BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
***
PHẠM THỊ LINH NHÂM
TÌM HIỂU VỀ HÔN ƯỚC VÀ
KHẢ NĂNG ÁP DỤNG HÔN ƯỚC Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Mục lục
trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÔN ƯỚC – ĐẶC TRƯNG CỦA
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN ƯỚC ĐỊNH
1.1. Hôn ước và các chế độ tài sản
3
1.1.1. Khái niệm hôn ước và các chế độ tài sản vợ chồng 3
1.1.2. Sơ lược lịch sử hình thành của hôn ước 4
1.1.3. Đặc điểm của hôn ước 8
1.2. Pháp luật Việt Nam với việc qui định về hôn ước
9
1.2.1. Hôn ước trong pháp luật thời kì Pháp thuộc 10
1.2.2. Hôn ước theo hệ thống pháp luật ở miền nam nước ta trước
ngày thống nhất đất nước (1954 - 1975)
12
1.2.3. Hôn ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta
từ Cách mạng Tháng tám (1945) đến nay
14
1.3. Hôn ước trong pháp luật một số nước trên thế giới
16
1.3.1 Hôn ước theo pháp luật của Cộng hòa Pháp 16
1.3.2 Hôn ước theo pháp luật của Hoa Kì 19
1.3.3 Hôn ước theo pháp luật của Nhật Bản 21
1.3.4 Hôn ước theo pháp luật của Thái Lan 22
2.4.1 Hoàn thiện các qui định về các vấn đề về tài sản vợ chồng mà
vợ chồng được thỏa thuận và lộ trình áp dụng hôn ước
47
2.4.2 Hình thức và nội dung của các qui định kiến nghị áp dụng 50
LỜI KẾT
55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1
Phụ lục 2 1
LỜI MỞ ĐẦU
Khi chưa bước vào hôn nhân, hai người nam nữ là những người có tài sản
riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình. Khi bước vào hôn
nhân, điều đó đã khác. Tất cả các vấn đề về tài sản của họ được điều chỉnh bởi
một qui chế pháp lí có tên là “chế độ tài sản vợ chồng”. Theo một logic đơn
thuần: khi chưa bước vào hôn nhân, từng cá nhân được tự do định đoạt tài sản của
mình thì trong hôn nhân hai cá nhân đó cũng được thỏa thuận định đoạt chế độ tài
sản vợ chồng. Có lẽ vì thế mà hầu hết các quốc gia trên thế giới cho phép những
người sắp kết hôn tự thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng bằng một văn bản có
tên là “hôn ước”. Việt Nam thì không như vậy: chế độ tài sản vợ chồng chỉ do
pháp luật qui định.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, chế độ tài sản vợ chồng của
Việt Nam đã có những sự thay đổi đáng kể, từ chỗ không chấp nhận bất cứ thỏa
thuận nào của vợ chồng về việc xác lập tài sản (như qui định trong Luật hôn nhân
và gia đình năm 1959) đến chỗ cho phép vợ chồng được thỏa thuận về việc chia
nghiên cứu và bình luận về hôn ước ở Việt Nam qua từng thời kì lịch sử;
tìm hiểu về hôn ước ở các nước có các đặc điểm hình thái xã hội và pháp
luật khác nhau;
nghiên cứu về sự phù hợp của hôn ước với xu hướng phát triển của xã hội
Việt Nam;
nghiên cứu một giải pháp phù hợp cho việc áp dụng hôn ước ở Việt Nam.
Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận đã sử dụng kết hợp phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, phương pháp
phân tích – tổng hợp, phương pháp Luật học so sánh và phương pháp thu thập
thông tin để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
Về bố cục, khóa luận kết cấu thành hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về hôn ước – đặc trưng của chế độ tài sản
ước định.
Chương 2: Khả năng áp dụng hôn ước trong xã hội Việt Nam hiện đại.
3
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÔN ƯỚC – ĐẶC TRƯNG CỦA
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN ƯỚC ĐỊNH
1.1. HÔN ƯỚC VÀ CÁC CHẾ ĐỘ TÀI SẢN
1.1.1. Khái niệm hôn ước và các chế độ tài sản vợ chồng
1.1.1.1. Chế độ tài sản vợ chồng
Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân mà các vấn đề về quyền sở
hữu đối với tài sản của vợ chồng không thể chỉ điều chỉnh bằng các qui định
chung về sở hữu tài sản thông thường. Tất cả các quốc gia trên thế giới dù chế
độ xã hội khác nhau, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, điều kiện về phong
tục tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau, tất cả các quốc gia đó dù đã qui
định về quyền sở hữu tài sản thông thường nhưng ít hay nhiều cũng đều có qui
1.1.1.3. Hôn ước
Khi áp dụng chế độ tài sản ước định, vợ chồng được tự do thỏa thuận
về chế độ tài sản trong thời kì hôn nhân. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó
là hôn ước.
Hôn ước là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể
thức nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ
chồng được áp dụng trong thời kì hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời
kì hôn nhân.
1.1.2. Sơ lược lịch sử hình thành của hôn ước
Theo quan điểm thịnh hành của các luật gia Việt Nam, hôn ước ra đời do
quan điểm của các nhà lập pháp phương Tây, theo họ hôn nhân thực chất chỉ là
một loại hợp đồng dân sự chỉ khác ở sự trang trọng khi thiết lập và trong việc
chấm dứt; bên cạnh đó, các nhà làm luật của phương Tây cũng đề cao quyền tự
do cá nhân, quyền định đoạt tài sản của vợ chồng
2
. Tuy nhiên nếu tóm lược sự ra
đời của hôn ước như vậy sẽ không phản ánh được hết nguyên nhân khách quan
của sự tồn tại của hôn ước. Theo người viết, như các qui định khác, hôn ước có
nguồn gốc lịch sử lâu đời, có quá trình phát triển.
1.1.2.1. “Thỏa thuận hôn nhân” và “thỏa thuận về điều kiện của
hồi môn”
Có lẽ những hôn ước đầu tiên đã được xuất hiện từ thời La Mã cổ đại
dưới hình thức thỏa thuận hôn nhân (nuptias consensus facit)
3
trong hôn nhân
2
Dễ dàng tìm đọc quan điểm này tại các bài viết về chế độ tài sản vợ chồng. xin trích dẫn một vài tài liệu: Nguyễn
Hồng Hải, Xác định tài sản của vợ chồng một số vấn đề lí luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ trường Đại học Luật
Hà Nội, 2002; TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,
người vợ
8
. Nuptias consentus facit chỉ tồn tại trong hôn nhân sine manu và sine
manu được áp dụng khi con gái của một nhà giàu kết hôn với người nghèo.
Thỏa thuận về điều kiện của hồi môn (stipuliatio)
Vào cuối thời Cộng hòa, để ngăn ngừa việc cưới vợ nhằm lấy của hồi
môn, sau đó li dị, luật La Mã đã qui định: trước khi kết hôn cho phép bố mẹ
hoặc người chủ hộ (Pater familias) của cô dâu thỏa thuận điều kiện về của hồi
môn nếu hai người li hôn hoặc người chồng chết trước thì của hồi môn được trả
lại cho vợ
9
. Thỏa thuận đó được gọi là stipuliatio, thỏa thuận stipuliatio thường
có nội dung sau:
của hồi môn sẽ thuộc về chồng hoặc nhà chồng nếu như vợ chết
hoặc của hồi môn sẽ được trả lại cho bố mẹ vợ nếu như vợ chết trước.
4
Hình thức hôn nhân này tồn tại trước thời hoàng đế Justinian, thuật ngữ tiếng Việt được lấy theo Trường Đại học
Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd.
5
Thỏa thuận này tồn tại vào cuối thời kì cộng hòa, khoảng thế kỉ thứ 2 trước công nguyên, thuật ngữ tiếng Việt được
lấy theo Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd
6
Thuật ngữ tiếng Việt được lấy theo Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd.
7
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd, tr. 160
8
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd, tr. 160
9
Có sự thay đổi thiên về phía bảo vệ quyền lợi cho người phụ này có lẽ bởi khi nhà nước La Mã mở rộng lãnh thổ,
khi đó truyền thống Roma lại coi trọng sự thỏa thuận, chính quyền Roma không
can thiệp vào sự cử hành các nghi lễ, họ tôn trọng các phong tục của các dân tộc
sống trên đế quốc La Mã
14
tuy nhiên các luật gia La Mã lại sớm ấn định các yếu
tố pháp lí phòng khi xảy ra các trường hợp kiện tụng
15
. Vì thế, ai muốn cử hành
hôn lễ theo nghi thức nào cũng được nhưng bắt buộc phải có sự thỏa thuận, nếu
như chưa có sự thỏa thuận công khai thì luật pháp coi như hai người chưa phải
là vợ chồng của nhau. Thời kì đầu này có lẽ ki tô giáo chịu ảnh hưởng của
truyền thống Do Thái nhiều hơn
16
nên Ki tô giáo không đề cập đến vấn đề thỏa
thuận trong hôn nhân, theo kinh Tân ước: người chồng không được đối xử với
10
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, sđd, tr. 162
11
Almanach những nên văn minh thế giới, NXB Văn hóa thông tin 1996, tr. 1043
12
Bởi đạo ki tô phát sinh từ trong lòng đạo Do Thái.
13
Đạo Ki tô ra đời tại vùng đất của đế chế La Mã đến năm 61 thì đạo ki tô trở nên phổ biến ở La Mã
14
Khi đó đế quốc La Mã đã rất rộng lớn bao trùm phần lớn châu Âu hiện nay và có nhiều dân tộc sinh sống và các
nghi lễ là vô cùng đa dạng, việc không thể thống nhất nghi lễ kết hôn là điều tất yếu.
15
Kiện tụng có thể xảy ra bởi dưới thời La Mã một thời gian dài người vợ được coi là tài sản của người chồng, tính
chất giống như tài sản của người vợ cũng được biểu hiện ở nghi lễ kết hôn: Ví dụ: nghi lễ Coemptio (nghi lễ này
chính là sự kết hợp của vợ chồng mang theo những nghĩa vụ và quyền lợi căn
bản của hôn nhân, vì thế thỏa thuận này đã bao hàm cả những vấn đề quyền lợi
và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, thời kì mà chỉ có điểm bắt đầu
chứ không có điểm kết thúc nếu như một người không qua đời. Có lẽ từ đây mới
xuất hiện một loại khế ước về quyền lợi và nghĩa vụ giữa vợ chồng (bao gồm cả
vấn đề tài sản của vợ chồng) được lập trước khi kết hôn. Loại khế ước này đã
mang đầy đủ hơn các yếu tố của một hôn ước. Giá trị pháp lí của hôn ước đã
được ghi nhận trong Bộ Luật dân sự đầu tiên trên thế giới – Bộ luật dân sự
Napoleon 1804.
Một nguyên do nữa mà theo người viết cũng là lí do khiến cho hôn ước
trở nên phổ biến đối với những người theo công giáo, đó là theo quan niệm của
công giáo thì hôn nhân là một vợ một chồng và bất khả phân li nên giáo hội
không cho phép việc li hôn. Dưới thời trung cổ do giáo hội nắm quyền nên
17
Lúc đó người Giec Manh vẫn chưa có nhà nước, sau khi xâm lược La Mã họ đã có bước nhảy vọt chuyển từ xã hội
thị tộc sang xã hội phong kiến, không qua giai đoạn xã hội chủ nô.
18
Vương quốc Vi di gôt gồm Tây Ba Nha và miền tây nam Gô lơ, Vương quốc Buyếc gông ở miền nam Gô lơ,
Vương quốc Frăng ở Bắc Gô lơ, vương quốc Xắc xông ở Anh, vương quốc Ôxtorogot ở Italya…
8
pháp luật các nước cũng không cho phép vợ chồng li hôn. Tuy nhiên trong đời
sống chung vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn và nhiều trường
hợp mâu thuẫn đó dẫn đến tình trạng vợ chồng không muốn chung sống hay
không thể chung sống với nhau nữa. Lúc đó cần có một giải pháp để giải tỏa
xung đột giữa vợ chồng và việc sống li thân cùng với sự biệt lập về tài sản là
cần thiết. Vậy nên việc qui định trước về vấn đề tài sản của vợ chồng là cần
thiết để đảm bảo tự do cho cá nhân.
9
hợp pháp (bằng các hình thức công chứng và đăng kí hôn ước cùng với thời
điểm đăng kí kết hôn).
Về nội dung: Trong hôn ước, vợ chồng tối thiểu phải thỏa thuận về
phương thức hay qui định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của mình.
Những thỏa thuận trong hôn ước không được trái với trật tự công cộng và đạo
đức xã hội. Trong hôn ước vợ chồng chỉ có thể thỏa thuận về vấn đề tài sản và
không thể thỏa thuận hay làm khác đi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay
các quan hệ nhân thân khác đã được pháp luật qui định.
Về hiệu lực: Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn, để đảm bảo
phát sinh hiệu lực, hôn ước phải được lập theo thể thức mà pháp luật nội địa
(luật nơi vợ chồng cư trú và có quốc tịch) hoặc pháp luật nơi lập hôn ước qui
định
20
. Hôn ước phát sinh hiệu lực kể từ khi hai bên nam nữ trở thành vợ chồng
hợp pháp.
Về vấn đề sửa đổi, hủy bỏ: việc thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của
hôn ước phải theo một thể thức nhất định, việc thay đổi thường được tiến hành
theo hình thức lập hôn ước. Trước đây hôn ước là bất di bất dịch tuy nhiên qui
định này đã trở nên lỗi thời, hiện nay các quốc gia cho phép vợ chồng thay đổi
hoặc hủy bỏ hôn ước nhưng thường đặt điều kiện về thời gian có hiệu lực của
hôn ước trước hoặc điều kiện về hình thức, về sự phê chuẩn.
1.2. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI VIỆC QUI ĐỊNH VỀ HÔN ƯỚC
Không giống như các chế định pháp luật khác, hôn ước “nhập cư”, “tồn
tại” và bị “trục xuất” khỏi pháp luật Việt Nam một cách lặng lẽ, không dựa vào
cơ sở xã hội nào
21
.
tập Dân luật giản yếu Nam kì không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài
sản vợ chồng
24
tuy nhiên án lệ ở Nam kì trong thời kì này lại “luôn luôn nhắc lại
nguyên tắc tự do lập hôn ước mà các tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp
dụng trong khi không có luật viết”
25
.
Điều 104 Tiết thứ IV thiên thứ V quyển thứ nhất Dân luật Bắc kì qui định
rằng: “Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến toàn thể vợ chồng là khi
nào vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng
ấy không được trái với phong tục và trái với quyền lợi người chồng là người chủ
trương trong đoàn thể”. Điều 105 lại qui định rằng: “Phàm tư ước về tài sản giá
thú phải làm thành chứng thư tại trước mặt “no-te”
26
, hoặc do Lý trưởng thị
thực, mà phải làm trước khi khai giá thú. Đã khai giá thú rồi thì không được
thay đổi gì nữa. Hôn ước phải do các người có quyền ưng thuận trong việc giá
thú ký nhận cho mới được. Phàm tư ước về tài sản giá thú, phải biện chú vào
chứng thư giá thú thì mới có thể đem đối dụng với người ngoài được. Ai muốn
xin trích lục chứng thư giá thú về khoản biên chú các tư ước ấy, thì sẽ do bộ lại
cấp phát cho”. Có thể thấy hôn ước đã được thừa nhận trong Dân luật Bắc kì với
23
Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam (tập 1 Hôn sản – Tư sản), Sài Gòn tháng 2 năm 1960 tr. 39
có đoạn viết: “Trong cổ luật của ta như luật Hồng Đức, không hề thấy nói đến hôn ước hay hôn khế: vợ chồng lấy
nhau, đương nhiên theo chế độ hôn sản do tục lệ hay pháp luật ấn định và hình như trong thời kì hôn thú họ có thể
làm giấy tờ để thỏa thuận hay ấn định lại sự quản trị của một vài thứ của. Nhưng luật cũ không biết đến hôn ước
theo nghĩa chuyên môn của luật pháp hiện đại. Điều 94 luật Gia Long có nói đến hôn thư mà hai bên vợ và chồng
trao đổi trước khi cưới, nhưng hôn thư không có liên lạc gì tới hôn ước hiện nay”.
28
. Hơn nữa, dưới chế độ phong kiến dẫu có quan tâm đến tài sản
trong hôn nhân thì người ta cũng chỉ quan tâm đến sự môn đăng hộ đối của hai
gia đình chứ không hề đề cập đến quyền lợi vật chất một cách quá rõ ràng và
thiếu tinh thần giao hiếu như những gì qui định trong hôn ước.
Mặt khác có lẽ cũng vì hôn ước không phù hợp với tình hình xã hội Việt
Nam đương thời nên các nhà làm luật cũng chỉ qui định một cách “lấy lệ” khiến
cho chúng ta dễ dàng thấy được tính không hoàn chỉnh, không chặt chẽ của qui
định hôn ước khi xem xét toàn bộ các qui định về chế độ tài sản vợ chồng ở đây.
Theo qui định thì khi sử dụng quyền tự do lập hôn ước, hai vợ chồng có thể tùy
27
Điều 102: “Về đường tài sản của vợ chồng chỉ khi nào vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau thời
pháp luật mới can thiệp đến; lời ước riêng ấy cốt không trái với phong hóa và không trái với quyền lợi của người
chồng, là người chủ trong gia thất”; Điều 103: “Phàm lời ước riêng của vợ chồng phải làm bằng giấy trước khi
khai, trước việc giá thú, giấy ấy phải do lý trưởng nhận thực, hoặc làm trước mặt viên quản lý thơ khế. Sau khi
đã khai trước giá thú rồi, thời lời ước riêng ấy không thể thay đổi điều gì nữa. Phàm hôn khoản của vợ chồng
phải có những người có quyền ưng thuận trong việc giá thú thuận y. Muốn cho điều khoản trong hôn khoản của
vợ chồng đối với người ngoài có giá trị và muốn cho hôn khoản ấy lâm thời có thể viện ra mà chống cãi với
người ngoài, thời trong chứng thơ giá thú phải minh chú rằng việc giá thú nầy có hôn khoán mà bản sao hôn
khoán ấy lại phải đính theo chứng thư giá thú mới được. Ai muốn xin trích lục chứng thư giá thú và lời ước riêng
ấy, thời hương bộ sẽ cấp phát cho”.
28
Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, sđd, tr. 40
12
ý ấn định điều lệ mà sau này hai bên sẽ phải theo, song luật Việt Nam không nói
rõ rằng: nếu không theo chế độ pháp định thì họ có thể chọn theo chế độ tài sản
nào, mà tự bắt họ phải xây dựng toàn bộ qui định điều chỉnh tài sản của mình;
29
Thật ra cũng có những văn bản qui định riêng về gia đình nhưng nó không thông qua bởi Nghị viện và không có
tầm vóc như Luật ví dụ Quy điều hộ tịch An Nam tại Bắc Kì cũng qui định riêng về vấn đề hộ tịch, liên quan tới gia
đình, tuy nhiên đây chỉ là Nghị Định.
30
Theo người viết, ngoài những tiến bộ do nguyên nhân khách quan thì việc không thừa nhận chế độ gia trưởng
trong Luật Gia đình còn có nguyên nhân chủ quan khác nữa đó là dự án luật “Luật Gia đình” này do Trần Lệ Xuân
– vợ Ngô Đình Nhu trình lên nghị viện (trong các biên bản thông qua sự án luật đã ghi rõ đây là dự án luật “Gia
Đình” của bà dân biểu Ngô Đình Nhu).
31
Luật dân sự Nhật Bản hiện nay cũng qui định là hôn ước không được trái với quyền lợi của người thừa kế hàng
thứ nhất.
13
Hôn ước trong Luật Gia Đình 1959 đã được qui định một cách tỉ mỉ hơn.
Hôn ước phải được lập bằng văn bản trước khi kết hôn, được công chứng và
phải được công bố. Điều 46 Luật Gia Đình qui định: “hôn ước phải làm bằng
chứng thư trước mặt trưởng khế hay một viên chức có thẩm quyền thị thực”,
việc thị thực ở đây thực chất là công chứng
32
. Hôn ước phải được lập trước khi
kết hôn và phải được ghi vào trong giấy giá thú, vì như thế mới đảm bảo cho
hôn ước có giá trị với người thứ ba. Riêng đối với những người buôn bán, thì
hôn ước của họ phải được niêm yết tại tòa thương mại và chủ cước vào sổ
thương mại do phòng lục sự tòa này giữ
33
. Luật Gia đình còn qui định cả về sự
vô hiệu của hôn ước, hôn ước sẽ vô hiệu nếu như không đảm bảo các điều kiện
những nét cơ bản sau:
Luật pháp chỉ qui định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không
lập hôn ước.
Vợ chồng được tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn là không trái
với trật tự công cộng và thuần phong mĩ tục.
Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng
Hôn ước không thể thay đổi trong thời kì hôn nhân
Hôn ước có thể sửa đổi trước khi kết hôn nhưng bản sửa đổi cũng
phải được công chứng
Hôn ước sẽ không có hiệu lực với người thứ ba nếu như không
được ghi và giấy đăng kí kết hôn.
1.2.3. Hôn ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta
từ Cách mạng Tháng tám (1945) đến nay
Như đã phân tích, những qui định về hôn ước trong Dân luật Bắc kì và
Dân luật Trung kì vốn không hề được người dân biết đến, bởi thế mà có lẽ sự
biến mất của nó khi thay đổi chế độ cũng là điều không được những người thời
đó để ý.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước ta đã ban hành hai sắc
lệnh đầu tiên qui định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình: sắc lệnh
159/SL ngày 17/11/1950 qui định về vấn đề li hôn, sắc lệnh 97/SL ngày
22/5/1950 sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh số 97-SL là
văn bản duy nhất điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân
trước khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nói về quan hệ giữa vợ và
chồng sắc lệnh chỉ có qui định tại Điều 5 “Chồng vợ có địa vị bình đẳng trong
gia đình” và Điều 6 “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ”. Sắc
lệnh này không hề đề cập đến việc công nhận hay không công nhận hôn ước.
Tuy nhiên Điều 1 Sắc lệnh qui định “Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ
khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân”, Điều 14 lại qui định
“Tất cả những điều khoản trong dân pháp điển Bắc kì, dân pháp điển Trung kì,
Pháp qui giản yếu 1883 (sắc lệnh ngày 3/10/1883) thi hành ở Nam kì, và những
gây nhiều tranh cãi về chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân. Theo những qui định này vợ chồng có thể thỏa thuận về việc chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân, thậm chí việc thỏa thuận chia tài sản này trong
nhiều trường hợp chỉ cần lập bằng văn bản không có sự công chứng, chứng thực.
Vợ chồng còn có thể thỏa thuận về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản này, nếu
không thỏa thuận thì chế độ tài sản của vợ chồng dường như được đặt ở chế độ
16
biệt sản
34
. Qui định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn qui định về các thỏa thuận
trong vấn đề tài sản vợ chồng đã tạo nên một sự khác biệt đáng kể so với chế độ
tài sản pháp định thuần túy vẫn thường thấy.
1.3. HÔN ƯỚC TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1. Hôn ước theo pháp luật của Cộng hòa Pháp
Pháp là quốc gia đầu tiên thuộc hệ thống civil law chính thức ghi nhận giá
trị pháp lí của hôn ước trong văn bản qui phạm pháp luật
35
, đó là bộ luật dân sự
Pháp năm 1804 hay còn gọi là bộ luật Napoleon
36
. Là một sản phẩm của quá
trình pháp điển hóa giữa những qui định mang tính chuẩn mực trong pháp luật
La mã và một số tập quán đương thời, bộ luật dân sự Pháp thường được xem là
khuôn vàng thước ngọc để các quốc gia khác học tập khi xây dựng dân luật. Cho
đến ngày nay, chúng ta vẫn không thể phủ nhận tính mẫu mực của các qui định
trong dân luật Pháp.
Bộ luật dân sự Pháp dành riêng thiên V quyển thứ 3 để qui định về hôn
người được ủy quyền. Khi lập hôn ước công chứng viên cấp cho các bên giấy
chứng nhận có ghi rõ họ tên, nơi cư trú của công chứng viên, tư cách và nơi ở
của các bên kết hôn, ngày lập hôn ước, trong giấy chứng nhận cũng phải ghi rõ
là phải nộp giấy này cho viên chức hộ tịch trước khi đăng kí kết hôn
38
. Để đảm
bảo quyền lợi cho người thứ ba trong giao dịch với vợ chồng, việc lập hôn ước
có thể được ghi trong giấy đăng kí kết hôn hoặc ghi rõ trong các văn bản giao
dịch với người thứ ba nếu không thì với người thứ ba vợ chồng được coi như là
kết hôn theo chế độ pháp lí chung
39
.
Việc sửa đổi hôn ước: Sửa đổi trước khi kết hôn: việc sửa đổi thỏa thuận
về tài sản vợ chồng trước khi kết hôn phải do hai người nam nữ thỏa thuận, việc
thỏa thuận này phải có mặt của các bên tham gia hợp đồng và người được ủy
quyền. Bản hôn ước đã sửa đổi cũng phải đảm bảo những yêu cầu về hình thức
cũng như đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba như bản hôn ước đã lập ban
đầu
40
. Sửa đổi sau khi kết hôn: sau khi kết hôn, hôn ước chỉ được sửa đổi sau 2
năm áp dụng, việc thay đổi phải được công bố cho người các con đã thành niên
và các chủ nợ, nếu những người được thông báo này phản đối thì việc sửa đổi
hôn ước sẽ phải thông qua thể thức phê chuẩn của tòa án nơi vợ chồng cư trú
41
.
38
Những chế độ tài sản vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản chung (có
thể lựa chọn chế độ cộng đồng toàn sản hoặc chế độ cộng đồng động sản và tạo
sản) và chế độ tài sản riêng (chế độ biệt sản, chế độ tài sản riêng tương đối). Có
thể thấy, việc thỏa thuận lựa chọn trong hôn ước của pháp là lựa chọn chế độ tài
sản, điều này sẽ làm mọi việc đỡ phức tạp và tiểu tiết hơn việc vợ chồng tự thỏa
thuận đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng và sự chuyển hóa của các khối tài
sản này như thế nào.
Với chế độ tài sản chung: Chế độ cộng đồng toàn sản: nếu vợ chồng
thỏa thuận chọn chế độ cộng đồng toàn sản: tất cả tài sản của vợ chồng sẽ có
và hiện có (bao gồm cả tài sản của riêng vợ hoặc chồng trước thời kì hôn nhân)
sẽ thuộc khối tài sản qui định tại Điều 1404 (đồ dùng, tư trang cá nhân…) Chế
độ cộng đồng động sản và tạo sản: về cơ bản sẽ gần giống với chế độ tài sản
pháp định nhưng cũng có một số điểm khác biệt, ví dụ như: vợ chồng có thể
thỏa thuận về việc phân chia tài sản không đều nhau, về việc trích khấu tài sản
có bồi thường
42
…
Với chế độ tài sản riêng: Chế độ biệt sản: nếu lựa chọn chế độ tài sản
này, vợ chồng không có tài sản cộng đồng, mỗi bên giữ quyền quản lí, hưởng
dụng và định đoạt đối với khối tài sản thuộc về mình. Mỗi bên vợ, chồng chịu
trách nhiệm về những khoản nợ riêng và có nghĩa vụ đóng góp vào nhu cầu
chung của gia đình. Việc thực hiện theo thoả thuận hoặc theo qui định của pháp
luật. Trong quan hệ với người thứ ba vợ chồng có thể dùng mọi cách để chứng
minh rằng mọi tài sản thuộc về mình
43
. Chế độ tài sản riêng tương đối: Đây
được coi là một chế độ tài sản hỗn hợp: tách riêng tài sản trong thời kỳ hôn nhân
và cộng đồng tài sản khi chấm dứt hôn nhân. Trong thời kì hôn nhân, vợ chồng
thực hiện chế độ tách riêng tài sản, mỗi bên giữ một phần tài sản riêng và quyền
quản lí, hưởng dụng và định đoạt. Vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện những
tạm dịch là hậu hôn ước). Trong suốt thế kỉ 18 thì thông luật (common law)
không cho phép vợ chồng lập hôn ước bởi vì họ cho rằng khi hai người kết
hôn thì họ đã hòa làm một và không thể có giao dịch khi chỉ có một chủ thể,
một lí do nữa là một người phụ nữ đã có chồng thì họ không được phép
tham gia kí kết các hợp đồng trừ khi đã li thân
45
. Đến khoảng giữa thế kỉ 19
thì một số án lệ ở Hoa Kì đã cho phép sự tồn tại của hôn ước, đến tháng 7
năm 1983 một đạo luật về hôn ước (Uniform premarital agreement Act gọi
44
Về vấn đề này, xem thêm tại Th.S Bùi Minh Hồng, Quan hệ về tài sản của vợ chồng trong hoạt động hợp tác sản
xuất, kinh doanh theo pháp luật của Cộng hòa Pháp, Đề tài khoa học cấp trường: Tài sản của vợ chồng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh (chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Phương Lan), Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2008
45
Ronald B. Standler (Copyright 2003), Prenuptial and Postnuptial contract Law in the USA, page 3
www.rbs2.com/dcontract2.pdf
20
tắt là UPAA
46
) đã được ban hành dựa trên kết quả của các án lệ, UPAA được
chấp nhận ở đa số các bang của Hoa Kì
47
, một số bang còn lại có những qui
định khác hay đặc biệt hơn so với UPAA. Theo UPAA hôn ước ở Mĩ có một
số đặc trưng sau:
Về nội dung: Các bên thỏa thuận trong hôn ước với các nội dung sau
Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đổi với tài sản của một bên hoặc cả
21
Mặc dù hôn ước ở Hoa Kì được qui định tương đối thoáng, nhưng trong
thực tế các bên lập hôn ước lại chi trả khá nhiều tiền cho luật sư để có một hôn
ước hợp pháp và chặt chẽ về thủ tục nhất.
1.3.3. Hôn ước theo pháp luật của Nhật Bản
Theo một cuộc khảo sát của tổ chức Master Card đã xếp loại tỉ lệ tiến bộ
của phụ nữ trong 13 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên ý kiến của lực lượng lao
động nữ xem họ đã được học qua bậc tiểu học hay chưa, có bao nhiêu người giữ
các chức vụ quan trọng trong xã hội, và thu nhập trung bình của họ thế nào: với
tỉ lệ 55,5%, phụ nữ Nhật Bản được coi là kém bình đẳng giới so với các nước
khác, số phụ nữ Nhật là lao động chiếm 70,3%, số người giữ các chức vụ quan
trọng của nhà nước chiếm 62,2%, những người có thu nhập trung bình 51,3%
48
.
Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình
đẳng giới. Hôn nhân một vợ một chồng của Nhật Bản mới được ghi nhận
khoảng 100 năm trước vào đầu thời kì Minh Trị, ngay cả đến thời điểm hiện nay
Nhật Bản cũng chỉ cho phép phụ nữ được tái giá sau 6 tháng kể từ ngày cuộc
hôn nhân trước của họ chấm dứt
49
và người vợ khi kết hôn thì phải mang họ
chồng
50
, luật dân sự ở Nhật Bản được coi là một trong những sản phẩm của cuộc
cái cách Minh Trị 1868
51
. Hôn ước hay phần lớn những qui định trong bộ luật
dân sự Nhật Bản thường do được học tập từ dân luật Đức hoặc Pháp, tuy nhiên