TCNCYH 26 (6) - 2003
ảnh hởng của thổ phục linh (Smilax glabra Roxb)
trên nồng độ glucose và insulin máu ở chuột cống
đái tháo đờng di truyền chủng GK
và trên đảo tụy cô lập
Nguyễn Ngọc Xuân
1
, Đào Văn Phan
2
,
Ostenson C G.
3
, Nguyễn Khánh Hòa
2
1
Trờng Đại học Tây nguyên
2
Bộ môn Dợc lý trờng Đại học Y Hà Nội
3
Khoa Y học phân tử viện Karolinska Thụy Điển
Dạng bột đông khô chiết ethanol của thổ phục linh (SG) liều 100mg/kg- tiêm màng
bụng có tác dụng hạ đờng huyết (HĐH) trên chuột cống đái tháo đờng di truyền chủng
GK. Tác dụng HĐH mạnh nhất vào giờ thứ 4 sau tiêm (-27,46%; p<0,01) và kéo dài trên 6
giờ. Cùng với tác dụng HĐH, mức insulin máu cũng giảm mạnh ở giờ thứ 2 và giờ thứ 4 (-
42,74%) sau tiêm. SG với nồng độ 2mg và 4mg/1ml không làm ảnh hởng đến sự bài tiết
insulin của đảo tụy cô lập.
Tác dụng HĐH của SG là làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin.
I. Đặt vấn đề
2. Phơng pháp nghiên cứu.
2.1. Đánh giá tác dụng của SG trên
nồng độ glucose và insulin máu ở chuột
cống ĐTĐ di truyền chủng GK và chuột
cống bình thờng chủng Wistar.
Với mỗi chủng chuột, dùng 2 lô, lô 1
tmb NaCl 0,9% (dùng làm lô chứng), lô 2
tmb SG 100mg/kg. Xác định đồng thời
nồng độ glucose và insulin máu vào thời
điểm trớc lúc tiêm thuốc (0 giờ), 2, 4 (và 6
giờ chỉ riêng với glucose) sau tiêm thuốc.
17
TCNCYH 26 (6) - 2003
2.2. So sánh mức insulin máu giữa
chuột cống ĐTĐ GK và chuột cống chủng
Wistar.
Các chuột Wistar và chuột ĐTĐ chủng
GK đợc lấy máu ở 3 thời điểm khác nhau
để xác định nồng độ insulin máu.
2.3. Đánh giá ảnh hởng của SG trên
bài tiết insulin của đảo tụy cô lập.
Chuột cống chủng Wistar khỏe mạnh,
cân nặng 180-200g, Sau khi giết(bằng
cách cho thở khí CO
2
10 phút), bóc tách
tuyến tụy, tách các đảo tụy và nuôi cấy
theo phơng pháp Langerhans [6].
Các đảo tụy đã cô lập đợc chia thành
SG100mg
199,26 37,98 145,44 21,42
(-20,86%)
(1)
*
(-27,00%)
(2)
119,34 23,4
(-27,46%)
(1)
**
(-40,10%)
(-2)
190,62 42,3
(-20,13%)
(1)
(-4,33%)
(2)
* P< 0,05, **P<0,01 (giá trị p so với chứng cùng thời điểm);
(1)
% hạ đờng huyết so với
chứng ở cùng thời điểm,
(2)
% HĐH so với lúc cha tiêm thuốc (0 giờ).
Nhận xét: SG 100mg-tmb tác dụng HĐH xuất hiện ở giờ thứ 2 mạnh nhất giờ thứ 4 và
kéo dài trên 6 giờ.
mức insulin giảm so với lúc cha tiêm thuốc (0 giờ).
Nhận xét: SG 100mg/kg-tmb, làm hạ thấp mức insulin máu, mức insulin hạ mạnh ở giờ
thứ 2 và giờ thứ 4.
3. ảnh hởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột Wistar.
Bảng 3. ảnh hởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột Wistar (n=5/lô).
Nồng độ glucose máu sau tiêm thuốc (mg/dl)
0 giờ 2 giờ 4 giờ 6 giờ
Chứng
94,84 1,98 102,96 5,14 102,6 4,86 92,52 3,49
SG 100mg-
tmb
95,04 2,66
84,24 6,66
(- 18,18%)
(1)
*
(-11,36%)
(2)
79,2 6,3
(- 22,80%)
(1)
**
(-16,66%)
(2)
80,64 8,64
(- 12,84%)
(1)
(-15,15%)
TCNCYH 26 (6) - 2003
Bảng 5. So sánh mức insulin máu ở chuột cống GK và chuột Wistar (n=5/lô).
Nồng độ insulin máu (mic UI/ml)
0 giờ 2 giờ 4 giờ
Chuột Wistar
12,19 4,58 16,14 4,28 11,42 3,25
Chuột GK
26,8111,34
*
30,5911,09
*
26,15 7,75
*
*
p<0,05 (giá trị p so giữa chuột GK và
chuột Wistar)
Nhận xét. Chuột GK có nồng độ insulin
máu cao xấp xỉ gấp 2 lần chuột Wistar.
6. Đánh giá ảnh hởng của SG trên
bài tiết insulin của đảo tụy cô lập.
Các đảo tụy đã cô lập đợc ủ với SG (2
hoặc 4mg/ml) hoặc tolbutamid 100àM/l.
Sau 1 giờ ủ, xác định nồng độ insulin có
trong dịch ủ. Kết quả đợc trình bày ở
bảng 6.
Bảng 6. ảnh hởng của SG trên bài tiết
insulin ở đảo tụy cô lập.
Nồng độ insulin máu
dẫn đến sự khác biệt về ảnh hởng của
SG đối với insulin trên 2 giống chuột trên ?
Về lý thuyết, để có tác dụng HĐH, SG
có thể kích thích tế bào tụy bài tiết insulin
hoặc/và tăng nhậy cảm của mô đích với
insulin, 2 khả năng này đều có thể xẩy ra.
Khả năng kích thích bài tiết insulin đã
đợc loại trừ vì cả trên chuột ĐTĐ GK và
chuột Wistar mức insulin máu sau tiêm SG
đều không tăng; mặt khác kết quả nuôi
cấy đảo tụy cho thấy không có sự khác
biệt mức bài tiết insulin giữa lô trị và lô
chứng (bảng 6).
Nh vậy chỉ còn khả năng là SG đã
làm tăng nhậy cảm của mô đích với insulin,
hay nói cách khác, SG giúp insulin gắn
vào receptor nhiều hơn và phát huy tác
dụng sinh học mạnh hơn. Chính khả năng
này giúp lý giải sự khác biệt tác dụng của
SG trên mức insulin máu giữa chuột ĐTĐ
GK và chuột Wistar. Chuột ĐTĐ GK với
đặc điểm rối loạn bài tiết insulin và kháng
insulin [3, 4], còn chuột Wistar không có
biểu hiện kháng insulin. Với cơ chế tăng
nhậy cảm của insulin với mô đích, SG đã
giúp insulin gắn vào receptor nhiều hơn và
kết quả là mức insulin ở chuột GK hạ thấp
(giảm 42,74% so với chứng); còn ở chuột
Wistar thì mức insulin máu không đổi
(bảng 4). Để khẳng định đặc điểm kháng
1. Đào Văn Phan, Nguyễn Ngọc
Xuân, Nguyễn Duy Thuần (2000), Bớc
đầu tìm hiểu cơ chế tác dụng hạ đờng
huyết của thổ phục linh (Smilax glabra
Roxb-Liliaceae). Tạp chí nghiên cứu Y học,
Vol 11, N
0
1, Bộ Y tế, Đại học Y Hà Nội, Tr.
37-42.
2. Nguyễn Ngọc Xuân, Đào Văn
Phan, Nguyễn Duy Thuần (2000), Bớc
đầu nghiên cứu tác dụng hạ đờng huyết
của thổ phục linh (Smilax glabra Roxb)
trên chuột nhắt. Tạp chí Dợc lý học, số 4,
Tr. 12-13.
3. Amel Guenifi (1999), Mechanisms
of impaired insulin release in type-2
diabetes: Studies in the GK rat model,
Stockholm.
4. Goto Y, Kakizaki M, Masaki N.
(1975), Spontaneous diabetes produced
by repeated selective breeding of normal
Wistar rats. Proc. Japan Acad, Pp. 80-85.
5. Herbert V., Lau K S, Gottlier CW,
Bleicher S J. (1965), Coated charcoal
immunoassay of insulin. j. Clin. Endocrinol.
Metab. Pp. 1375 - 1384.
6. Lacy PE, Kostianovsky M. (1967),
Method for the isolation of intac islets of
Langerhans from the rat pancrease.