243
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG GÀ ĐẾN KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NĂNG LƯỢNG
TRAO ĐỔI CÓ HIỆU CHỈNH NITƠ (ME
N
) TRONG THỨC ĂN
Phạm Tấn Nhã
1
, Hồ Trung Thông
2
, Nguyễn Văn Chào
2
1
Trường Đại học Cần Thơ
2
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tóm tắt. Nghiên cứu này được thiết kế nhằm đánh giá ảnh hưởng của giống gà đến
kết quả tính giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn. Thí nghiệm được tiến hành
trên 48 con gà thuộc 3 giống gà Lương Phượng, Cobb 500 và Sao. Kết quả cho
thấy có sự sai khác đáng kể về lượng nitơ tích lũy từ thức ăn ở 3 giống gà thí
nghiệm. Nitơ tích lũy cao nhất ở giống gà Sao (16,94 g/kg DM) và thấp nhất ở gà
Lương Phượng (12,04 g/kg DM). Có sự ảnh hưởng của giống gà đến lượng nitơ
tích lũy, năng lượng trao đổi chưa hiệu chỉnh nitơ và năng lượng trao đổi đã hiệu
chỉnh nitơ trong thức ăn thí nghiệm. Giá trị năng lượng trao đổi chưa hiệu chỉnh
nitơ, năng lượng trao đổi đã hiệu chỉnh nitơ đều cao nhất ở giống gà Sao và thấp
về giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn cho gia cầm ở nước ta trong mối quan hệ
phụ thuộc nhóm giống, nghiên cứu này đã được thực hiện.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Động vật và thức ăn thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên gà thuộc 3 giống khác nhau: gà Lương Phượng,
gà Cobb 500 và gà Sao. Tổng số 48 con gà thí nghiệm ở 5 tuần tuổi, có trọng lượng
đồng đều ở mỗi giống được bố trí ngẫu nhiên vào 24 cũi trao đổi chất, tỉ lệ trống/mái ở
mỗi cũi là 1/1. Số lần lặp lại cho mỗi giống là 8 (bảng 1).
Bảng 1. Một số thông số bố trí thí nghiệm
Giống gà
Thông số
Lương Phượng Cobb 500 Sao
Trọng lượng gà (g/con) 645,75
a
± 1,00 654,56
b
± 1,86 347,81
c
± 0,74
Số gà/ô 2 2 2
Tỉ lệ trống/mái 1/1 1/1 1/1
2Số lần lặp lại 8 8 8
Chế độ cho ăn Tự do Tự do Tự do
Phương pháp Gián tiếp Gián tiếp Gián tiếp
Chất chỉ thị AIA AIA AIA
Khẩu phần thí nghiệm được thiết kế đáp ứng đầy đủ nhu cầu của gà thịt theo
khuyến cáo của NRC (1994) và TCVN (1994) (Viện Chăn nuôi, 2001) (bảng 2). Celite
được bổ sung vào khẩu phần thí nghiệm với nồng độ 1,5% để làm tăng nồng độ khoáng
không tan trong acid chlorhydric (AIA) trong thức ăn. Để đảm bảo độ chính xác của kết
quả thí nghiệm, chất lượng thức ăn được giữ nguyên trong suốt thời gian thí nghiệm.
Thí nghiệm chính thức được tiến hành trong 7 ngày trong đó 4 ngày đầu tiên là
giai đoạn nuôi thích nghi và 3 ngày sau là giai đoạn thu mẫu. Gà được nuôi bằng một
khẩu phần với chế độ ăn tự do trong suốt quá trình thí nghiệm. Trong giai đoạn thu mẫu,
chất thải ở từng ô thí nghiệm được thu 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 16 giờ. Chất thải
được thu riêng theo từng cũi trao đổi chất, cho vào các hộp nhựa, vặn chặt nắp và bảo
quản ngay ở nhiệt độ
-20
0
C. Kết thúc giai đoạn thu mẫu, mẫu chất thải được đem rã
đông. Các mẫu chất thải của gà ở cùng một cũi trao đổi chất đã thu được trong 3 ngày
được trộn đều và bảo quản ở nhiệt độ
-20
0
C cho đến khi phân tích.
Bảng 3. Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm
TT Thành phần dinh dưỡng Đơn vị tính Giá trị
1 Vật chất khô (DM) % 92,29
2 Năng lượng tổng số (GE) cal/kg 4064,83
3 Protein thô (CP) % NT 21,30
4
Khoáng không tan trong acid chlorhydric
(AIA)
% DM 1,99
5 Khoáng tổng số (Ash) % NT 6,06
6 Xơ thô (CF) % NT 3,36 246
Wf: Trọng lượng cốc và tro (g)
We: Trọng lượng cốc (g)
Ws: Trọng lượng của mẫu đã sấy khô (g)
Giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến (ME) của các khẩu phần thí nghiệm được
tính theo các công thức sau: ME
d
= GE
d
– GE
e
× AIA
d
/AIA
e
(Scott, Hall, 1998). Trong
đó, ME
d
là giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến của khẩu phần (kcal/kg DM), GE
d
là
năng lượng tổng số của khẩu phần (kcal/kg DM), GE
e
là giá trị năng lượng tổng số của
chất thải (kcal/kg DM), AIA
d
là hàm lượng khoáng không tan trong acid trong khẩu
phần (%DM), AIA
e
là hàm lượng khoáng không tan trong acid trong chất thải (% DM).
Giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến được hiệu chỉnh bằng lượng nitơ tích
f
=
EV
bd
+ (EV
td
- EV
bd
)/k. Trong đó, EV
f
là giá trị ME
N
(kcal/kg DM) hoặc tỷ lệ tiêu hóa
chất dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (%DM); EV
td
và EV
bd
lần lượt là giá trị ME
N
(kcal/kg DM) hoặc tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng (%DM) của khẩu phần chứa thức ăn
thí nghiệm và khẩu phần cơ sở; k là tỷ lệ thức ăn thí nghiệm trong khẩu phần cơ sở.
2.4. Xử lý thống kê
Số liệu thí nghiệm được xử lý sơ bộ bằng Microsoft Excel và phân tích
thống kê theo phương pháp thống kê sinh vật học trên phần mềm SPSS 15.0. Kết
quả thí nghiệm được trình bày trong các bảng số liệu là giá trị trung bình ± sai số
của số trung bình (SEM). Tukey test được sử dụng để so sánh giá trị trung bình với
độ tin cậy 95%. Các giá trị trung bình được coi là khác nhau có ý nghĩa thống kê
khi p 0,05.
3. Kết quả và thảo luận
± 0,54
GE đào thải (cal/g DM) 3338,65
a
± 38,99 3278,83
a
± 22,15
3260,18
a
± 9,20
(Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống nhau thì sự sai
khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05).
Kết quả ở bảng 4 cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) về
lượng nitơ tích lũy ở 3 giống gà thí nghiệm. Lượng nitơ tích lũy từ thức ăn cao nhất
ở giống gà Sao (16,95 g/kg DM), và thấp nhất ở giống gà Lương Phượng (12,04
g/kg DM). Khoảng chênh lệch về giá trị nitơ tích lũy trong thức ăn thí nghiệm ở 2 248
giống gà Sao và gà Cobb 500 là 18,94%. Trong khi đó sai khác về giá trị nitơ tích lũy
giữa gà Sao so với gà Lương Phượng là 40,78%. Sự sai khác về giá trị nitơ tích lũy giữa
Cobb 500 và Lương Phượng là 18,35%.
Kết quả xác định giá trị ME và ME
N
của khẩu phần ở 3 giống gà Lương Phượng, gà
Coob 500 và gà Sao được trình bày ở bảng 5. Các giá trị ME và ME
N
của khẩu phần thí nghiệm
khi sử dụng 3 giống gà khác nhau, có xu hướng cao nhất khi sử dụng thức ăn nuôi gà Sao
a
± 23,13 3011,41
b
± 16,23 3086,39
b
± 8,49
MJ/kg DM 12,37
a
± 0,09 12,60
b
± 0,07 12,91
c
± 0,04
Kcal/kg NT 2728,96
a
± 21,34 2779,23
b
± 14,98 2848,42
c
± 7,83
ME
N
MJ/kg NT 11,41
a
± 0,09 11,62
b
± 0,06 11,91
c
± 0,03
/ME
(%)
Lương
Phượng
3055,89
a
± 23,29 2956,94
b
± 23,13 98,95 ± 4,17 96,76
Coob 500 3128,58
a
± 18,98 3011,41
b
± 16,23 117,17 ± 3,14 96,25
Sao 3225,74
a
± 11,80 3086,39
b
± 8,49 139,35 ± 4,45 95,68
(Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống nhau thì sự sai
khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.)
Sự sai khác giữa giá trị năng lượng trao đổi (ME) và năng lượng trao đổi có
hiệu chỉnh nitơ (ME
N
) được thể hiện ở bảng 6. Kết quả cho thấy có sự chênh lệch
đáng kể giữa giá trị ME và ME
N
(p < 0,05). Với các giống gà khác nhau, giá trị ME
N
1. AOAC, Official methods of analytical analysis, Fifteenth edition. Published by the
Associatin of Official Analytical Chemists, Inc., Arlington-Virginia-USA. (1990), 1223.
2. Keulen J. Van, Young B. A., Evaluation of acid-insoluble ash as a natural marker in
ruminant digestibility studies, Journal of Animal Science 78 (1977), 1757-1762.
3. Lã Văn Kính, Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn gia súc
Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh, 2003.
4. Lammers P.J., Kerr B.J., Honeyman M.S., Stalder K., Dozier III W.A., Weber T.E.,
Kidd M.T., Bregendahl K., Nitrogen-corrected apparent metabolizable energy value of
crude glycerol for laying hens, Poultry Science 87 (2008), 104-107.
5. Lopez G., Leeson S., Relevance of nitrogen correction for assessment of metabolizable
energy with broilers to forty-nine days of age, Poultry Science 86 (2007), 1696-1704.
6. NRC, Nutrition requiremments of poultry, Ninth revised edition. National Academy
Press, Washington D.C, 1994.
7. Oryschak M, Korver D, Zuidhof M, Meng X, Beltranena E., Comparative feeding value
of extruded and nonextruded wheat and corn distillers dried grains with solubles for
broilers, Poultry Science 89 (2010), 2183-2196.
8. Robbins D. H., Firman J. D., Evaluation of the metabolizable energy of meat and bone
meal for chickens and turkeys by various methods, International Journal of Poultry
Science 4 (9), (2005), 633-638.
9. Scott T. A., Hall J. W., Using acid insoluble ash marker ratio (diet : digesta) to predict
digestibility of wheat and barley metabolizable energy and nitrogen retention in broiler
chicks, Poultry Science 77 (1998), 674-679.
10. Tôn Thất Sơn, Nguyễn Thị Mai, Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) của một số
giống đỗ tương làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp, Tạp chí Khoa
học Kỹ thuật Nông nghiệp tập V, số 4 (2007), 33-37.
11. Villamide MJ, Fuente JM, Perez de Ayala P, Flores A., Energy evaluation of eight
barley cultivars for poultry: Effect of dietary enzyme addition, Poultry Science 76
(1997), 834-840.
nitrogen retention. Nitrogen retention in Guineafowl chickens reached the highest
(16,94g/kg DM), and the lowest one in Luong Phuong (12,04 g/kg DM). The ME
and ME
N
values of the diet fed to different breeds were significant (p > 0,05). The
highest ME
N
value was observed from Guineafowl (3.086,39
Kcal/kg DM) whereas
the lowest one was (2.956,94
Kcal/kg DM). The experimental results also indicated
that the ME
N
values were noticeably lower than the estimated values in feed tables
of Vietnam based on regression method imported from other countries (from 14,47
to 16,28% lower). Therefore, feed tables for poultry for Vietnam should be
developed from in vivo studies in conditions of Vietnam. The metabolizable energy
in a diet will be different according to breeds of chicken. Therefore, breeds should
be taken into account in feed formulation.
Keywords: Chicken breeds, metabolizable energy, nitrogen retention.