Tài liệu HIỆU QHIỆU QUẢ TỪ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP potx - Pdf 10



HIỆU QHIỆU QUẢ TỪ THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

HIỆU QHIỆU QUẢ TỪ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TỪ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆPIỆU
QUẢ TỪ THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
Thương mại điện tử được nói đến nhiều nhưng hiểu sâu hơn về những ứng dụng
của nó để vận dụng vào thực tế trong các doanh nghiệp nhằm góp phần đem lại
hiệu quả kinh tế to lớn là một vấn đề cần được trao đổi nhiều hơn nữa. Bài viết này
muốn đề cập đến khía cạnh cụ thể mà thực tế các doanh nghiệp tiên tiến trên thế
giới đã áp dụng có hiệu quả, qua đó hy vọng giúp một phần nào hữu ích cho doanh
nghiệp Việt Nam có thể ứng dụng vào lĩnh vực cụ thể mà mình đang quản lý.

thông minh hay điện thoại di động có thể coi là hoạt động thương mại điện tử. Các loại giao dịch thương mại điện tử

Các giao dịch thương mại điện tử có thể được thực hiện giữa các bên khác nhau
như sau:
Giữa các doanh nghiệp (B2B): Trong các giao dịch B2B, cả người bán và người
mua đều là các tổ chức kinh doanh. Một khối lượng lớn của thương mại điện tử là
thuộc loại này.

Thương mại hợp tác (c-commerce): Trong thương mại hợp tác, các đối tác kinh
doanh hợp tác bằng điện tử. Sự hợp tác này thường xuất hiện giữa các đối tác kinh
doanh dọc theo dây chuyền cung cấp
Giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp (C2B): Trong C2B, người tiêu dùng cho
biết nhu cầu cụ thể về một sản phẩm hay dịch vụ và các nhà cung cấp cạnh tranh sẽ
cung cấp sản phẩm hay dịch vụ đó cho người tiêu dùng.
Giữa những người tiêu dùng (C2C): Trong C2C, một cá nhân bán các sản phẩm
hay dịch vụ cho các cá nhân khác. (Bạn cũng sẽ thấy thuật ngữ C2C đươc sử dụng
như là thương mại “giữa các khách hàng”).
Giữa chính phủ và các công dân và những đối tượng khác (G2C): Trong trường
hợp này, chính phủ cung cấp các dịch vụ cho các công dân của mình thông qua các
công nghệ thương mại điện tử. Các cấp chính quyền có thể làm việc với nhau hoặc
với các doanh nghiệp (G2B). Thương mại di động (m-commerce): Khi thương mại điện tử được thực hiện trong
một môi trường vô tuyến (không dây), ví dụ như sử dụng điện thoại di động để
truy cập Internet, chúng ta gọi là thương mại di động.
Phạm vi của thương mại điện tử. Lĩnh vực thương mại điện tử rất rộng và có nhiều

và các kênh mua hàng qua TV đã thu hút hàng triệu người mua hàng hơn hai thập
kỷ qua. Tuy nhiên, các phương pháp này có những hạn chế của chúng. Cả hai
phương pháp đều tốn kém; catalog bằng giấy nhiều khi không cập nhật; nhiều
người cảm thấy khó chịu với các tờ giấy rác được sử dụng trong các catalog vứt
bừa bãi; mua hàng qua truyền hình bị giới hạn trong những mặt hàng được giới
thiệu trên màn ảnh TV vào bất cứ thời điểm nào cho trước. Mua hàng trực tuyến
cung cấp một phương án thay thế cho mua hàng bằng catalog và qua TV, thu hút
rất nhiều người tiêu dùng.
Giống như hình thức mua hàng bằng cách đặt hàng qua bưu điện, thương mại điện
tử cho phép bạn mua hàng từ nhà và làm điều đó 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi
tuần. Tuy nhiên, thương mại điện tử khắc phục được một số hạn chế của các hình
thức mua hàng tại nhà khác. Nó cung cấp một lượng phong phú các sản phẩm và
dịch vụ, kể cả các mặt hàng độc đáo nhất, thường là với mức giá thấp hơn. Hơn
nữa, chỉ trong vòng vài giây, người mua hàng có thể nhận được các thông tin chi
tiết về các sản phẩm và có thể dễ dàng tìm kiếm và so sánh các sản phẩm và giá
của các đối thủ cạnh tranh. Cuối cùng, bằng cách sử dụng Internet, người mua có
thể tìm được hàng trăm, hàng nghìn người bán. Bán lẻ điện tử (e-tailing) là bán
trực tiếp các sản phẩm thông qua các cửa hàng điện tử hay các khu siêu thị điện tử,
thường được thiết kế xung quanh một khuôn mẫu catalog Cửa hàng điện tử
(electronic storefronts). Có thể thấy hàng trăm nghìn các cửa hàng điện tử trên
Internet, mỗi quầy đều có tên Internet riêng và portal thương mại điện tử của mình. Bán lẻ điện tử, các vấn đề cơ bản
Khái niệm bán lẻ hay bán lẻ điện tử có nghĩa là bán hàng hoá và dịch vụ cho các
khách hàng riêng lẻ. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa thương mại điện tử B2C và B2B
không phải bao giờ cũng rõ ràng. Ví dụ, Amazon.com bán bán sách chủ yếu cho
các cá nhân (B2C), nhưng cũng bán cho các công ty (B2B). Đối thủ cạnh tranh của
Amazon.com, Barnes & Noble Online (bn.com) có một bộ phận đặc biệt phục vụ
riêng cho các khách hàng doanh nghiệp.

truyền thống. Giống như việc bổ sung các khả năng thanh toán thẻ tín dụng cách
đây một thế hệ.
Nghiên cứu thị trường và quảng cáo trực tuyến

Bây giờ chúng ta chuyển sang một hướng khác, nghiên cứu thị trường và quảng
cáo trực tuyến. Để tiến hành thương mại điện tử thành công, đặc biệt là B2C, vấn
đề quan trọng là phải tìm ra ai là khách hàng thực tế và tiềm năng và điều gì thúc
đẩy họ mua hàng. Nhiều tổ chức nghiên cứu thu thập các số liệu thống kê về tình
hình sử dụng Internet (ví dụ như acnielsen.com, emarketer.com), và họ cũng xem
xét các yếu tố cản trở mua hàng. Các công ty bán hàng sau đó có thể chuẩn bị các
chiến lược marketing và quảng cáo của mình dựa trên thông tin này.

Việc tìm hiểu cái mà các nhóm người tiêu dùng cụ thể (ví dụ như vị thành niên hay
dân cư ở các vùng địa lý nhất định) muốn được tiến hành thông qua phân đoạn,
chia khách hàng thành các nhóm cụ thể, ví dụ như theo tuổi tác và giới tính. Tuy
nhiên, ngay cả khi chúng ta biết các nhóm người tiêu dùng nói chung muốn gì thì
mỗi người tiêu dùng rất có khả năng lại thích một cái gì đó khác biệt. Tìm hiểu về
khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp
thành công nào, đặc biệt là trong thương mại điện tử. Quá trình tìm hiểu này được
tạo điều kiện dễ dàng bởi nghiên cứu thị trường. Trong nhiều năm nay, các nhà nghiên cứu thị trường đã tìm cách hiểu được hành vi
của người tiêu dùng và đã tổng hợp những phát hiện của mình trong các mô hình
hành vi người tiêu dùng khác nhau. Mục tiêu của mô hình hành vi người tiêu dùng
là giúp người bán hiểu được người tiêu dùng đưa ra một quyết định mua hàng như
thế nào. Nếu đã hiểu được quá trình này, người bán có thể tìm cách gây ảnh hưởng
đến quyết định của người mua, ví dụ như thông qua quảng cáo hay các chương
trình xúc tiến đặc biệt.


vươn tới một khối lượng lớn những người mua tiềm năng trên toàn thế giới và
nhiều khi rẻ hơn so với quảng cáo qua báo chí, đài phát thanh và truyền hình.
Quảng cáo trên các phương tiện thông tin này đắt hơn vì chúng được xác định bởi
không gian chiếm dụng (ví dụ như đối với quảng cáo trên báo chí), số ngày (lần)
đăng, và vào số trạm địa phương và quốc gia và các báo chí đăng quảng cáo.
Quảng cáo Internet có thể tương tác và nhằm vào các nhóm lợi ích cụ thể và/hay
đến các cá nhân. Cuối cùng, việc sử dụng bản thân Internet đang tăng rất nhanh, và
điều đó làm cho việc quảng cáo trên Internet, nơi mà số khán giả đang tăng lên,
càng trở nên hiệu quả. Quảng cáo thư điện tử. Thư điện tử đang nổi lên như là một kênh quảng cáo và
marketing trên Internet, cho phép thực hiện một cách hiệu quả chi phí và tốc độ trả
lời nhanh hơn và tốt hơn so với các kênh quảng cáo khác (ví dụ như báo chí). Các
nhà nghiên cứu thị trường phát triển hay mua một danh sách các địa chỉ thư điện
tử, đưa chúng vào trong cơ sở dữ liệu khách hàng, và sau đó gửi quảng cáo thông
qua thư điện tử. Các catalog và sổ tay điện tử. Các catalog truyền thống (in trên
giấy) trước kia là một phương tiện quảng cáo trong một thời gian rất dài. Gần đây,
các catalog điện tử đã trở nên phổ biến hơn.

Chính phủ điện tử

Khi thương mại điện tử phát triển chín muồi và các công cụ và ứng dụng của nó
được hoàn thiện hơn thì có sự chú ý nhiều hơn đến việc sử dụng nó để cải thiện
hoạt động của các tổ chức công cộng và các cấp chính quyền. Chính phủ điện tử là
việc sử dụng công nghệ Internet nói chung và đặc biệt là thương mại điện tử để
đưa thông tin và các dịch vụ công cộng đến cho người dân, các đối tác kinh doanh
và các nhà cung cấp, và những người làm việc trong ngành công cộng. Đó cũng là
một cách hiệu quả để tiến hành các giao dịch kinh doanh với các công dân và các
doanh nghiệp và trong nội bộ các cơ quan chính phủ.

Tốc độ mà chính phủ chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 6 thay đổi nhưng
thường thì sự chuyển đổi là rất chậm. Deloitte and Touche thấy rằng trong năm
2000, phần lớn các chính phủ vẫn ở giai đoạn 1. Các vấn đề triển khai liên quan
đến việc chuyển sang chính phủ điện tử tuỳ thuộc vào chính phủ đang ở trong giai
đoạn nào trong 6 giai đoạn phát triển trên, vào kế hoạch chuyển sang các giai đoạn
cao hơn, và vào nguồn vốn sẵn có. Ngoài ra, các chính phủ quan tâm đến việc duy
trì an ninh và tính riêng tư (bảo mật) của các dữ liệu của công chúng, vì vậy, cần
dành thời gian và sức lực để đảm bảo vấn đề an ninh. Nói chung, việc triển khai
G2B dễ dàng hơn so với việc triển khai G2C. ở một số nước, ví dụ như Hong
Kong, việc triển khai G2B được hợp đồng với một công ty tư nhân và công ty này
phải gánh chịu toàn bộ chi phí xây dựng ban đầu và đổi lại có thể thu phí giao dịch
trong tương lai. Vì các dịch vụ G2B tiết kiệm chi phí lớn, chúng có thể là cách tốt
để bắt đầu một sáng kiến thương mại điện tử của chính phủ điện tử.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status