Cây nhót – Loại dược liệu nhiều công dụng
Nhót là thứ quả rất quen thuộc với người dân nước ta nhất là ở các vùng quê.
Thông thường người ta chỉ trồng Nhót để lấy quả hoặc nấu canh chua. Trên thực tế một số ông lang nước ta hay dùng lá Nhót để chữa ho thay cho Tỳ bà
diệp của Trung dược. Trong dân gian, một số nơi còn dùng quả Nhót để chữa lỵ và
ỉa chảy, dùng lá Nhót để chữa lỵ và cảm sốt. Khách quan mà nói, ở Trung Quốc,
cây Nhót được sử dụng làm thuốc có phần toàn diện hơn.
Trong Trung dược, Nhót có tên là “Hồ đồi”. Theo Trung y:
- Quả Nhót: Vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng thu liễm, trừ ho suyễn (chỉ khái
bình suyễn), chống chảy máu (chỉ huyết). Dùng chữa tiêu hoá kém (tiêu hoá bất
lương), lị, ho suyễn, băng huyết, sán khí, trĩ lở loét (trĩ sang). Liều dùng: 9 – 15g.
- Lá Nhót: Vị chua, tính bình, vô độc. Dùng chữa các chứng phế hư khí đoản, khái
thấu khí suyễn, khái huyết, ung nhọt… Liều dùng: 9 – 15g khô (20 – 30g tươi).
Đặc biệt, về tác dụng trị chứng hen suyễn, sách Bản thảo cương mục của Lý Thời
Trân đã viết: Ngay cả đối với người bị hen suyễn rất nặng cũng kiến hiệu. Có
người mắc bệnh đã 30 năm, uống lá Nhót bỗng nhiên khỏi bệnh. Người bị nặng,
uống thuốc một thời gian, ở ngực thấy nổi mày đay, ngứa ngáy, phải gãi liên tục
- Phong hàn phế suyễn (phát cơn suyễn do bị nhiễm lạnh): Rễ cây Nhót 30g, đường
đỏ 15g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm
- Nôn ra máu, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều: Rễ cây Nhót 30
– 60g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm
- Phong thấp đau nhức: Rễ cây Nhót 120g, Hoàng tửu 60g, chân giò 500g, đổ nước
vào nấu kỹ, thành món chân giò hầm; ăn thịt và uống nước thuốc
- Hoàng đản (vàng da): Rễ cây Nhót 15 – 18g, sắc nước uống
- Phụ nữ sau khi đẻ đau bụng, ỉa chảy ra toàn nước trong kèm theo đồ ăn không
tiêu hoá (hạ lị): Dùng rễ cây Nhót 60g, đường đỏ 30g, sắc nước uống
- Sản hậu phù thũng: Rễ cây Nhót, Ích mẫu thảo, mỗi thứ 12g, sắc nước, thêm chút
đường đỏ vào uống
- Thấp chẩn (eczema): Rễ cây Nhót một nắm (vùng da bị bệnh rộng thì tăng thêm),
sắc nước rửa chỗ bị bệnh.