Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
LỜI NÓI ĐẦU
Mỗi một quốc gia không thể tự mình phát triển mà không cần đến
những mối liên hệ với bên ngoài. Vì vậy hội nhập khu vực và thế giới là một
tất yếu với Việt Nam và bất kỳ quốc gia nào. Một quốc gia sẽ giảm được
nhiều rủi ro khi hội nhập nếu quốc gia đó nhận thức đúng đắn về khả năng và
vị thế của mình trong tương quan so sánh với các quốc gia khác.
Là một quốc gia đang phát triển với một nến kinh tế đang trong giai
đoạn chuyển đổi từ kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường có sựđiều tiết của
Nhà nước, Việt Nam có rất nhiều lợi thế khi đang có những điều kiện thuận
lợi mà nhiều quốc gia đang phát triển khác không có, hơn nữa, nhận thức
rõđược xu thế phát triển của thời đại. Có thể nói khu vực ASEAN là một khu
vực rất năng động- theo nhưđánh giá của nhiều nhà nghiên cứu- với một tốc
độ phát triển đáng kinh ngạc khoảng từ 5-6% mỗi năm. Nguồn đầu tư từ bên
ngoài vào cũng rất lớn, trong thời gian qua, các nước này đã thu hút được
60% tổng luồng vốn ngắn hạn vào các nước đang phát triển. Việt Nam có lợi
ích rất lớn khi cùng nằm trong khu vực này.
Việc tham gia các khối liên minh khu vực và thế giới là xu hướng
chung của thời đại. Trong những mối liên kết đó, mỗi quốc gia đều có những
cơ hội đạt được những lợi ích to lớn và họ chỉ tham gia khi họ thấy được
những cơ hội đó. Tuy vậy, bất kỳ một sự lựa chọn nào cũng có hai mặt của nó.
Đi đôi với cơ hội luôn là những thách thức đặt ra và phải đương đầu với nó.
Một cơ thể vững mạnh sẽ chống chịu được những tác động mạnh mẽ, và
ngược lại, nếu yếu sẽ thất bại nặng nề. Việc Việt Nam tham gia ASEAN là
bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới. Sự hội nhập từng
bước vào nền kinh tế khu vực sẽ tạo cho Việt Nam sự thích ứng dần trong tiến
trình làm quen với những thay đổi. Khu mậu dịch tự do ASEAN-AFTA là một
bước hội nhập mới đối với Việt Nam. Với Việt Nam, một nền kinh tế còn
Khoá luận tốt nghiệp 1 Cao Thị Thuỳ Linh
1
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
lại là chính trị và an ninh. Hợp tác kinh tế ASEAN chỉ thực sự bắt đầu sau hội
nghị thượng đỉnh đầu tiên của ASEAN được tổ chức tại Bali (Indônêxia) vào
tháng 2/ 1976. Năm 1977, các nước thành viên đã ký kết hiệp định ưu đãi
thuế quan PTA tại Manila (Philipin). Những ưu đãi ban đầu dựa trên cơ sở tự
nguyện vàđược thực hiện lần lượt đối với từng sản phẩm, đây có thể nói là
bước đi đầu tiên ( ở trình độ sơ khai) để ASEAN tiến tới việc tự do hoá
thương mại. Tiếp theo, để thúc đẩy hơn nữa quan hệ thượng mại trong nội bộ
kku vực, các nước ASEAN đã có những chính sách thay đổi nhằm mở rộng
các mặt hàng trao đổi theo hiệp định. Sau năm 1980, bên cạnh việc thực hiện
ưu đãi thuế quan đối với từng sản phẩm ở cấp đa phương, một số nước thành
viên ASEAN tiến hành đàm phán song phương tiến hành ưu đãi lẫn nhau. Tại
Khoá luận tốt nghiệp 3 Cao Thị Thuỳ Linh
3
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 (12-1987), các nhà lãnh đạo ASEAN
chủ trương tăng cường những nỗ lực đểđẩy mạnh hợp tác kinh tế. Theo hướng
này, ASEAN đãđưa ra giải pháp trọn gói mới nhằm cải thiện PTA trong giai
đoạn 5 năm từ 1988 đến 1992. Các nước thành viên đã ký nghịđịnh thư về
việc mở rộng các ưu đãi thuế quan như: đưa dần các sản phẩm trong danh
mục loại trừ tạm thời vào PTA giảm yêu cầu về nội dung nguồn gốc từ 50%
xuống
35%…
Tuy thế, truy nguyên đến cùng thì sự ra đời của AFTA là kết quả phức
hợp giữa sự tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài dưới đây:
Về nhân tố bên trong, có thể thấy rằng công nghiệp goá trong 2 thập kỷ
qua đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán lẫn nhau giữa các nền kinh tế
ASEAN. Người ta tính ra rằng vào đầu những năm 90, phần xuất khẩu nội bộ
ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm các nước này đãđạt tới
khoảng 20% vàđiều đó chứng tỏ khuynh hướng kiên kết thương mại khu vực
đã ngày càng trởi nên mạnh mẽ. Các nền kinh tế ASEAN đã mang đặc tính
thương mại quốc tế làđiều kiện căn bản để cải thiện thế thương lượng cạnh
tranh của ASEAN trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - một
nhân tốđược coi làđộng lực tăng trưởng và tạo ra sự năng động của châu Á
trong những năm gần đây, vàthứ hai, nhu cầu cải thiện thế thương lượng cạnh
tranh của ASEAN để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập vào nền
kinh tế thế giới sẽ bắt buộc ASEAN không thể trở thành các nhà bảo hộ mậu
dịch và hơn nữa, ASEAN cần phải mở cửa mạnh mẽ thị trường của mình với
tất cả thành phần còn lại của thế giới chứ không chỉ bó hẹp ở việc xoá bỏ các
hàng rào thương mại trong nội bộ ASEAN.
Như vậy, tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động, AFTA
ra đời như một khái niệm hướng ngoại. Nó trở thành một bộ phận hợp thành
của xu thế tự do thương mại rộng lớn hơn ở khu vực châu Á - Thái Bình
Khoá luận tốt nghiệp 5 Cao Thị Thuỳ Linh
5
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
Dương và toàn cầu. Do đó, tạo lập AFTA cho ASEAN cũng chính là tạo lập
khu vực mở, một sự thích ứng mới cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế
khu vực hoá, toàn cầu hoá.
Chúng ta hoàn toàn có cơ sởđể khẳng định rằng ASEAN sẽ thành công
trong việc tạo lập AFTA. Một là, tự giữa những năm 80, các thành viên của
ASEAN đã lần lượt thực hiện phi tập trung hoá và tự do hoá nền kinh tế của
mình, đã cải thiện đáng kẻ môi trường đầu tư và thương mại và trên cơ sở này.
AFTA sẽđặt từng quốc gia thành viên ASEAN trước những nhu cầu bức thiết
phải tiến hành cải cách nền kinh tế quốc gia nhằm đáp ứng các tiêu chí
hoàđồng khu vực. AFTA sẽ góp phần đán kể vào việc cải thiện hiệu quả sản
xuất cho mỗi quốc gia thành viên với chi phíít hơn. Hay nói đúng hơn, AFTA
sẽ hỗ trợ cho các nền kinh tế này trở thành các nền kinh tế có hiệu suất thông
qua sự phối hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh cơ cấu kinh tế khu vực với cơ cấu
kinh tế nội địa của từng nước. Hai là, tạo ra AFTA, về thực chất, ASEAN sẽ
thực hiện một cam kết chính trịđầy đủ, nghĩa là chính phủ ASEAN không chỉ
thương mại thế giới và buôn bán khu vực là 20%. Mặc dù vậy, ASEAN mong
muốn trở thành một khu vực mậu dịch tự do trong xu thế thương mại toàn
cầu. Hơn nữa, do đặc tính hướng ngoại của các nền kinh tế ASEAN với tỷ lệ
ngoại thương trong GDP chiếm tới 96,4% trong khi các khu vực khác như:
NAFTA chỉ chiếm 19,1% và EU là 46%, các nền kinh tế này sẽ hết sức thuận
lợi trong việc tiến tới tự do hoá. Điều này không thể giúp các quốc gia thành
viên ASEAN đạt được những thoả thuận thương mại lớn cho thị trường khu
vực như EU, NAFTA. Song chíít nó cũng hỗ trợ các quốc gia này đẩy mạnh
tăng trưởng, thay đổi cơ cấu, bổ sung lẫn nhau theo hướng trở thành một thế
lực cạnh tranh cóưu thế so với các thị trường khu vực khác.
Thứ hai, thu hút các nhàđầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc tạo
dựng một khối thị trường thống nhất. Đây là mục tiêu trung tâm của AFTA.
AFTA sẽ tạo ra một nền tảng sản xuất thống nhất trong ASEAN, điều đó cho
phép hợp lý hoá sản xuất, chuyên môn hoá trong nội bộ khu vực và khai thác
Khoá luận tốt nghiệp 7 Cao Thị Thuỳ Linh
7
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
thế mạnh của các nền kinh tế thành viên khác nhau. Có 3 lý do: một là, sự
phân công quốc tếđược đẩy mạnh trong nội bộ ASEAN, nghĩa làđầu tư vào
bất cứ quốc gia nào trong ASEAN đều được hưởng thụ mọi quyền ưu đãi của
AFTA trên thị trường toàn khu vực; hai là, đầu tư trực tiếp vào các nước
ASEAN sẽ tăng vì kết quả chuyển hoàn mậu dịch giữa các quốc gia này tăng
theo AFTA và do đó, sẽ kích thích các công ty Nhật, Mỹ, EU và NICs đầu tư
nhiều hơn để giữ thị trường này thay vì trước đây họ thường cung ứng từ các
cơ sở sản xuất ngoài ASEAN ; ba là, đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) vào
ASEAN tăng nhờ sự lớn mạnh của thị trường nội địa khu vực và nhờ sự lớn
mạnh của chính thị trường nội địa khu vực và nhờ sự tăng lên của sức mua
của thị trường khu vực ASEAN và theo đó, sẽ ngày càng có nhiều dựán đầu
tư trực tiếp nhằm cung cấp sản phẩm cho các thị trường này. Tuy nhiên, đểđạt
được mục tiêu này, các thành viên ASEAN còn phải nỗ lực cải thiện môi
về công nghiệp. Mặc dù các nước ASEAN đang có tình hình phát triển kinh tế
rất đáng khích lệ, nhưng các nước này, trừ Singapo, vẫn là các nước đang phát
triển, do vậy vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư, công nghệ, bí quyết
quản lý của nước ngoài.
Mục tiêu trung tâm của AFTA là thu hút đầu tư nước ngoài. Tính cấp
thiết của mục tiêu này được giải thích bởi sự cạnh tranh tiếp tục tăng lên trong
vấn đề thu hút đầu tư của các nước đang trong quá trình chuyển đổi nhưđã
phân tích ở trên. AFTA sẽ tạo ra một cơ sở sản xuất thống nhất cho ASEAN,
từđó sẽ cho phép việc hợp lý hoá sản xuất, chuyên môn hoá trong nội bộ khu
vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế khác nhau.
Mục tiêu thứ ba có liên quan đến môi trường thương mại không ổn định
và tương đối không thuận lợi mà các nước ASEAN phải đương đầu ở kỷ
nguyên hậu chiến tranh lạnh. Vào thời điểm AFTA ra đời, các nước phát triển
lớn trên thế giới thiên về việc phát triển các thoả thuận thương mại khu vực
(RTA), qua đó thể hiện việc bảo hộ thị trường của mình đối với hàng xuất
Khoá luận tốt nghiệp 9 Cao Thị Thuỳ Linh
9
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
khẩu của các nước Đông Á. Chính vì vậy, AFTA là sựđáp lại khuynh hướng
về việc chủ nghĩa khu vực đang ngày một tăng lên trên thế giới.
Tuy nhiên, AFTA mới chỉ dừng lại ở nấc thang đầu trong hợp tác kinh
tế khu vực. Với sức ép của hợp tác kinh tế khu vực và các tổ chức thương mại
quốc tế khác như APEC, WTO liệu AFTA có bị lu mờ hay không? Đứng trước
tình hình như vậy AFTA buộc phải đẩy nhanh tốc độ thực hiện và có thể
không chỉ dừng lại ở một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự
do, mà trong tương lai có thể sẽ tiếp tục tiến đến tầm cao mới như thị trường
chung, liên minh kinh tế.
1.1.3 Nội dung chính của AFTA.
Theo thoả thuận tại Singapo, AFTA sẽđược thực hiện trong vòng 15
năm (từ 1/1/1993 đến 1/1/2008) và Chương trình về thuế quan ưu đãi có hiệu
là Indônêsia, Malaysia và thấp nhất là Brunei và Singapo, vì vậy để tránh
"sốc" cho một số nước thành viên, chương trình CEPT sẽđược thực hiện theo
lộ trình sau:
- Đối với các mặt hàng trong 15 nhóm sản phẩm nêu trên hiện quy định
mức thuế quan từ 20% trở lên thì mức thuế quan đó sẽđược giảm từ 20% trở
xuống trong thời gian từ 5 đến 8 năm, bắt đầu từ 1/1/1993.
- Việc giảm mức thuế quan tiếp theo từ 20% hoặc thấp hơn xuống từ 0
đến 5% sẽđược thực hiện trong khoảng thời gian 7 năm.
Theo quy định thì các nước thành viên sẽ quyết định các mặt hàng giảm
thuế quan trong hai chương trình trên và phải thông báo cho các nước thành
viên khác biết vào lúc bắt đầu thực hiện chương trình.
Khoá luận tốt nghiệp 11 Cao Thị Thuỳ Linh
11
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
Tuy nhiên, đối với mức thuế quan của một số mặt hàng đãở mức từ 20%
trở xuống (tính đến ngày 1/1/1993), thì các nước thành viên sẽ quyết định
chương trình và thời hạn giảm thuế quan riêng cho các mặt hàng này. Hai
thành viên trở lên có thể tham gia thoả thuận giảm thuế quan nhanh xuống từ
0 đến 5% đối với một số sản phẩm cụ thể, không nhất thiết phụ thuộc vào
chương trình kéo dài 15 năm. Thoả thuận này cũng không đòi hỏi các nước có
mức thuế quan thấp (chẳng hạn như Singapo và Brunei) phải nâng thuế quan
của mình lên ngang hàng với thuế quan của các nước khác.
Điều quan trọng trong thoả thuận thực hiện AFTA là việc các nước thành
viên ASEAN đưa ra công thức 6-x (6-x formula), theo đó những thành viên
nào chưa muốn tham gia vào chương trình giảm thuế quan CEPT ngay từ khi
nó bắt đầu có hiệu lực thì có thể tham gia vào giai đoạn sau.
1.1.4 Cơ chế hoạt động và tiến trình thực hiện AFTA.
1.1.4.1 Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung- CEPT.
Đây là cơ chế chủ yếu trong tiến trình thực hiện AFTA. Các mục tiêu của
AFTA sẽđược thực hiện thông qua một loạt các thoả thuận trong hiệp định
hơn 20% sẽđược giảm xuống còn 0 - 5% vào 1/1/1998.
Kênh giảm thuế bình thường (còn gọi là chương trình giảm thuế quan
theo lịch trình thông thường) sẽáp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp
chế biến còn lại. Đối với những sản phẩm có thuế suất trên 20%, việc giảm
thuế suất của chúng xuống tới 20% vào năm 1998 và sau đó sẽ tiếp tục giảm
xuống còn 0-5% vào năm 2003. Đối với sản phẩm đã có thuế suất bằng hoặc
thấp hơn 20% sẽđược giảm thuếđến 0 -5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc
vào năm 2000. Các danh mục giảm thuế theo kênh thông thương hiện chiếm
tỷ lệ lớn nhất trong tổng số các danh mục hàng hoá tham gia CEPT với 59%.
Khoá luận tốt nghiệp 13 Cao Thị Thuỳ Linh
13
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
Với các tỷ lệ lớn của hai danh mục giảm thuế trong chương trình thực
hiện CEPT (khoảng 93%), các lịch trình giảm thuế này nếu được thực hiện, về
căn bản, chúng đã gần như hoàn thành tỷ suất tự do hoá thương mại nội bộ
ASEAN.
Điều đáng lưu ýởđây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nước thành
viên ASEAN đã cóđề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là
không thống nhất thiết phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy
định rạch ròi cho các suất thuế cần cắt giảm qua từng thời kỳ. Tuỳ theo đặc
điểm cơ cấu thuế của từng nước để xây dựng lịch trình cắt giảm miễn sao đẩy
nhanh được mục đích giảm thuế quan xuống còn 0 - 5% càng sớm càng tốt
trước năm 2003. Hiện nay Hội đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó như một
sáng kiến nhằm đáp ứng các yêu cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá
thương mại ASEAN trước thời hạn đãđịnh. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ
6 tại Hà Nội (15-16/12/1998), với sáng kiến thực hiện các thoả thuận đa
phương và song phương, đã khẳng định một lần nữa việc đẩy nhanh tiến trình
AFTA, chíít là phải hoàn thành AFTA vào các năm 2000 đối với 6 nước thành
viên ASEAN đã kết nạp trước năm 1995.
Cũng xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt của từng quốc gia thành viên,
quốc gia này. Các sản phẩm thuộc danh mục nhạy cảm làđối tượng cần có cơ
chế tự do hoá riêng phù hợp với các quy định của Hiệp định về nông sản của
WTO. Tuy nhiên, mức cam kết giảm thuế của các sản phẩm thuộc danh mục
này ở ASEAN sẽ cao hơn mức mà các nước thành viên đã cam kết tại vòng
đàm phán Urugoay. Đến nay, theo đề xuất của các quốc gia thành viên, những
mặt hàng này đãđược phép kết thúc lịch trình giảm thuếđến 0 -5% vào ngày
1/1/2010.
Như vậy xét một cách tổng quát, cấu trúc CEPT bao gồm 3 danh mục
chính: danh mục giảm thuế, danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế
và danh mục các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến. Tuy nhiên, để vận
dụng đúng hơn về CEPT, các thành viên ASEAN đã thống nhất xây dựng một
Khoá luận tốt nghiệp 15 Cao Thị Thuỳ Linh
15
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
danh mục loại trừ hoàn toàn một số sản phẩm ra khỏi lịch trình gảm thuế theo
CEPT, tức là việc cắt giảm thuế cũng như xoá bỏ các biện pháp phi quan
thuếđối với những sản phẩm này sẽ không được áp dụng theo các quy định
của CEPT. Đó là những sản phẩm cóảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức
xã hội, cuộc sống và sức khoẻ của con người, đến việc bảo tồn các giá trị văn
hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử, khảo cổ…
Khi vận dụng CEPT, chúng ta không được quên một điều kiện bổ sung
cho cơ chế giảm thuế theo CEPT. Đó lànhững nhượng bộ trao đổi giữa các
quốc gia ASEAN khi thực hiện CEPT trên các nguyên tắc cóđi có lại. Nguyên
tắc này bắt buộc các nước thành viên đểđược hưởng các ưu đãi vềthuế quan
của nhau khi xuất khẩu theo CEPT cần đảm bảo đúng các yêu cầu sau đây:
thứ nhất, sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước
xuất khẩu và nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan tối đa là 20%;thứ hai,
sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuếđược Hội đông AFTA thông qua
vàthứ ba, sản phẩm đó phải là những sản phẩm có hàm lượng xuất xứ từ các
nước thành viên ASEAN với ít nhất là 40%. Nếu một sản phẩm đảm bảo được
Philipin 5.571 35 27 62 5.695
Singapo 5.739 - 102 - 5.859
Thailan 9.103 - - 7 9.110
ViệtNam 3.573 984 219 51 4.827
Campuchia 3.114 3.523 134 50 6.821
ASEAN 6 42.939 56 481 160 43.636
%trên tổng
ASEAN 6 98,4 0,13 1,1 0,37 100
ASEAN 4 10.290 9.620 551 210 20.671
%trên tổng
ASEAN 4 49,78 46,54 2.67 1,02 100
Nguồn: Ban thư ký ASEAN. Dẫn theo UBQGHTKTQT: Việt Nam và các tổ chức
quốc tế, NXB.
1.1.4.2 Loại bỏ các hạn chế vềđịnh lượng và hàng rào phi quan thuế.
Đây là cơ chế quan trọng thứ hai được tiến hành đồng thời với thực hiện
chương trình CEPT. Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn
chế về số lượng đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chếđộưu đãi thuế quan
được áp dụng cho các sản phẩm đó. Các hàng rào phi quan thuế khác cũng
sẽđược soá bỏ dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi.
Đây là sự hỗ trợ cực kỳ quan trọng cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là
biện pháp cần thiết, đầu tiên, song đó không phải là biện pháp duy nhất của
chương trình tổng hợp về tự do hoá thương mại. Các kênh giảm thuếđồng
tuyến, danh mục loại trừ tạm thời, danh mục hàng nông nghiệp chưa qua chế
biến… chỉ là những khía cạnh khác nhau cấu thành nên mặt kỹ thuật và cơ
chếđiều hoà thuế quan của chính sách tự do hoá thương mại. Còn một mặt
khác rất quan trọng cấu thành nên sự tác động có tính chất hành chính, pháp
lý giữa các quốc gia trong tiến trình chu chuyển thương mại: như các biện
Khoá luận tốt nghiệp 17 Cao Thị Thuỳ Linh
17
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
cho việc tạo dựng môi trường thương mại. Ví dụ, chính sách trợ giá xuất khẩu
của chính phủ, biện pháp chống bán phá giá…
Dĩ nhiên, việc thống nhất và xoá bỏ các hàng rào phi quan thuế là một
công việc khó khăn vì ba lẽ: một là, các hàng rào phi quan thuếđa dạng và
thường ẩn dấu đằng sau các chính sách (ví dụ chính sách kiểm dịch, chính
sách duy trì hạn ngạch để hỗ trợ công nghiệp, chính sách đánh giá cao giá trị
của đồng bản tệ…); hai là, các bộ luật thuế quan của các nước ASEAN vẫn
còn chưa được điều hoà Việt Nam theo hệ thống điều hoà thuế quan (HS) 6
chữ số, Thái Lan là HS-8, Malaysia và Singapo là HS-9…, và theo đó, cơ
quan hải quan trong từng nước thành viên khó có thểáp dụng đúng thuế, đúng
sản phẩm vàba là, các nguyên tắc về xuất xứ sản phẩm cũng sẽ làm phức tạp
hơn các tình thế xử lý về mặt phi quan thuế theo CEPT khi đầu tư và thương
mại giữa các nước ASEAN đã chuyển hoàn cho nhau một cách thường xuyên,
mật thiết. Để giải quyết các vấn đề này, Phòng thương mại - Công nghiệp
ASEAN có nhiệm vụđẩy nhanh quá trình điều hoà các bộ luật thuế quan với
sựưu tiên trước hết giành cho các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim
ngạch buôn bán nội bộ ASEAN và những sản phẩm thuộc 15 danh mục hàng
hoá tham gia kênh giảm thuế nhanh của CEPT. Hội đồng CEPT đã tán thành
kế hoạch hành động đểđiều hoà về các các tiêu chí luật thuế và phi quan thuế
trên toàn khu vực vào năm 1997.
1.1.4.3 Vấn đề hải quan
Phối hợp hải quan là cơ chế thực hiện của chương trình CEPT khi nó hỗ
trợ các nước thành viên thống nhất biểu thuế quan theo Hệ thống điều hoà
(HS) của nó. Hơn nữa, nó tạo thuận lợi cho việc thực hiện giảm thuế và phi
quan thuế khi hệ thống tính giá hải quan được thống nhất, các luồng xanh ưu
đãi cho hàng hoá theo CEPT của ASEAN được hình thành vàđặc biệt thủ tục
hải quan được thống nhất. Như vây, tiến trình AFTA nhanh hay chậm được
Khoá luận tốt nghiệp 19 Cao Thị Thuỳ Linh
19
20
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
nguyên tắc hoạt động chung là : thứ nhất, đảm bảo thực hiện CEPT trôi chảy;
thứ hai, làm đầu mối cho các hoạt động phối hợp giữa Ban thư ký ASEAN, cơ
quan AFTA của ASEAN với các quốc gia thành viên và thứ ba, trình những
vấn đề nảy sinh trong tiến trình thực hiện CEPT tại các cuộc hội nghị ASEAN
tương ứng để có thểđưa ra được những giải pháp hợp lý. Gần đây, để tăng
cường hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan AFTA quốc gia với cơ quan AFTA
của ASEAN, Ban thư ký ASEAN và Hội đồng AFTA đãđồng ýđưa các mối
quan hệ này vào mạng thông tin Internet.
Hầu hết các thành viên ASEAN đều nhận rõ khu vực tư nhân là diễn viên
chính của tiến trình thực hiện AFTA. Cơ quan AFTA của ASEAN và các cơ
quan AFTA quốc gia thành viên sẽ trở thành những kênh quan trọng để cung
cấp thông tin cho khu vực tư nhân cũng như tiếp nhận những yêu cầu, than
phiền, thắc mắc từ phía họ. Nói một cách chính xác, các cơ quan này cần làm
mọi việc từ cung cấp số liệu, các biểu mẫu đến liên hệ với các phòng công
nghiệp thương mại các nước, đến tổ chức các cuộc hội thảo về AFTA… để có
thể huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào tiến trình AFTA một cách
hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, cơ quan có tác động trực tiếp đến khu vực tư nhân lại là
phòng Thương mại Công nghiệp của từng quốc gia thành viên. Cũng vì vậy,
bắt đầu từ năm 1995, Phòng Thương mại - Công nghiệp ASEAN (CCI) được
thành lập như một thể chế phối hợp tất yếu để thúc đẩy tiến trình khuyến
khích tư nhân tham gia thực hiện CEPT.
Những điều khoản an toàn cũng nằm trong nội dung các thể chếđiều
chỉnh AFTA. Có ba điều khoản an toàn quan trọng. Một là, nếu việc nhập
khẩu một sản phẩm nào đó theo CEPT được thực hiện theo một phương thức
gây sức ép hoặc làm tổn thương đến các khu vực tạo ra các sản phẩm tương tự
hoặc cạnh tranh trực tiếp trong các nước nhập khẩu thì các nước này, ngoài
việc lúc đó cần phải khắc phục các thương tổn, là việc có thểđình chỉ các điều
ngân hàng, giao thông, thông tin viễn thông, sở hữu trí tuệ…
Khoá luận tốt nghiệp 22 Cao Thị Thuỳ Linh
22
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
1.2 Tình hình triển khai AFTA trong thời gian qua
1.2.1 Tình hình triển khai tại các nước ASEAN - 6
Có thể khẳng định rằng các nước ASEAN - 6 có nhiều thuận lợi trong
quá trình thực hiện AFTA hơn các nước còn lại. Các nước thành viên gốc
ASEAN có nền kinh tế phát triển khá bền vững, mức sống của người dân ở
mức cao, hơn nữa, nền kinh tế của cá nứoc này có tỷ trọng xuất khẩu trong
GDP vào loại lớn nên việc tham gia thuế quan càng thuận lợi cho họ.
Trước khi khu vực có khủng hoảng tài chính kinh tế, mặc dù có khó
khăn, trục trặc ban đầu chủ yếu làđàm phán kỹ thuật và cơ chếđiều phối thực
hiện, việc triển khai CEPT diễn ra khá thuận lợi. Kết quả trước hội đồng
AFTA lần thứ 7 (9/1995), danh mục cắt giảm thuế ngay (IL) đã có 38.388
dòng thuế, bằng 89,03% tổng số dòng thuế của 6 nước thành viên ASEAN:
danh mục tạm thời chưa cắt giảm thuế (TEL) chiếm 7,11%; danh mục nhạy
cảm (SEL) là các sản phẩm nông sản chưa chế biến được thực hiện cắt giảm
thuế theo lịch trình và thời hạn riêng 2,87%. Số dòng thuế còn lại (khoảng
0,99%) là các sản phẩm loại trừ hoàn toàn (GEL).
Kết quả thực hiện hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của 6
nước thành viên cũ ASEAN đến tháng 7 năm 2001 đạt 92,8% có thuế suất 0-
5% với tổng số 40.859 dòng thuế. Mức thuế theo CEPT trung bình hiện nay
của những nước này là 3,21%. Dự tính đến năm 2002, 6 nước ASEAN cũ có
44.059 dòng thuế (chiếm 98,39 % tổng số dong thuế) có thuế suất từ 0-5%.
Bảng 2: Tình hình thực hiện CEPT của ASEAN 6
Mục tiêu 100% tổng số dòng thuế cắt giảm có thuế
suất 0- 5% vào năm 2002 với một số linh hoạt
60% tổng số dòng thuế có thuế
suất bằng 0% vào năm 2003
tình hình kinh tế cũng như năng lực của Việt Nam chương trình thực hiện
CEPT. Cụ thể như sau:
1.3.1 Danh mục loại trừ hoàn toàn:
Danh mục này được xây dựng phù hợp với Điều 9 của Hiệp định CEPT
và bao gồm những nhóm mặt hàng cóảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cuộc
Khoá luận tốt nghiệp 24 Cao Thị Thuỳ Linh
24
Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA
sống và sức khoẻ con người, động thực vật, đến các giá trị lịch sử, nghệ thuật,
khảo cổ như: các loại động vật sống, thuốc phiện, thuốc nổ, vũ khí,…
Danh mục này bao gồm 213 nhóm mặt hàng, chiếm 6,6% tổng số nhóm
mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu, và là các mặt hàng cụ thể như sau: Các
loại động vật sống (trừ loại để làm giống); Các chế phẩm dùng cho trẻ em
đãđóng gói để bán lẻ; Thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện, xì gà,
thuốc lá và rượu bia thành phẩm; Các loại xỉ và tro; Các loại xăng dầu (trừ
dầu thô); Các loại thuốc nổ, thuốc phóng, các loại pháo; Các loại lốp bơn hơi
cũ; Các loại thiết bịđiện thoại, điện báo hữu tuyến, vô tuyến, các loại thiết bị
ra đa, các loại máy thu sóng dùng cho điện thoại, điện báo …; Các loại ô tô
dưới 16 chỗ ngồi, các loại ô tô và phương tiện tự hành có tay lái nghịch; Các
loại vũ khí, khí tài quân sự; Các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động, đổ
chơi trẻem cóảnh hưởng xấu đến giáo dục và trật tự an toàn xã hội; Các loại
hoá chất, dược phẩm độc hại, các chất phế thải, các đồ tiêu dùng đã qua sử
dụng,…
1.3.2 Danh mục loại trừ tạm thời.
Danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt hàng có thuế suất trên 20% và
một số mặt hàng tuy có thuế suất thấp hơn 20%, nhưng trước mắt cần thiết
phải bảo hộ bằng thuế như biện pháp hạn chế sổ lượng nhập khẩu, hàng phải
có giấy phép của quan thuế như biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, hàng
phải có giấy phép của Bộ quản lý chuyên ngành, hàng phải qua kiểm tra Nhà
nước về chất lượng, hàng phải qua kiểm tra về vệ sinh dịch tễ và hàng phải