóa xoáy.
Module này cho phép xây dựng một xoáy nhân tạo, mà trong bài đây là một
xoáy lý thuyết đối xứng. Việc thử nghiệm đợc tiến hành theo hai phơng án:
1) Có đồng hóa số liệu với nguồn số liệu giả bổ sung (PA1); và 2) Không
đồng hóa số liệu (PA2). Thời hạn dự báo là 48h. Ba cơn bão đợc chọn gồm
Durian (2006), Lekima (2007) và Neoguri (2008). Kết quả nhận đợc cho
thấy, việc sử dụng nguồn số liệu giả đã cải thiện đáng kể chất lợng dự báo
quĩ đạo bão. Tính trung bình cho tất cả các hạn dự báo đến 48 h, sai số vị trí
(PE) của PA1 chỉ vào khoảng 60 km, trong khi của PA2 giá trị này khoảng
160 km. Mặc dù số trờng hợp thử nghiệm còn ít, song những kết quả nhận
đợc đã mở ra một khả năng phát triển hệ thống WRF-VAR thành một phiên
bản dự báo bão khi thêm vào nó một module tạo xoáy nhân tạo. 15

d) Mô hình HRM: Theo [3], luận án đã đa ra nghiên cứu phát triển và
ứng dụng sơ đồ ban đầu hóa xoáy ba chiều cho mục đích dự báo chuyển động
bão ở Việt Nam. Tác giả đã đa ra một phiên bản cải tiến của HRM-HRM_TC
đã đợc phát triển mà nền tảng của nó là thêm vào HRM một sơ đồ ban đầu

2.1. Lịch sử phát triển của mô hình ETA
Năm 1973, nhà khoa học ngời Nam T là Feodor Mesinger đã xây
dựng một mô hình dự báo thời tiết hạn ngắn tại trờng Belgrade, liên bang
Nam T cũ, nay là Serbia. Mô hình này đợc đặt tên là ETA do Mesinger đã
sử dụng hệ tọa độ thẳng đứng Eta (

) thay cho hệ tọa độ Sigma (

), làm cho
hiệu ứng địa hình đợc thể hiện tốt hơn.
Mô hình ETA bắt đầu có đợc uy tín quốc tế từ năm 1987 khi lần đầu
tiên, W. Manchur đã sử dụng ETA để mô phỏng hai cơn bão nhiệt đới tại úc
và thông báo kết quả dự báo mô phỏng trên tạp chí khí tợng nớc úc. Lúc đó
mô hình ETA chỉ có một sơ đồ tham số hóa đối lu là BM (Betts-Miller). Năm
1990, Tổ chức Khí tợng Thế giới (WMO) đã ấn hành Tài liệu Kỹ thuật về mô
hình ETA [21] để phổ biến mô hình ETA trong các nớc thành viên. Trong
quá trình ứng dụng trong dự báo và nghiên cứu những ngời sử dụng đã gửi
thông báo, nhận xét về cho tác giả Mesinger, phản ánh những điểm tốt và
cha tốt của mô hình ETA, trong đó phải kể đến đặc điểm là mô hình ETA
với sơ đồ BM, thỉnh thoảng hay dự báo những vệt ma lan rộng trên biển nhiệt
đới mà trên thực tế không có thực.
Khoảng năm 1994, Zavisa Janjic (cũng tác giả ngời Nam T) đã
nghiên cứu cải tiến sơ đồ BM trong ETA, và đã khắc phục đợc các các vệt
ma giả. Từ đó, sơ đồ BM đợc gọi là sơ đồ BMJ. Sơ đồ BMJ thuộc loại
hiệu chỉnh (adjustment), nghĩa là hiệu chỉnh sao cho trị số của nhiệt độ T và
độ ẩm q của môi trờng bao quanh khu vực có đối lu, trở về giá trị phù hợp
hơn, làm cho độ bất ổn định của cột khí quyển mất đi.
Khoảng năm 2001-2002, Trung tâm Quốc gia Dự báo Môi trờng
(National Centers for Environment Prediction -NCEP) của Trung tâm Quản lý

18

nớc úc Connie, Irma, Damien và Jason. Mô hình đã dự báo khá chính xác áp
suất tại tâm bão và gió cực đại. Tuy nhiên, kết quả đa ra trong bài báo này
không đa ra chi tiết cấu trúc của xoáy thuận nh độ ẩm, xoáy, độ hội tụ và
chuyển động của xoáy, cũng nh độ nhạy của mô hình đối với điều kiện ban
đầu và điều kiện biên, địa hình, độ phân giải, quá trình tham số hóa vật lý.
ở Việt Nam, có nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về mô hình ETA.
Theo [6], trong báo cáo này tác giả đã lấy một trờng hợp bão số 6 có tên
quốc tế Xangsane (0615) và so sánh quĩ đạo bão giữa hai sơ đồ tham số hóa
đối lu BMJ và KF cho quĩ đạo của cơn bão này. Tác giả thấy cả BMJ và KF
đều cho dự báo về hớng di chuyển của tâm bão tơng đối tốt khi so sánh với
quĩ đạo thực. Trị số áp suất ở tâm bão, cả 2 sơ đồ BMJ và KF đều cho trị số
cao hơn so với số liệu quan trắc khoảng 40 mb. Điều này cho thấy, khi sử
dụng mô hình ETA để dự báo bão cần nghiên cứu kĩ thuật cài xoáy để có thể
nâng cao độ chính xác về trị số áp suất tâm bão. Về dự báo tốc độ di chuyển
sơ đồ KF cho giá trị 21.5 km/giờ rất sát so với giá trị quan trắc, trong khi đó
BMJ cho giá trị khá thấp là 11 km/giờ. Về sai số khoảng cách thì sai số tuyệt
đối của khoảng cách từ tâm dự báo đến tâm quan trắc của sơ dồ KF nhỏ hơn
rõ rệt so với BMJ. Tại thời điểm dự báo 96 h, sai số KF nhỏ (223 km) so với
BMJ (930 km). Theo tác giả, những nghiên cứu cho một trờng hợp riêng của
cơn bão Xangsane (0615) cha cho phép khẳng định đầy đủ sơ dồ nào trong
BMJ và KF u thế hơn. Tuy nhiên, kết quả trên gợi ý về một cụ thể nào đấy
của sơ đồ dòng khối KF so với sơ đồ hiệu chỉnh BMJ trong hình thế thời tiết
có bão trên khu vực Việt Nam. Theo [9], báo cáo cũng tiến hành thử nghiệm
dự báo một trờng hợp bão là cơn bão số 5 (Krovank-2003). Kết quả dự báo từ
mô hình mô tả khá tốt diễn biến hoạt động của bão Krovank, thời gian đổ bộ
vào vịnh Bắc Bộ (tại dự báo +30 h) và sau đó vào đất liền (tại dự báo +36 h) là

ở đây,
s

t
là áp suất thủy tĩnh tại bề mặt và đỉnh của mô hình. Với hệ tọa
độ này thì hệ phơng trình nhiệt động lực bất thủy tĩnh có dạng sau
1) Phơng trình cho xu thế khí áp:
à
à



=


d
t
)(
1
0
v
(2.3)

2) Phơng trình trạng thái:

RTp
=

(2.4)


p
c
Q
tt
p
c
dp
c
T
T=
t
T
+


+


+


++






])1([
])()1([

d
g
w



++


==






v
(2.9)

)(
11

w
w
t
w
gdt
dw
g




.
S
=
với
(
)
( )
Trf
TSrf
S
PP
PZP


=
0


ở đây, P
T
là áp suất tại đỉnh của mô hình, Ps là áp suất bề mặt Prf(Z) = Prf(0).
exp( -G
1
.Z /RT) với Prf(0) = 1013,25 ; T=288, G
1
=6,50, R=287,04
Để chuyển đổi hệ phơng trình trong hệ tọa độ (x,y,,t) sang hệ tọa độ
(x,y,,t) ta sử dụng các công thức chuyển đổi sau:


η
η
σ
σ




+


=









∂ f
yy
f
y
f
S

σ

η
η
σ


+


+


+


=







f
y
f
v
x

f
y
f
x
f
f
SS
ηη
η
σ
σ

khi ®ã hÖ ph−¬ng tr×nh cã d¹ng:
'
0
)(
ηµ
µ
η
η
d
t
S
v


∇−=


(2.3b)

pp
p
c
Q
tt
p
c
dp
c
T
T=
t
T
+


+−


+

∇+−∇+


−∇−


••
•••
])1([


+Φ∇+

Φ

=
Φ
=


v
tgdt
d
g
w
(2.9b)

)(
11
η
ηε
η


+∇+


==



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status