Tài liệu Đề tài “Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ và thách thức, khó khăn có liên quan trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam” - Pdf 87


CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
Hiệp định chống bán phá giá của WTO
và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ và
thách thức, khó khăn có liên quan trong xuất
khẩu hàng hoá của Việt Nam


những biện pháp chống bán phá giá mà nước sở tại áp dụng. Sự việc
đó cũng đã ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của chúng ta. Trong
bài viết này đề cập đến vấn đề “Hiệp định chống bán phá giá của
WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ và thách thức, khó khăn
có liên quan trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam” 2
NỘI DUNG
I. HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO VÀ LUẬT
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ.
1. Các cách hiểu về phá giá:
Mặc dù hiện tại phá giá và chống bán phá giá đã được WTO
thống nhất và đưa ra các tiêu chí và thủ tục để đánh giá song khi nói
đến phá giá, giới kinh doanh vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Phá giá là giảm giá để tranh giành thị trường và/hoặc tiêu diệt
đối thủ cạnh tranh.
- Phá giá là bán dưới giá thành.
- Phá giá là bán dưới mức giá bình thường.
Định nghĩa về phá giá và cách xác định phá giá của WTO đã
được quy định tại Điều 6 của GATT: “ Phá giá là hành vi mà sản
phẩm của một quốc gia được bán ở quốc gia khác tại mức thấp hơn
giá trị thông thường và làm thiệt hại hay đe doạ làm thiệt hại về mặt
vật chất một ngành của quốc gia khác hoặc làm chậm trễ sự thiết lập
một ngành ở quốc gia khác”.
Hai khái niệm quan trong quy định này là giá trị thông thường
và thiệt hại về vật chất.

xuất khẩu từ những quốc giá khác nhau với cùng biên độ phá giá như
nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá thuộc vào biên độ phá giá
của từng nhà xuất khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả
khi các nhà xuất khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép
vượt quá biên độ phá giá đã được xác định.

4
Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng
bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO
cũng luật pháp của rất nhiều nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được
áp đặt khi hàng hoá được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay đe doạ
gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Như vậy,
nếu một hàng hoá được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng
không gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước
nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá giá và các biện
pháp chống bán phá giá khác. Thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước được hiểu là tình trạng suy giảm đáng kể về số lượng, mức tiêu
thụ trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc
làm cho người lao động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác của ngành sản
xuất trong nước hoặc dẫn đến khó khăn cho việc hình thành sản xuất
trong nước. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: 1 -
Biên độ phá giá từ 2% trở lên; 2 - Số lượng, trị giá hàng hoá bán phá
giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu (ngoại
trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hoá tương tự mới
nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hoá tương tự
của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phá giá
chiếm trên 7%).
Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông
qua việc so sánh với mức giá có thể so sánh được của hàng hoá tương
tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là

Mỹ thì một khi không thể xác định được giá trị thông thường tại nước
xuất khẩu, người ta có thể lấy mức giá của hàng hoá tương tự trong
điều kiện thương mại bình thường ở một nước thứ ba có người trình

6
độ phát triển như của nước bị điều tra bán phá giá. Đây chính là cái
cơ quan trọng mà trong vụ kiện phi lý về Thương mại Mỹ đã tính toán
giá trị thông thường theo giá tại Băng - la - đét với lập luận rằng. Việt
Nam chưa có nền kinh tế thị trường, vì vậy các chi phí và các số liệu
của các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp là không phản ảnh trung
thực và không tin cậy được. Có thể nói rằng, thuế chống bán phá gía
là một công cụ bảo hộ rất mạnh và rất lợi hại.
3. Cơ chế chống bán phá giá của Mỹ
Đoạn 800-801 của Đạo Luật chống bán phá giá của Mỹ quy
định: “Bất cứ người nào thực hiện hay giúp đỡ thực hiện việc nhập
khẩu hàng hoá nước ngoài vào Mỹ một cách phổ biến và có hệ thống
để bán những hàng hoá đó ở mức giá thấp hơn đáng kể giá thực tế thị
trường, hay giá bán buôn của những hàng hoá đó tại thị trường nơi nó
được sản xuất hay tại thị trường nước ngoài khác mà các hàng hoá đó
thường được xuất khẩu sau khi đã cộng giá bán buôn, chi phí vận tải,
thuế, và các chi phí và lệ phí cần thiết khác đều bị coi là vi phạm pháp
luật nếu những hành vi kể trên được thực hiện với dự định phá hoại,
hay gây tổn thất một ngành của Mỹ, hay ngăn cản việc thiết lập một
ngành tại Mỹ, hay tạo sự kiềm chế hoặc độc quyền về hàng hoá đó tại
Mỹ”.
Các thủ tục hành chính áp dụng cho việc chống phá giá được
quy định trong Đạo Luật chống phá giá 1916; Đạo luật chống phá giá
1921; Mục VII của Đạo Luật thuế 1930.
Thủ tục chủ đạo đó là: thay vì dựa trên hành động của chính phủ
hay cá nhân trước toà án, luật chống phá giá cho phép thực hiện các


8
Ba Lan kiện Việt Nam một vụ về bật lửa gas. Thuế chống phá
giá là 0,09 EUR/chiếc.
Mỹ kiện Việt Nam một vụ về cá tra, cá basa. Thuế chống phá
giá áp đặt cho Việt Nam từ 38% đến 64%. Phương thức mà Hiệp hội
cá tra, cá ba sa (CFA) của Mỹ đã thực hiện trong vụ tranh chấp với
Việt Nam có thể tóm tắc như sau:
+ Trước hết, CFA đã gây sức ép bắt các nhà xuất khẩu Việt
Nam phải thay đổi tem dán để phân biệt các của Việt Nam với cá của
Mỹ.
+ Sau đó, CFA kiện Việt Nam đã phá giá cá tra, cá basa trên thị
trường Mỹ.
Gạo của Việt Nam đã từng bị Columbia kiện vào năm 1994 với
biên phá giá là 9,7% nhưng sau đó Columbia quyết định rằng Việt
Nam đã không gây thiệt hại về vật chất với việc sản xuất gạo của
Columbia nên không áp dụng thuế chống bán phá giá.
Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm trong việc đương đầu với các
vụ kiện phá giá và vận dụng cơ chế chống bán phá giá. Qua các vụ
kiện phá giá chúng ta có cơ hội nhìn nhận rõ hơn thực trạng thương
mại quốc tế hiện nay. EU đã bác bỏ vụ kiện DN Việt Nam bán phá giá
bật lửa gas vào thị trường này với lý lẽ, DN Việt Nam hoạt động trong
nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại kết luận Việt Nam có
nền kinh tế phi thị trường. Việc xem xét Việt Nam là nền kinh tế thị
trường hay phi thị trường hoàn toàn mang tính chính trị, không phụ
thuộc vào yếu tố kỹ thuật, mặc dù phía Mỹ có đưa ra 5 yếu tố kỹ thuật
để xem xét. Như vậy, kinh tế thị trường chỉ là cái cớ mà nguyên nhân
sâu xa chính là giá bán. Với mức giá 1kg các basa khoảng 3USD thì
các DN Hoa Kỳ cạnh tranh nổi, khi đó hình thức kiện phá giá được sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status