TCNCYH 26 (6) - 2003
Tìm hiểu sự hiểu biết và thực hành chăm sóc
trớc sinh của phụ nữ mang thai xã Hơng Long,
thành phố Huế
Đinh Thanh Huề, Dơng Thu Hơng
Trờng Đại học Y Huế
áp dụng phơng pháp nghiên cứu ngang mô tả trên mẫu ngẫu nhiên những phụ nữ
mang thai xã Hơng Long thành phố Huế cho thấy:
- 22,0% thai phụ có mức hiểu biết khá, 29,5% có mức hiểu biết trung bình, và 48,5% có
mức hiểu biết kém về các nội dung cần thiết của chăm sóc trớc sinh;
- 72,0% thai phụ chủ động mang thai; 60,6% đi khám thai đầy đủ; 22,7% có khám thai
trong 3 tháng đầu; 83,3% tiêm phòng uốn ván đủ liều; 14,4% có uống viên sắt/axit folic;
60,6% khi mang thai ăn nhiều hơn bình thờng; 78,0% lao động trung bình hoặc nhẹ khi
mang thai; 43,2% nghỉ trớc sinh 30 ngày; 67,4% thai phụ tăng đủ cân trong thai kỳ;
- Các yếu tố: chủ động mang thai, mức học vấn, mức hiểu biết về chăm sóc trớc sinh
của thai phụ liên quan chặt chẽ đến việc khám thai của họ;
- Tỷ lệ trẻ không bình thờng khi sinh là 18,3%;
- Có mối liên quan giữa tình trạng trẻ lúc sinh với các yếu tố: số lần khám thai, tính chất
lao động, và mức tăng cân trong thai kỳ.
i. Đặt vấn đề
Mỗi lần mang thai và sinh đẻ, tính mạng
của ngời phụ nữ và trẻ sơ sinh luôn bị đe
doạ. Theo WHO, trong 10 năm qua có 6
triệu phụ nữ chết vì biến chứng khi sinh, 76
triệu trẻ sơ sinh chết do sức khỏe của
ngời mẹ kém hay biến chứng sau sinh; ở
Việt Nam, mỗi năm có khoảng 3000 phụ
nữ chết liên quan tới thai nghén và sinh đẻ
TCNCYH 26 (6) - 2003
Loại nghiên cứu: dùng phơng pháp
nghiên cứu mô tả; bằng hai đợt nghiên cứu
ngang (đợt 1: lúc mang thai 3 tháng, đợt
2: sau khi sinh) trên cùng một mẫu;
Loại mẫu sử dụng: mẫu ngẫu nhiên
đơn;
Cỡ mẫu: dùng công thức
()
2
2
1
c
pp
n
=
;
với xác suất 95% có
96,1=
; dự đoán
tỷ lệ thực hành đúng chăm sóc trớc sinh
; chấp nhận
50,0=p 10,0
=
c
; tính đợc
Kém (biết < 50 % các nội
dung)
29
39
64
22,0
29,5
48,5
Tổng 132 100,0
Từ bảng 1 cho thấy: mức hiểu biết về
CSTS nh vậy là thấp.
2. Thực hành CSTS của thai phụ
2.1. Tình trạng chung:
Bảng 2. Tỷ lệ thai phụ thực hành đúng các nội dung CSTS
Thực hành đúng về: Tần số Tỷ lệ % 95%CI
Chủ động mang thai
Số lần khám thai
Khám thai trong 3 tháng đầu
Tiêm phòng uốn ván
Uống viên sắt/axit folic
Chế độ ăn uống
Chế độ lao động
Thời gian nghỉ trớc sinh
95
80
Mức học vấn Số đối tợng Số khám đủ Tỷ lệ % khám đủ p
Cấp I
Cấp II
Cấp III
50
61
21
23
39
18
46,0
63,9
85,7
Tổng 132 80 60,6 p < 0,01
Bảng 3 thấy: có mối liên quan rất chặt chẽ giữa mức học vấn và việc khám thai đầy đủ;
Mức hiểu biết về CSTS:
Bảng 4. Phân bố tỷ lệ khám thai đầy đủ theo mức hiểu biết về CSTS của thai phụ
Mức hiểu biết về CSTS Số đối tợng Số khám đủ Tỷ lệ % khám đủ p
Khá
Trung bình
Kém
29
39
64
23
24
33
9kg
Không nhớ cân khi bắt đầu mang thai
89
28
15
67,4
21,2
11,4
Tổng 132 100,0 143
TCNCYH 26 (6) - 2003
3. Liên quan giữa thực hành chăm sóc trớc sinh với kết quả sinh
3.1. Tình trạng trẻ lúc sinh:
Bảng 7. Tỷ lệ trẻ có tình trạng lúc sinh không bình thờng (n = 131)
Tình trạng Số trẻ Tỷ lệ % 95%CI
Nhẹ cân
Non tháng
Ngạt
11
4
9
8,4
3,0
6,9
4,3 - 14,5
0,8 - 7,6
3,2 - 12,6
Tổng 24 18,3 12,1 - 26,0
nghiên cứu
Số trẻ không bình
thờng lúc sinh
Tỷ lệ % trẻ không
bình thờng lúc sinh
p
Nặng
Trung bình, nhẹ
9
15
29
102
31,0
14,7
Tổng 24 131 18,3
p < 0,05
Từ bảng 9 thấy: có mối liên quan giữa tính chất lao động của mẹ khi mang thai và tình
trạng trẻ lúc sinh.
Mức tăng cân trong thai kì của mẹ:
Bảng 10. Phân bố tỷ lệ trẻ không bình thờng khi sinh theo mức tăng cân/thai kì của mẹ
Mức tăng cân
trong thai kì
Số trẻ đợc
nghiên cứu
Số trẻ không bình
thờng lúc sinh
Tỷ lệ % trẻ không bình
thờng lúc sinh
p
2. Thực hành CSTS của thai phụ:
Chủ động mang thai: trong nghiên cứu
này thấy 72,0% đối tợng nghiên cứu chủ
động mang thai, phần còn lại (28,0%)
mang thai ngoài ý muốn; tỷ lệ này không
khác số liệu của WHO và của một số tác
giả khác [8]. Vì thiếu hiểu biết về cách
tránh thai nên mới có thai ngoài ý muốn.
Khi đã ngoài ý muốn, không trông đợi thì
sẽ thờ ơ, đôi khi bực bội với chính bào thai
của mình; và dẫn tới giảm bớt, hoặc hoàn
toàn không quan tâm tới CSTS.
Số lần khám thai: trong nghiên cứu
này thấy 60,6% thai phụ đợc khám thai ít
nhất 3 lần trong một thai kỳ, cao hơn so với
nghiên cứu ở Thuỷ Vân (44,1%), nhng
thấp hơn so với toàn quốc (80%) [4].
Khám thai trong 3 tháng đầu: chỉ có
22,7% thai phụ có khám thai trong 3 tháng
đầu, tỷ lệ này quá thấp. ở các tỉnh có dự
án "Làm mẹ an toàn" của Bộ Y tế tỷ lệ này
cao hơn rất nhiều 64,4% [3]; ở California
năm 1999 có 95% bà mẹ khám thai trong
3 tháng đầu [5].
Tiêm phòng uốn ván: Tỷ lệ thai
phụ tiêm phòng uốn ván đủ liều trong
nghiên cứu này là 83,3%, không khác so
với số liệu của các tác giả khác [4]; lý
tởng thì tỷ lệ này phải đạt 100%.
Uống viên sắt/axit folic bổ sung: Trong
quan tới nhiều vấn đề sức khỏe; mức học
vấn càng cao càng thuận lợi cho mọi nhận
thức, và dẫn tới hành vi đúng đắn. Bảng 3
cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa
145
TCNCYH 26 (6) - 2003
mức học vấn của thai phụ và việc khám
thai, nhóm có mức học vấn càng cao thì tỷ
lệ khám thai đầy đủ càng cao; một số tác
giả [6] cũng nêu kết luận tơng tự; nhng
một số tác giả khác [8] lại thấy không có
mối liên quan này.
Mức hiểu biết về CSTS của thai phụ:
Nhận thức đầy đủ sẽ có hành vi đúng đắn;
nhận thức sai đã ngăn cản ngời phụ nữ
sử dụng sự chăm sóc có thể cứu lấy cuộc
sống của họ, và chậm trễ trong việc tìm
kiếm sự chăm sóc là do thiếu hụt về kiến
thức [6]. Bảng 4 cho thấy có mối liên quan
chặt chẽ giữa mức hiểu biết về CSTS của
thai phụ và việc khám thai, tỷ lệ khám thai
đầy đủ tăng theo sự tăng của mức hiểu
biết, điều này cũng đã đợc một số tác giả
[7] đề cập tới;
Chủ động mang thai: Bảng 5 cho thấy
nhóm bà mẹ chủ động mang thai có tỷ lệ
khám thai đầy đủ (66,3 %) cao hơn rõ rệt
so với nhóm mang thai ngoài ý muốn (45,9
%).
Huế năm 2001 là 8,5% [1], cao hơn rõ rệt
so với số liệu của chúng tôi; điều này cũng
hợp lý vì bệnh viện tuyến trung ơng
thờng phải nhận nhiều hơn các trờng
hợp đợc tiên lợng là không bình thờng
khi sinh.
Liên quan giữa việc khám thai trớc
sinh với tình trạng trẻ lúc sinh: Từ bảng 8.
thấy: có mối liên quan giữa số lần khám
thai của mẹ với tỷ lệ trẻ không bình thờng
lúc sinh; mối liên quan này đã đợc mô tả
nhiều trong các nghiên cứu [7] trong và
ngoài nớc.
Liên quan giữa mức tăng cân của thai
phụ trong thai kỳ và tình trạng trẻ lúc sinh:
Tăng cân không đủ trong thai kì sẽ liên
quan tất yếu tới tình trạng trẻ lúc sinh;
trong nghiên cứu này cũng thấy rõ điều đó:
nhóm bà mẹ tăng đủ cân có tỷ lệ con
không bình thờng lúc sinh thấp hơn rõ rệt
so với nhóm bà mẹ tăng không đủ cân;
nhiều tác giả cũng đã nêu lên điều này.
v. KếT LUậN
Từ các kết quả nghiên cứu trên đây, có
thể có các kết luận sau:
1. Sự hiểu biết về chăm sóc trớc sinh:
22,0% thai phụ có mức hiểu biết khá,
29,5% có mức hiểu biết trung bình, và
học vấn, mức hiểu biết về chăm sóc trớc
sinh của thai phụ liên quan chặt chẽ đến
việc khám thai của họ.
6. Magadi M.A., Madise N.J.,
Rodrigues R.N. (2000), "Frequency and
timing of antenatal care in Kenya:
explaining the variations between women
of different communities", Soc Sci Med, 51
(4), pp. 551-61. (MEDLINE)
- Tỷ lệ trẻ không bình thờng khi sinh là
18,3%;
- Có mối liên quan giữa tình trạng trẻ lúc
sinh với các yếu tố: số lần khám thai, tính
chất lao động, và mức tăng cân trong thai
kỳ.
7. Prozialeck L.L., Pesole L. (2000),
"Performing a program evaluation in a
family case management program:
determining outcomes for low birthweight
deliveries", Public Health Nurs, 17 (3), pp.
195-201. (MEDLINE)
TàI LIệU THAM KHảO
1. Bộ Y tế (2002), Chuẩn quốc gia về
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
tr. 28 -39.
2. Huỳnh Thị Kim Chi (1999), Những
ảnh hởng trên việc thực hiện chăm sóc
trớc sanh ở vùng nông thôn tỉnh Sông
Bé", Hội nghị Phụ Sản toàn quốc, tr. 38.
8. World Health Organization (2001),
148