Chính sách chống bán phá giá của hoa kỳ - Pdf 10

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM MÔN CHÍNH SÁCH
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI II
Đề tài:
CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA
KỲ: NỘI DUNG, NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý VÀ
GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT
KHẨU VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn :
Lớp chuyên ngành :
Nhóm thực hiện :
Hà Nội, tháng 10/2013
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra nhiều cơ
hội và thách thức to lớn cho các quốc gia. Cùng với sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường thế giới, các quốc gia phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất
khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những quy ddnhj mở để tạo ra những rào cản
mới như chông bán phá giá, chống trợ cấp để bảo hộ sản xuất trong nước.
Những năm gần đây, chống bán phá giá nổi lên là một vấn đề thương mại gây
nhiều tranh cãi trong thương mại quốc tế. Chống bán phá giá là một biện pháp phòng vệ
thương mại dành cho những ngành sản xuất nội địa bị thiệt hại bởi những hành vi
thương mại không lành mạnh của người xuất khẩu. Chống bán phá giá hoạt động như
một bức tường thành chống lại hành vi cạnh tranh không công bằng của các nhà xuất
khẩu nước ngoài.
Đối với một số thị trường khó tính nhất thế giới như Hoa Kỳ, EU, Việt Nam là
một trong những nước bị khởi kiện điều tra bán phá giá nhiều nhất. Từ những năm

sách tài trợ nhằm đạt được 2 muc đích chính sau:
+ Duy trì mức sử dụng nhất định với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền
vốn trong nền kinh tế. Các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng
ưu đãi, sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất
khẩu
+ Các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và
thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát
triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu. Do đó
chi phí sản xuất giảm xuống dẫn đến việc hạ giá bán.
- Do nhập siêu lớn, vẫn phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này. Khi đó có thể áp
dụng biện pháp bán phá giá để giải quyết cho vấn đề thiếu hụt ngoại tệ
- Do trong nước có quá nhiều hàng tồn kho, không thể giải quyết theo cơ chế giá bình
thường
5
- Bán phá giá cũng được sử dụng như một công cụ cạnh tranh. Sau khi đã chiếm lĩnh
được thị trường nội địa của nước nhập khẩu, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng nội
địa thì các hãng sẽ tìm cách thao túng thị trường nội địa để thu được lợi nhuận tối đa.
- Cũng có thể có một số nước làm ra sản phẩm với giá thành rất thấp do sử dụng lao
động trẻ em, tiền lương thấp và sử dụng lao động tù nhân làm hàng xuất khẩu. Việc sử
dụng lao động trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận còn là cách để cạnh tranh với
các đối thủ. Nhờ giá nhân công rẻ mạt, người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất
khẩu hàng hóa bán phá giá ở nước ngoài.
1.1.3 – Tác động của việc bán phá giá
• Đối với nước xuất khẩu
- Tích cực: Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn
kho, đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt
Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại
thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó.

phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra.
Mặc dù, mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá được cho là để đảm bảo
sự công bằng trong thương mại quốc tế nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy. Đối
với các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Achentina… sử dụng các biện pháp
chống bán phá giá để bảo vệ nền sản xuất còn non trẻ của chính mình. Đối với các quốc
gia phát triển, các biện pháp chống bán phá giá vừa là công cụ để hạn chế mở cửa thị
trường, hạn chế sự thâm nhập thị trường từ các quốc gia đang phát triển và vừa là cái
van an toàn cần thiết cho chính họ.
Các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng các thủ tục để xác định hiện
tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu
vào nước mình. Dẫn đến, nhiều quốc gia đã lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá
một cách tùy tiện để hạn chế nhập khẩu, hơn là để đạt được các mục tiêu khắc phục có
tính hạn chế mà Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép.
1.2 – NỘI DUNG CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ
1.2.1 – Căn cứ xác định
1.2.1.1 – Xác định bán phá giá
7
Định nghĩa về phá giá và cách xác định phá giá của WTO đã được quy định tại
Điều 6 của GATT: “Phá giá là hành vi mà sản phẩm của một quốc gia được bán ở quốc
gia khác tại mức thấp hơn giá trị thông thường và làm thiệt hại hay đe dọa làm thiệt hại
về mặt vật chất một ngành của quốc gia khác hoặc làm chậm trễ sự thiết lập một ngành
ở quốc gia khác.
Một quốc gia bị cho là đã bán sản phẩm của mình ở một quốc gia khác tại mức
thấp hơn giá trị thông thường nều:
- Giá đó thấp hơn mức giá tương đối trong điều kiện thương mại thông thường đối với
sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu
- Nếu không thể xác định dược mức giá nội địa:
+ Mức giá đó thấp hơn mức giá tương đối cao nhất được xuất khẩu tới một nước
thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường
+ Mức giá đó thấp hơn chi phí sản xuất tại nước xuất khẩu cộng với một tỷ lệ

làm. Có trách nhiệm thực thi luật thương mại của Mỹ. Đơn vị quản lý hoạt động nhập
khẩu bao gồm 9 cơ quan (văn phòng).
- Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC): có trách nhiệm lớn trong các điều tra về
các vấn đề thương mại.Thủ tục chống bán phá giá được nêu rõ trong Cuốn Sổ tay về
Chống bán phá giá và Thuế Chống bán phá giá (bản 4056)
1.2.2.2. Các bên tham gia tố tụng về chống bán phá giá
Có hai nhóm người tham gia vào các vụ kiện chống bán phá giá - những người
có quyền đại diện pháp lý (các bên liên quan) và những người khác, người không có
quyền đó.
Các bên liên quan bao gồm:
- Nhà chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài, hoặc nhà nhập khẩu hoặc các
tổ chức kinh
doanh thương mại Mỹ với đa số các nhà sản xuất, xuất khẩu hoặc nhập khẩu mặt hàng
liên quan;
- Chính phủ của nước sản xuất/xuất khẩu;
- Nhà chế tạo, sản xuất, bán buôn các sản phẩm tương tự trong nước của Mỹ;
- Nghiệp đoàn hoặc nhóm công nhân Mỹ tham gia chế tạo, sản xuất hoặc bán buôn
sản phẩm
tương tự liên quan;
9
- Hiệp hội thương mại hoặc kinh doanh doanh Mỹ với đa số tham gia chế tạo, sản
xuất, hoặc
bán buôn các sản phẩm tương tự liên quan.
- Đối tượng khác bao gồm người tiêu dùng và sử dụng hàng công nghiệp Mỹ.
1.2.2.3. Các giai đoạn chính trong cuộc điều tra chống bán phá giá tại Hoa Kỳ
A. Nộp đơn khởi kiện – Đơn khởi kiện phải có tính chất đại diện cho “Ngành công
nghiệp nội địa Hoa Kỳ”
Một vụ kiện chống bán phá giá bắt đầu bằng việc nộp đơn khởi kiện nhân danh
“ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ”. Ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ được định
nghĩa bao gồm:

kinh tế phi thị trường
2. Điều tra sơ bộ của ITC
a) Điều tra trần tại ITC: ITC sẽ yêu cầu các bên trong vụ kiện cung cấp thông tin và dữ
liệu để phân tích các « dấu hiệu hợp lý » của sự tổn hại nghiêm trọng hoặc sự đe dọa
gây tổn hại nghiêm trọng mà ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ gánh chịu do hàng
nhập khẩu bị điều tra gây ra. Các nhà sản xuất được yêu cầu trả lời một bảng câu hỏi
(questionnaire) về tình hình sản xuất và xuất khẩu của mình. Sau đó các bên sẽ tham gia
một phiên điều tra trần (hearing) trước các ủy viên của ITC để trình bày luận điểm của
mình.
b) Quyết định sơ bộ của ITC: Sau phiên điều tra trần, ITC sẽ đưa ra Quyết định sơ bộ
kết luận về sự tổn hại của ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ (thông thường trong vòng
45 ngày sau khi có đơn khởi kiện)
3. Điều tra sơ bộ của DOC
a) DOC điều tra tình trạng bán phá giá – Bảng câu hỏi : Sau khi ITC công bố Quyết
định Sơ bộ kết luận rằng ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ bị tổn hại nghiêm trọng
hoặc bị đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng, DOC sẽ bắt đầu cuộc điều tra sơ bộ của mình
bằng cách yêu cầu những nhà xuất khẩu tham gia vụ kiện trả lời một bảng câu hỏi
b) Phân chia các bị đơn : DOC phân chia các nhà xuất khẩu nước tham gia vụ kiện
thành 2 nhóm chính
- Nhóm các bị đơn bắt buộc (mandatory respondents), bao gồm những nhà xuất khẩu
chiếm ít nhất 60% lượng hàng bị điều tra nhập khẩu vào Mỹ, đây là nhóm bị DOC điều
tra trực tiếp bất kể họ muốn hay không muốn tham gia vào vụ kiện
11
- Nhóm các bị đơn tự nguyện (voluntary respondents) bao gồm những nhà xuất khẩu
tình nguyện tham giam vụ kiện để được hưởng thuế suất chống phá giá riêng biệt được
tính bằng mức bình quân gia quyền của thuế suất chống bán phá giá của tất cả các bị
đơn bắt buộc
c) DOC quyết định Quy chế nền kinh tế thị trường (ME) và nền kinh tế pphi thị trường
(MNE) : Để xác định phương pháp tính biên độ phá giá, DOC đưa ra quyết định về quy
chế ME hoặc MNE của quốc gia nơi nhà xuất khẩu bị điều tra.

ban hành lệnh áp dụng thuế chống bán phá giá và giao cho cơ quan hải quan thực hiện
việc thu thuế chống bán phá giá (thông thường khoảng 1-2 tuần sau Quyết định cuối
cùng của ITC). Lệnh áp dụng thuế chống bán phá giá sẽ chính thức được thực hiện sau
khi được công bố trên Công báo Liên Bang (Federal Registry)
7. Xem xét hành chính hàng năm
Mỗi năm, đến tháng DOC ban hành lệnh áp dụng thuế chống bán phá giá, các bên có
liên quan có quyền yêu cầu DOC xem xét lại biên phá giá theo thủ tục hành chính trong
5 năm liên tiếp.
1.2.3. Các biện pháp chống bán phá giá của Hoa Kỳ
1.2.3.1. Thuế chống bán phá giá
- Mục đích: Để bảo vệ nền sản xuất trong nước, Hoa Kỳ ban hành Luật chống bán phá
giá cho phép chính quyền Hoa Kỳ đánh thuế nhập khẩu đặc biệt, được gọi là “thuế
chống bán phá giá” để bù lại phần tổn hại do việc nhập khẩu hàng hóa với mức giá thấp
ở mức được cho là “không công bằng”.
- Điều kiện áp dụng thuế:
+ Hàng nhập khẩu bị bán phá giá
+ Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ bị thiệt hại đáng kể
+ Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại
nói trên
- Việc áp thuế chống bán phá giá sẽ được DOC phân định như sau:
+ .Mức thuế chống bán phá giá không được vượt quá biên độ bán phá giá được
xác định trong quyết định cuối cùng.
+ Về vấn đề hoàn thuế được áp dụng nếu thuế chống bán phá giá chính thức
được xác định thấp hơn thuế chống bán phá giá tạm thời thì phải thoái trả phần tạm thu
vượt quá. Nếu quyết định chính thức là không thu thuế chống bán phá giá thì phải trả lại
13
tiền nộp thuế chống bán phá giá tạm thời, tiền ký quỹ hoặc các bảo đảm dưới các hình
thức khác.
+ Về vấn đề truy thu thuế, nếu thuế chống bán phá giá chính thức được xác định
cao hơn thuế chống bán phá giá tạm thời thì không thu bổ sung phần thu còn thiếu.

các công ty ở những nước này, DOC không sử dụng phương pháp so sánh giá-với-giá
hoặc giá tri tính toán để xác định giá trị thông thường của sản phẩm. Thay vào đó, DOC
sử dụng một phương pháp hoàn toàn khác, là phương pháp “Các yếu tố sản xuất” để
xây dựng giá trị thông thường của sản phẩm.
Cách tính giá trị thông thường trong trường hợp quốc gia có nền kinh tế phi thị
trường
Đối với trường hợp nền kinh tế phi thị trường các nhà sản xuất hàng bị điều tra
phải cung cấp các thông tin và số liệu về loại và số lượng, khối lượng của các yếu tố
đầu vào của sản xuất (nguyên liệu, nhiên liệu, lao động, các chi phí vốn, các chi phí cần
thiết khác ). DOC xây dựng chi phí sản xuất trực tiếp của một đơn vị sản xuất của một
đơn vị sản phẩm bằng cách nhân số lượng (khối lượng) của các yếu tố đầu vào do bị
đơn cung cấp với giá của các yếu tố đầu vào này ở nước thay thế. Sau đó, DOC sẽ cộng
thêm một khoản các chi phí cố định (factory overhead cost), chi phí khấu hao, và các
chi phí chung, bán hàng và hành chính (GSA) để tính ra toàn bộ chi phí sản xuất của
một đơn vị sản phẩm. Chi phí sản xuất này cộng với lãi và chi phí đóng gói theo mức ở
nước này thay thế được coi là giá trị thông thường của sản phẩm.
Nước thay thế là nước có nền kinh tế thị trường và có trình độ phát triển kinh tế
tương đương với nước bị kiện (chủ yếu dựa trên cơ sở thu nhập quốc dân bình quân đầu
người), và là nước sản xuất đáng kể mặt hàng tương tự như mặt hàng nước bị điều tra.
- Áp dụng phương pháp “Zeroing” hay “ Quy về 0” để tính thuế chống phá giá
Ngoài cách tính biên độ bán phá giá theo phương pháp thông thường, Hoa Kỳ
còn áp dụng phương pháp “Zeroing” để tính biên độ bán phá giá cho một số mặt hàng
nhập khẩu của các quốc gia.
Biên độ phá giá là mức độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường
của hàng nhập khẩu
(Biên độ bán phá giá = Giá trị thông thường – Giá xuất khẩu )
15
+ Nếu như theo phương pháp thông thường tất cả các mức biên độ của các chênh lệch
được cộng hết với nhau. Các giá trị biên độ âm bù trừ cho các giá trị biên độ dương để
ra một biên độ bán phá giá cuối cùng.

(Nguồn: Tự tổng hợp số liệu)
16
Năm 2004, Mỹ đồng loạt kiện 6 nước gồm: Trung Quốc, Ecuado, Ấn Độ, Thái
Lan, Braxin và Việt Nam khi DOC cho rằng các nước này đã xuất ồ ạt sản phẩm tôm
đông lạnh vào thị trường Hoa Kỳ với giá thấp hơn giá thành sản xuất. Trong số các
quốc gia này thì Trung Quốc là nước bị áp thuế chống bán phá giá cao nhất.
Để đưa ra lý lẽ rằng các Công ty Trung Quốc bán phá giá tôm tại Hoa Kỳ, các
luật sư của nguyên đơn đã đặt ra một mô hình kinh tế phức tạp để xác định chi phí sản
xuất tôm tại Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam bị xếp vào
diện các nước không có nền kinh tế thị trường, do vậy họ nói rằng số liệu cơ bản, xác
thực về chi phí sản xuất có thể là không hiệu lực. Thay vào đó, các luật sư nguyên đơn
lấy mức giá và chi phí tại Mỹ và Ấn Độ làm thị trường phụ để xác định số liệu. Đối với
trường hợp Trung Quốc các luật sư khảo sát các nhà chế biến tôm ở Hoa Kỳ nhằm tính
toán các hạng mục để có thể chế biến được 1 pao (0,454kg) tôm đông lạnh, như điện
nước, vật liệu đóng gói…Tiếp đến họ nghiên cứu nền kinh tế Ấn Độ để xác định chi phí
của các mục này. Sau đó họ kết hợp hai kết quả này để đưa ra mức chi phí sản xuất.
Cuối cùng họ ước tính tỷ lệ lãi đối với mặt hàng của Trung Quốc. Kết quả của cách tính
toán này đưa ra “giá sản xuất” đối với tôm loại to của Trung Quốc là 10,6 USD/pao, cao
hơn 7,72 USD/pao so với mức giá tôm Trung Quốc nhập khẩu vào Hoa kỳ, và mức
chênh lệch này được chuyển thành mức thuế chống phá giá được đề nghị là 263,68%
(mức cao nhất được dự kiến đối với tôm của Trung Quốc”. Kết quả của vụ kiện, phán
quyết cuối cùng của DOC , tôm động lạnh của Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá
giá là 27,89-112,81%. Tuy nhiên các nhà kinh tế cho rằng cách tính toán của chính phủ
Hoa Kỳ như vậy là không hợp lý, bộc lộ đầy rẫy những bất cập.
Về phía Trung Quốc, hoàn toàn cho rằng mức thuế chống phá giá mà Hoa Kỳ áp
dụng đối với tôm đông lạnh của Trung Quốc là không hợp lý. Năm 2011, Trung Quốc
đã kiện Mỹ ra tòa án của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về các biện pháp chống
bán phá giá hàng nhập khẩu tôm đông lạnh và lư•i cưa gắn kim cương của Trung Quốc
xuất khẩu sang thị trường Mỹ, song không có kết quả, người phát ngôn Chính phủ Mỹ
cho rằng, cáo buộc đó là “không có căn cứ” và rằng Mỹ đã ngừng cách tính này. Hồi

gọi là “cam kết về giá”. Điều khoản Cam kết về giá của Hoa Kỳ định nghĩa như sau:
Thuật ngữ “Cam kết về giá” được đề cập đến trong các quy định này là cam kết một
cách tự nguyện của các nhà xuất khẩu và các nhà sản xuất với DOC, họ hưởng ứng
cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu
18
hàng hóa đang được điều tra chống bán phá giá để được DOC chấp thuận đình chỉ hoặc
chấm dứt điều tra.
Thứ hai là, theo Quy định chống bán phá giá của Hoa Kỳ, nếu các nhà xuất khẩu
vi phạm các thỏa thuận về cam kết giá thì cơ quan điều tra của Hoa Kỳ có thể tiếp tục
cuộc điều tra dựa trên các thông tin sẵn có tốt nhất và quyết định áp dụng các biện pháp
tạm thời và áp thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố lên các sản phẩm nhập khẩu
trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời, miễn
là trước khi vi phạm cam kết các sản phẩmnhập khẩu không bị áp thuế có hiệu lực hồi
tố. Quy định “áp dụng hiệu lực hồi tố 90 ngày” này về cơ bản là phù hợp với các quy
định của WTO.
Các Quy định tạm thời về cam kết giá quy định thêm rằng nếu trong kết luận
cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức thấp hơn mức đặt cọc trong
kết luận sơ bộ, thì khoản chênh lệch phải được hoàn lại. Điều khoản này phù hợp với
nguyên tắc bồi hoàn theo Hiệp định chống bán phá giá.
1.2.3.4. Vấn đề rà soát
Theo Quy chế thuế chống bán phá giá của DOC thì sau một năm kể từ ngày
thông báo công khai việc áp đặt thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp, DOC
sẽ đệ trình vụ kiện lên Uỷ ban thuế quan để rà soát sự cần thiết phải tự tiến hành điều
tra về việc hết hiệu lực hay thay đổi lý do của việc áp thuế, hoặc điều tra theo yêu cầu
của người khiếu kiện hay bất kỳ bên liên quan nào đệ trình thông tin tích cực cho thấy
cần thiết phải tiến hành rà soát.
Trường hợp Uỷ ban thuế quan quyết định tiến hành điều tra theo quy định trên,
trong vòng 9 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày thông báo công khai về vụ điều tra, cơ
quan liên quan sẽ đưa ra kết luận. Trường hợp cần thiết, thời gian đó sẽ được kéo dài,
nhưng thông thường, cuộc điều tra sẽ kết thúc trong vòng 12 tháng kể từ ngày bắt đầu

nói chung, thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nói riêng cũng như điều khoản
201 về biện pháp tự vệ thường vẫn luôn được coi là những hỗ trợ chính trị trong nước
cho nền kinh tế trong quá trình tự do hoá thương mại. Do đó, có quan điểm cho rằng
những biện pháp nói trên đã thực sự củng cố thêm các cam kết của Mỹ đối với Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).Tuy nhiên, luận điểm đó đã bỏ qua một điều gây tranh cãi
rằng luật thương mại Mỹ đang gây xung đột rất lớn với các đối tác thương mại nước
ngoài. Mỹ là nước đang phải đối mặt với nhiều cáo buộc nhất về việc không tuân thủ
các quy tắc đa phương liên quan đến vấn đề chống bán phá giá, thuế đối kháng và tự vệ.
20
Trên cơ sở hàng loạt đơn kiện luật pháp và thông lệ mà Mỹ đang áp dụng, Uỷ ban giải
quyết các tranh chấp của WTO đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng trong đó khẳng
định Chính phủ Mỹ đã vi phạm các nghĩa vụ quốc tế của mình.
Việc Hoa Kỳ áp dụng phương pháp “zeroing” trong một thời gian dài đã bị
phản đối ít nhất 6 lần tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), và nói chung là đi
ngược lại với các cam kết của Hoa Kỳ tại WTO. Với phương pháp này khi tính toán
biên độ bán phá giá trung bình qua thời gian hoặc qua các sản phẩm, DOC thường bỏ
qua các biên độ bán phá giá "tiêu cực", ví dụ như trong trường hợp giá của các sản
phẩm nhập khẩu ở Mỹ cao hơn giá thị trường nội địa, đương nhiên sẽ làm mức thuế
chống bán phá giá của Hoa Kỳ tăng lên so với các quốc gia khác trên thế giới, tạo ra
những mức thuế phi lý, chưa từng có. Đây là biện pháp gây nhiều tranh cãi đôi khi
khiến cho luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ mang tính bảo hộ nhiều hơn. Chính vì
vậy, việc áp dụng phương pháp “Quy về 0” một cách tùy tiện đã làm cho chính sách
chống bán phá giá của Hoa Kỳ bị lên án gay gắt trong thương mại quốc tế và trực tiếp
làm cho Hoa Kỳ dính vào vòng kiện tụng nhiều lần với các nước trên thế giới.
Thứ hai, chính sách chống bán phá giá của Hoa Kỳ còn gây ra những ảnh hưởng
tiêu cực đến bản thân nền kinh tế Hoa Kỳ
Luật chống bán phá giá bấy lâu nay đã bị lạm dụng bởi những người theo chủ
nghĩa bảo hộ, những người muốn tìm kiếm một lối thoát khỏi sự cạnh tranh của hàng
hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đã bắt đầu thay đổi.
Việc lạm dụng luật chống bán phá giá phần nào giảm bớt sự cạnh tranh của hàng hóa

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng công ty luật Mỹ Squire Sanders đồng tổ chức
mới đây, các chuyên gia Việt Nam và Mỹ đã nhận định: tính đến quý I năm 2013, Việt
Nam đang phải đối mặt với nguy cơ kiện chống bán phá giá tăng đặc biệt từ thị trường
Mỹ từ cá ba sa sẽ có thể đang lan sang các mặt hàng như dệt may, đồ gỗ, thép và đinh.
Ngoài ra một số mặt hàng có thể cũng sẽ bị điều tra như túi nhựa, và một số mặt hàng
mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa.
Theo như Luật sư Peter John Koenig của công ty luật Mỹ Squire Sanders nhận
định: “Những mặt hàng này đều thuộc diện mặt hàng khai phá thị trường của
Việt Nam nên chưa có kim ngạch lớn. Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời
kỳ 5 năm, rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ
vô cùng dai dẳng. Hiện tôm đông lạnh của Việt Namxuất sang Mỹ đang bị rà soát năm
thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng bị áp thuế thêm 5 năm nữa”.
Bảng 2.1: Thống kê các vụ kiện chống bán phá giá của Mỹ đối với Việt Nam
trong giai đoạn 2000 – 2013
Năm
Mặt
hàng bị
kiện
Ngày
nộp đơn
kiện
Quá trình điều tra
Biện pháp tạm thời Biện pháp cuối cùng
Thời
gian
khởi
kiện
Ngày
Biên
độ bán

58.49
5 năm
Mắc áo
thép
29/2/12 18/05/1
2
25/8/1
2
135.81-
187.51
24/12/1
2
157-
220.6
8
5 năm
2011 ống thép
carbon
26/10/20
11
15/11/2
011
1/6/20
12
0-
29.76
2010 Mắc treo
quần áo
bằng thép
22/07/20

12.11-
93.12
8/12/20
04
4.13-
25.76
2002 Cá da
trơn
24/07/2
002
31/01/
2003
23/06/2
003
36.84
-
63.88
(Nguồn: Phòng công nghệ và thương mại Việt Nam – VCCI)
2.1.2. Diễn biến các vụ kiện chống bán phá giá tiêu biểu của Mỹ đối với VN
• Cá da trơn (Catfish)
Giai đoạn 1:
Vào cuối năm 2000, CFA tung lên báo chí Mỹ những thông tin thất thiệt, bôi xấu
hình ảnh cá tra, cá basa VN. Đến tháng 2/2001, Mỹ khan hiếm cá nheo, cá Việt Nam
nhập khẩu tăng, cuộc chiến lại rộ lên. Mỹ phát động chiến dịch quảng cáo kéo dài 9
tháng, tiêu tốn 5,2 triệu USD do Viện cá nheo Mỹ phát động và được CFA tài trợ để
chốn lại việc nhập khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam.
Ngày 25/10/01, Thượng việc Mỹ biểu quyết, thông qua 35 điều luật bổ sung và
không cho phép FDA sử dụng ngân sách được cấp làm thủ tục cho phép nhập khẩu các
loài cá da trơn mang tên “catfish’ trừ phi chúng thuộc họ cá nheo Mỹ và cấm hoàn toàn
việc dùng tên catfish cho cá tra và cá basa của Việt Nam áp dụng cho tất cả các khâu từ

Cũng vào ngày này, các bộ ban ngành liên quan của VN đã soạn thảo văn bản giải trình
đề nghị Mỹ trao cho VN quy chế nền KTTT. Nội dung văn bản là làm rõ:
- Khả năng chuyển đội tự do của đồngVND
- Sự thỏa thuận tự do giữa chủ DN và lao động về lương bổng
25

Trích đoạn Thành công CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status