TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ
ĐẾN NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : Phan Trần Trung
DũngSinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Hà
Lớp : Pháp 1 - K38E
3. Mục tiêu và phương châm của các ngân hàng trong quá trình hội nhập 18
3.1. Mục tiêu 18
3.2. Phương châm 19
4. Cơ hội và thách thức của ngân hàng trong quá trình hội nhập 19
4.1. Cơ hội 19
4.2. Thách thức 22
4) 4
.2.1. Thị trường tài chính Việt Nam còn lạc hậu so với các nước
trong khu vực 22
5) 4
.2.2. Việt Nam vẫn còn tụt hậu về thể chế thị trường, hệ thống pháp luật
kém minh bạch và tính thực thi kém 23
6) 4
.2.3. Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn nhiều yếu kém 25
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 3 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
7) 4
.2.4. Hệ thống tài chính Việt Nam với các ngân hàng thương mại
quốc doanh là chủ đạo 28 Chương II: Thực trạng những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến
hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua 30
1. Vài nét về hệ thống ngân hàng Việt Nam và đánh giá chung về hoạt động
trong tiến trình hội nhập quốc tế 30
1.1. Ngân hàng Nhà nước 30
1.2. Ngân hàng thương mại 32
2. Đánh giá chung về hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt nam trong
tiến trình hội nhập quốc tế 33
.1.1. Về sản phẩm ngân hàng 71
11) 2
.1.2. Giải pháp về giá cả và dịch vụ 75
12) 2
.1.3. Các giải pháp xúc tiến 76
13) 2
.1.4. Giải pháp cho hệ thống phân phối 76
2.2. Nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh 77
14) 2
.2.1. Xây dựng tôn chỉ hay quy ước chung của từng ngân hàng 77
15) 2
.2.2. Ban hành và áp dụng các phương thức tiên tiến phù hợp về
quản trị và điều hành 78
16)
17)
18) 2
.2.3. Thay đổi mô hình tổ chức của ngân hàng cho phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ trong thời kỳ mới 79
19) 2
.2.4. Xây dựng chỉ tiêu kinh doanh 80
2.3. Giải pháp chung về công nghệ 80
20) 2
.3.1. Các giải pháp 80
21) 2
.3.2. Công tác tổ chức thực hiện 83
2.4. Giải pháp chung về con người 84
2.5. Mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại 85
2.6. Đổi mới hoạt động kiể
m soát, kiểm tra, kiểm toán nội bộ 86 LỜI NÓI ĐẦU Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu
thế tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những phát triển mạnh mẽ
về khoa học kỹ thuật công nghệ đã góp phần đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa
nền kinh tế thế giới. Với sự ra đời của các thể chế toàn cầu và khu vực như
WTO, EU, APEC, NAFTA, thế gi
ới ngày nay đang sống trong quá trình toàn
cầu hoá mạnh mẽ, quá trình này thể hiện không chỉ trong lĩnh vực thương
mại mà cả lĩnh vực sản xuất dịch vụ, tài chính đầu tư cũng như các lĩnh vực
văn hoá, xã hội, môi trường với các hình thức và mức độ đa dạng khác nhau.
Toàn cầu hoá tạo ra mối quan hệ gắn bó, sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những
tác động qua lại hết s
ức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Thông qua quá
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 6 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
trình tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại dịch vụ đầu tư, toàn cầu hóa tạo
ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao
lưu kinh tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các
nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu.
Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các
nước vào nề
n kinh tế thế giới và khu vực. Có thể nói, hiện nay hầu như
không có một quốc gia nào đứng ngoài quá trình hội nhập nếu không muốn
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 7 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
nước cấp nhỏ, mô hình tổ chức truyền thống chưa thực sự hướng tới khách
hàng
Đề tài: “Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam”
là một nghiên cứu nhỏ của riêng cá nhân tôi về mặt lý luận và thực tiễn với
hy vọng sẽ trở thành một đóng góp cho quá trình cải tổ và hoàn thiện hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Khoá luậ
n bao gồm 3 chương, chuơng 1 “Tiến trình hội nhập quốc tế
của nền kinh tế Việt Nam và những cơ hội thách thức đối với lĩnh vực tài
chính ngân hàng” giới thiệu khái quát về những hướng đi cụ thể trong tiến
trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của ngành ngân hàng
nói riêng, chương 2 đi sâu phân tích về những tác động của hội nhập tới
ngành ngân hàng, và chương 3 “Giải pháp nhằ
m nâng cao chất lượng những
tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hệ thống Ngân hàng Việt Nam” đề
xuất một số biện pháp cụ thể nhằm đưa ngân hàng Việt Nam tiến nhanh và
tiến kịp với hội nhập quốc tế.
Khoá luận có sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phương
pháp so sánh, phân tích tổng hợp, đánh giá, bên cạnh đó, khoá luậ
n còn sử
dụng và trích dẫn một số quan điểm của Đảng và Nhà nước để khái quát, hệ
thống và khẳng định các kết quả nghiên cứu, các bảng biểu và số liệu để
minh hoạ.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận bao gồm các vấn đề liên quan đến lý
luận về xu hướng toàn cầu hoá, hệ thống ngân hàng Việt Nam, các lý thuyết
về tài chính tiền tệ Đây là một vấn đề l
ớn và phức tạp, nhưng do thời gian
nghiên cứu có hạn cũng như năng lực của bản thân còn hạn chế cho nên khoá
Chương I
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA KINH TẾ
VIỆT NAM VÀ NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Hội nhập kinh tế quốc tế là một phạm trù hiện nay đã không còn lạ lẫm
nếu không muốn nói là đã trở thành quen thuộc với mọi người dân Việt Nam.
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 9 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được đề ra trong bối cảnh chúng ta
đang ở trong nền kinh tế thị trường với sự can thiệp của Nhà nước. Cách
mạng khoa học - kỹ thuật tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng cao, đặc
biệt là công nghệ thông tin. Cả thế giới và khu vực đang rộ lên những vấn đề
bức xúc và nóng bỏng như toàn cầu hoá và kinh tế
tri thức.
Các nước lớn nhỏ đều dành quyền ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo
đuổi chính sách kinh tế mở, tìm kiếm lợi ích của mình bằng những chính sách
và giải pháp riêng biệt.
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là quá trình cạnh tranh giữa các
nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển sản xuất khác
nhau, diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới, nhằm tranh giành thị
Xu thế khách quan của toàn cầu hoá kinh tế và chủ trương Việt Nam
hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định rõ trong nhiều nghị quyết của
Đảng và đã được triển khai trên thực tế.
Gần đây nhất Đại hội IX của Đảng đã xác định Đường lối phát triển
kinh tế
trong thời kỳ mới là: “phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững’’. Nghị quyết 07 - NQ/TW được Bộ chính trị
thông qua chính là sự kế thừa, cụ thể hoá và triển khai các đường lối của
Đảng ta đề ra từ trước đến nay, đáp ứng kịp thời những yêu cầ
u khách quan
của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Theo đó, mục tiêu của
hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,
công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Trước mắt là thực hiện nhữ
ng nhiệm vụ nêu ra trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005.
Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, trong qúa trình hội nhập
cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn
xã hội trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, Thủ
tướng chính phủ cũng đã ký Quyết định số 37/2002/TTg ngày 14 tháng 3
năm 2002 v
ề Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện hiệp định
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 11 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Các chương trình này là một bước triển khai
định hướng của Bộ chính trị để nước ta tích cực, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế trong thời kỳ mới. Các chương trình hành động cũng nêu rõ những
nứơc xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ SEV đã góp phần quan trọng vào
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ khôi phục và kinh tế
sau chiến tranh và quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, trong cơ chế kế hoạch hoá,
hợp tác trong SEV mang nặng tính hình thức và bao cấp. Quan hệ thương mại
về phía Việt Nam chủ yếu mang tính trợ giúp hoặc dưới hình thức hàng đổi
hàng.
Sau khi hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ, chúng ta tích cực đẩy m
ạnh
quá trình đổi mới trong nước và thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá,
đa phương hoá. Quan hệ thương mại quốc tế được đẩy mạnh theo cơ chế
mới: Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từng bước phá bỏ thế bao vây, cô lập , Việt Nam đã trở thành thành
viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác
Châu Á - Thái Bình D
ương (APEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu (ASEM
), và tích cực tham gia đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO.
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 170 nước, quan hệ
thương mại với trên 140 nước, quan hệ đầu tư với 70 nước, đã ký 81 hiệp
định thương mại trong đó có 3 thoả thuận được coi là quan trọng, có những
yêu cầu, đòi hỏi cao, mang tầm cỡ khu vực và quố
c tế, đó là Hiệp định
Thương mại (HĐTM) Việt - Mỹ, yêu cầu gia nhập WTO, và cam kết theo
AFTA.
Tiến trình hội nhập của Việt nam:
Ngày tháng
năm
Sự kiện Tiến trình /Nội dung cam kết
1986
Tham gia diễn đàn hợp tác Á-
Âu(ASEM)
11/1998
Tham gia diễn đàn hợp tác
Kinh tế châu Á -TBD(APEC)
7/2000 Ký kết HĐTM Việt -Mỹ
12/2000
Quốc hội 2 nước chính thức
thông qua HĐTM Việt- Mỹ
Theo lộ trình
2.2. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cam kết gia nhập WTO, cam
kết theo AFTA và những cam kết cụ thể của Việt nam liên quan đến
lĩnh vực tài chính ngân hàng.
2.2.1. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Ngày 13/07/2000 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là sự ra đời của Hiệp định thương mại
(HĐTM) Vi
ệt - Mỹ tại Washington, Hoa kỳ. Hiệp định này đã được Quốc hội
hai nước phê chuẩn và có giá trị thi hành từ ngày 11/12/2001. Đây là kết quả
của hơn 4 năm đàm phán, đấu tranh giữa ta và Mỹ, là hiệp định song phương
đồ sộ nhất, toàn diện nhất và cụ thể nhất trên cơ sở các tiêu chuẩn và nguyên
tắc của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). HĐTM có ý nghĩa đặc bi
ệt
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 14 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
quan trọng với Việt Nam, nó không chỉ mở ra quan hệ thương mại bình
thường giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà còn là mốc quan trọng để Việt Nam
6) Không hạn chế sự tham gia vốn nước ngoài dưới hình thức hạn chế tỷ
lệ tối đa với cổ phần nước ngoài, hoặc tổng giá trị từng khoản đầu tư
hoặc tổng số đầu tư.
Theo các cam kết của HĐTM, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể
được phép kinh doanh đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng
thương m
ại như tiền gửi, tín dụng các loại, thuê mua tài chính, bảo lãnh,
thanh toán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản và giấy tờ có giá, v.v Ngoài ra,
các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể thực hiện các dịch vụ liên quan đến
chứng khoán như thanh toán, kinh doanh chứng khoán (kể cả các sản phẩm
tài chính phái sinh như Futures, Options, Swaps, Forward), tham gia phát
hành mọi loại chứng khoán.
Các hình thức pháp lý nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể hoạt động
kinh doanh bao gồm :
7) Chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ.
8)
Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ.
9) Ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ.
10) Công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ.
11) Công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ.
Các định chế tài chính Hoa Kỳ phải tuân thủ các quy định sau:
1) Đối với chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ, phải có vốn do ngân hàng mẹ
cấp tối thiểu 15 triệu USD, và ngân hàng mẹ có văn bản cam kết chịu
mọi trách nhiệm tại thị trường Việt Nam ;
2) Đối với Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ, hay ngân hàng con
vốn 100% Hoa Kỳ
, cần có vốn điều lệ tối thiểu 10 triệu USD;
3) Đối với công ty thuê mua tài chính 100% Hoa Kỳ hay liên doanh Việt
Nam - Hoa Kỳ cần có vốn điều lệ tối thiểu 5 triệu USD.
6. Sau 9 năm, các ngân hàng Hoa Kỳ
được phép thành lập ngân hàng con
100% vốn Hoa Kỳ. Trong thời gian này các ngân hàng Hoa Kỳ liên
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 17 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
doanh cần có vốn góp không thấp hơn 30% và không vượt quá 49%
vốn pháp định của liên doanh.
7. Trong vòng 10 năm đầu, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi
nhánh NH Hoa Kỳ nhận tiền gửi từ các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam
mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn của chi nhánh
phù hợp với biểu sau. Mức vốn của chi nhánh quy định như sau:
a) Năm thứ 1: 50% vốn pháp định được chuyển vào;
b)
Năm thứ 2: 100%;
c) Năm thứ 3: 250%;
d) Năm thứ 4: 350%;
e) Năm thứ 5: 500%;
f) Năm thứ 6: 650%;
g) Năm thứ 7: 800%;
h) Năm thứ 8: 900%;
i) Năm thứ 9: 1000%;
j) Năm thứ 10: Đối xử quốc gia đầy đủ.
2.2.2. Các cam kết cơ bản khi gia nhập WTO
Việt Nam đang khởi động quá trình đàm phán gia nhập tổ chức thương
mạ
i thế giới (WTO). Một yêu cầu quan trọng nhất để trở thành thành viên của
WTO là công bố và thực hiện một lộ trình gỡ bỏ những hạn chế thương mại
đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài dưới dạng hàng rào phi thuế quan.
Sau khi vòng đàm phán Uruguay kết thúc tháng 12/1997, đã có những
phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ vớí những điều kiện, điều khoản đã được
thoả thuận và quy định theo danh mục cam kết;
7) Trừ khi gặp tình huống bảo vệ cán cân thanh toán, một thành viên sẽ
không hạn chế thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch vụ vãng
lai theo cam kết;
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 19 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
8) Mỗi thành viên cần cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của
các thành viên khác được đưa ra dịch vụ ngân hàng mới trên lãnh thổ
mình;
9) Cho phép nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng tiếp cận hệ thống thanh toán
bù trừ do Nhà nước điều hành và tiếp cận các hình thức tái cấp vốn;
• Mỗi nước thành viên cho phép người cung cấp dịch vụ của bất kỳ
thành viên nào quyền được thành lập và mở rộng hoạt
động trên lãnh
thổ mình (kể cả mua lại các doanh nghiệp hiện thời);
• Mỗi thành viên không trả lời chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ thành
viên nào về các biện pháp được áp dụng chung.
2.2.3. Các cam kết theo AFTA
Theo AFTA, Việt nam đã có một số cam kết mở cửa cho giai đoạn
1996-2006. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, mức độ cam kết
theo AFTA thấp hơn nhiều so với những cam kết trong HĐTM Việt - Mỹ và
gia nhậ
p WTO.
Các nước thành viên được hưởng chế độ ưu đãi theo các nguyên tắc
chung, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong việc chuyển vốn đầu tư ra thị
trường quốc tế, dần dần dỡ bỏ các hạn chế về số lượng các dịch vụ cung cấp,
các thành viên sẽ dành cho nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng của bất kỳ một
thành viên nào sự đãi ngộ không kém phần thuậ
4. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÂN HÀNG TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP
4.1. Cơ hội.
Với mục đích phấn đấu cho một nền thương mại thế giới công bằng trên
cơ sở các nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc minh bạch, công
khai chính sách và bảo hộ hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra những
lợi ích thiết thực cho các quốc gia trên toàn thế giới. Hộ
i nhập kinh tế quốc
tế là động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 21 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
Thứ nhất, để phát huy nguồn lực quốc gia, các nước đã điều chỉnh
chính sách vĩ mô theo hướng năng động và hiệu quả hơn nhằm tạo ra sự
thông thoáng cho môi trường đầu tư, kinh doanh, thương mại và lưu chuyển
vốn.
Thứ hai, để khai thác được các lợi thế so sánh của mình qua tự do hóa
thương mại, tài chính ngân hàng, các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc nhiều
hơn vào nhau trong khu vực của mình và các khu v
ực càng trở nên gắn bó
hơn. Sự hình thành Cộng đồng châu Âu (EU ), khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), và gần đây nhất là Cộng đồng các quốc gia
Châu Phi (AU), và việc ký kết các hiệp định song phương là những minh
chứng hùng hồn về sự gắn kết đó .
Thứ ba, hội nhập đã khuyến khích quá trình tự do hoá và tư nhân hoá
diễn ra nhanh hơn trên các thị trường. Để tạo ra sự cởi mở trong nền kinh tế,
các quốc gia đã nới lỏng, “tự do hoá” các chính sách và tăng cường, khuyến
khích sự tham gia, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân, một khu vực kinh
tế năng động, giàu tiềm năng và không thể thiếu được trong tiến trình phát
Thứ nhất, hội nhập quốc tế về tài chính ngân hàng sẽ tăng động lực phát
triển cho thị trường tài chính vốn còn kém phát triển ở Việt Nam tạo ra môi
trường kinh doanh năng động bình đẳng.
Cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài là một điều hết sức khó khăn
cho ngân hàng Việt Nam, tuy v
ậy, phải có cạnh tranh mới có phát triển.
Muốn chiến thắng trong trận chiến không cân sức này thì ngay từ bây giờ các
ngân hàng Việt Nam phải có phương án kinh doanh hiệu quả phải nâng cao
được lợi thế cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm, kênh phân phối, chính
sách thu hút khách hàng, đồng thời, phải cải thiện năng lực quản lý các nguồn
lực tài chính cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.
Hiện nay, chúng ta có lợi thế là kênh phân phối r
ất rộng, ngân hàng
Việt Nam hiểu biết, quen thuộc khách hàng hơn trong khi đó các ngân hàng
nước ngoài lại có ưu thế về giá dịch vụ.
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thương - 23 - Trưòng ĐH Ngoại Thương Hà Nội
Thứ hai, hội nhập ngân hàng nhằm thúc đẩy thị trường tài chính trong
nước phát triển; tăng khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính
đối với các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước. Trên thực tế, thị trường
tài chính Việt Nam còn hết sức kém phát triển và lạc hậu so với khu vực và
quốc tế. Việc hội nhập tài chính ngân hàng sẽ buộc các tổ chức tài chính tín
dụng Việt Nam phải cải tiến và
đổi mới phù hợp với nhu cầu phát triển để
đứng vững trên thị trường.
Ngoài ra hội nhập quốc tế về tài chính ngân hàng sẽ góp phần nâng cao
năng lực quản lý tài chính của các doanh nghiệp trong nước, nhất là các
doanh nghiệp Nhà nước.
Các ngân hàng thương mại khi tham gia hội nhập sẽ được hưởng các chế
trong khu vực.
Xét về độ sâu tài chính (được đánh giá theo chỉ số M2/GDP(%)) và mức
độ tiền tệ hoá nền kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn lạc hậu so
với hầu hết các nước trong khu vực khoảng 15 năm (xem bảng 1). Trong đi
ều
kiện đó, rõ ràng những quy luật của cơ chế thị trường (kỷ luật thị trường) ở
Việt Nam hoạt động chưa hiệu quả, sự kém hiệu quả này có thể dẫn đến sự
phân bổ các nguồn vốn (nhất là các nguồn vốn quốc tế) kém hiệu quả. Sự yếu
kém này chắc chắn là thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập
tài chính.
Bảng 1. Độ sâu tài chính của Việt Nam và một số nước
1. 2.
991
3.
992
4.
993
5.
994
6.
995
7.
996
8.
997*
9.
998*
10. M2/GDP
(%)
11. Vietnam
38.
2
3.6
39.
01.3
40.
4
5.8
41.
7
46.
47.
2
5.3
48.
10.7
49.
4
5.6
50.
8
55.
56.
2
3.7
57.
07.1
58.
4
9.1
16.
Philippines
17.
Singapore
18.
Thailand
6.2
24.
3
8.3
25.
3
4.1
26.
9
1.1
27.
6
9.8
9.2
33.
3
8.8
34.
3
4.5
35.
9
2.3
36.
4
3.5
61.
4
5.7
62.
8
6.8
63.
7
8.7
69.
4
3.8
70.
5
0.3
71.
8
4.5
72.
7
9.5
78.
4
6.0
79.
4
3.0
80.