vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong nền kinh tế thế giới và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này với việt nam - Pdf 10

ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ B ÀI : Vai trò của các công ty xuyên
quốc gia trong nền kinh tế thế giới và ý
nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này với
Việt Nam?
GVHD: Nguyễn Xuân Khoát Sinh viên thực hiện:
Trần Đức Mạnh.
Lớp: K44KTCT
Huế, 11/2013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự hình thành và phát triển của các tổ chức xuyên quốc gia hay còn gọi là các công ty
xuyên quốc gia là một trong những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản ngày nay. Các
công ty xuyên quốc gia cũng là sản phẩm của quá trình tích tụ và tập trung tư bản sản
xuất trong điều kiện quốc tế hóa, là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất trong
điều kiện lực lượng sản xuất đã được quốc tế hóa sâu rộng, cũng chính là hình thức tổ
chức doanh nghiệp quốc tế trong nền kinh tế thị trường. Và việc nghiên cứu các công ty
xuyên quốc gia có thể cho chúng ta hiểu thêm đặc điểm chủ nghĩa tư bản hiện ngày nay.
Các công ty xuyên quốc gia hiện có vai trò rất lớn trong nền kinh tế thế giới hiện nay,
lực lượng đóng góp nhiều cho xã hội như: tích cực trong nghiên cứu khoa học, áp dụng
nhanh chóng các thành tựu đó vào thực tiễn có hiệu quả cao, đào tạo cho xã hội nguồn
lao động tay nghề cao, thúc đẩy giao lưu buôn bán thế giới mặc dù vẫn còn đó nhiều hạn
chế mà các công ty xuyên quốc gia gây ra cho kinh tế xã hội các nước trên thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, sự xuất hiện các công ty
xuyên quốc gia trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế đã có ảnh hưởng rất
lớn tới sự phát triển của nền kinh tế các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng. Chính
sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam đã đem đến sự khởi sắc cho nền
kinh tế Việt Nam, nhưng cũng đem lại không ít những tác động tiêu cực đến sự phát triển
kinh tế của Việt Nam. Vì thế, để nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty xuyên quốc
gia thì việc nghiên cứu về các công ty xuyên quốc gia; đặc biệt đi sâu phân tích bản chất

Ngày nay, xuyên quốc gia hóa trong sản xuất kinh doanh trở thành xu hướng chung
của thời đại. Do vậy có thể định nghĩa chung như sau: “Các công ty xuyên quốc gia hiện
đại là những công ty của một quốc gia thực hiện sản xuất kinh doanh quốc tế thông qua
việc thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài – nhằm thực hiện việc mở rộng thị trường
và nguồn thu lợi nhuận”.
1.2Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia.
Sự ra đời của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) trên thế giới gắn liền với sự ra đời và
phát triển của nền sản xuất lớn Tư bản chủ nghĩa. Các công ty xuyên quốc gia là hình
thức phát triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của quá
trình tích tụ và tập trung sản xuất qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản dưới
sự tác động của các qui luật thị trường, là sự vận động mở rộng của quan hệ sản xuất Tư
bản chủ nghĩa thông qua các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh giản đơn đến kết cấu
tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế. Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia xuất phát
từ các nguyên nhân:
- Do sự tích tụ và tập trung sản xuất được đẩy mạnh, tất yếu dẫn đến sự hình thành các
công ty xuyên quốc gia. Mác và Ăngghen đã dự đoán rằng sự tích tụ và tập trung tư bản
sẽ dẫn đến sự hình những xí nghiệp tư bản có quy mô lớn đồng thời chế độ tín dụng đẩy
nhanh tốc độ phát triển lực lượng sản xuất và sự hình thành một thị trường thế giới.
- Về mặt lịch sử các tổ chức độc quyền đã tồn ngay trong thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh.
Song chỉ đến giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản khi các tổ chức độc quyền quốc
gia ra đời từ quá trình tích tụ sản xuất và cùng với quá trình tích tụ tập trung đó được đẩy
mạnh hơn nữa, các độc quyền quốc gia lớn mạnh và vượt biên giới ra bên ngoài thực hiện
hoạt động quốc tế thì hình thành các độc quyền quốc tế.
- Trong thời đại tư bản tài chính, xu hướng bành trướng trở thành phổ biến và xuất khẩu tư
bản trở thành một tất yếu kinh tế bằng cách thông qua các công ty xuyên quốc gia có thể
mang lại hiệu quả cao.
- Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đặc biệt là những thành tựu
các mạng thông tin đã tạo ra sự quản lý từ ra nhằm rút ngắn những hao mòn vô hình của
tư bản cố định.
Tóm lại, tích tụ tư bản và tập trung sản xuất lâu dài đã dẫn đến việc hình thành các

Với khoảng 60000 công ty mẹ và 500000 công ty chi nhánh, các công ty xuyên quốc
gia đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Hiện các công ty này đang nắm và
kiểm soát 40% sản lượng công nghiệp, 60% ngoại thương, 805 kỹ thuật mới của thế giới
chủ nghĩa tư bản. Có thể nói, các công ty xuyên quốc gia là lực lượng cơ bản của chủ
nghĩa tư bản hiện đại. Chúng tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội của thế giới.
Vai trò của các công ty xuyên quốc gia thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây:
2.1Thực hiện sự phân công lao động quốc tế.
- Nét điển hình của quốc tế hóa đời sống kinh tế trên thế giới ngày nay là sự phân công
chuyên môn hóa mà các công ty xuyên quốc gia là lực lượng thực hiện cơ bản. Đặc điểm
của sự phân công này là chuyên môn hóa hẹp. Về hình thức bên ngoài giống như kiểu
công trường thủ công của thế kỷ trước, nhưng hình thức, nội dung, quy mô hoàn toàn
mới.
- Thông thường, công ty mẹ và công ty chi nhánh ở các nước tư bản phát triển sẽ đảm nhận
những khâu đòi hỏi trình độ công nghệ cao, còn chi nhánh ở các nước đang phát triển tùy
vào điều kiện cụ thể có thể đảm nhiệm những khâu ít phức tạp hơn hoặc chỉ đòi hỏi lao
động giản đơn.
- Trong nội bộ của một tổng công ty xuyên quốc gia, việc thực hiện chuyên môn hóa trong
phân công lao động quốc tế đã được chỉ đạo hết sức nghiêm ngặt về kỷ thuật. Vì vậy sản
phẩm thường đạt chất lượng cao, năng suất lao động tăng và hoạt động kinh doanh có
hiệu quả, sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Xu hướng chung là tập trung và các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao và
chuyển giao các ngành cổ truyền, ngành có hàm lượng lao động thủ công cao, dễ gây ô
nhiễm môi trường, kém hiệu quả sang các nước đang phát triển
2.2Thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
- Một trong những vai trò nổi bật của các công ty xuyên quốc gia là thúc đẩy hoạt động
thương mại thế giới. Trong qúa trình hoạt động của mình các TNCs đã thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế. Hay nói cách khác là TNCs
thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất
nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao
đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn. TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng

phát triển công nghệ. TNCs kiểm soát tới 80% công nghệ cao của toàn thế giới. Công
nghệ là yếu tố tạo nên “giá trị cốt lõi” trong chuỗi giá trị của TNCs, do đó TNCs thường
giữ bí mật công nghệ và thực hiện các hoạt động chuyển giao công nghệ theo phương
thức thích hợp để bảo vệ và phát triển các giá trị cốt lõi đó.
- TNCs thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ trên toàn thế giới ở hầu hết các lĩnh
vực của khoa học – công nghệ và quản lý. TNCs từ các nước công nghiệp phát triển như
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,…thường đi đầu trong hoạt động chuyển giao công nghệ và các
nước công nghiệp phát triển cũng là các nước đi đầu trong việc tiếp nhận các công nghệ
chuyển giao này.
- Công nghệ có trong tất cả các lĩnh vực như công nghệ sản xuất – chế tạo, công nghệ lắp
ráp, công nghệ chế biến, công nghệ thu hoạch,…Chuyển giao công nghệ có thể thực hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau như cấp giấy phép, chuyển giao trọn gói hoặc từng phần,
chuyển giao kiểu “chìa khóa trao tay”, chi nhánh nước ngoài sở hữu hoàn toàn, chi nhánh
nước ngoài sở hữu tối thiểu, liên doanh, nhượng quyền, hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng, hợp đồng quản lý, hợp đồng thầu phụ quốc tế.
- Cơ cấu sản phẩm công nghệ chuyển giao thường bao gồm công nghệ thiết kế và xây
dựng, công nghệ kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing và các
công nghệ khác. Các loại công nghệ này sẽ được chuyển giao cho từng nước hoặc từng
nhóm nước khi có nhu cầu và phụ thuộc vào chiến lược chuyển giao của TNCs và thường
được diễn ra trong nội bộ từng công ty chi nhánh hoặc giữa các công ty chi nhánh nhằm
bảo vệ bí mật công nghệ, tránh sự ăn cắp, sao chép hoặc cải tiến.
- TNCs là các chủ thể và tác nhân phát triển công nghệ chủ yếu trong nền kinh tế thế giới.
Các hoạt động phát triển công nghệ được thực hiện thông qua việc thành lập các cơ sở
nghiên cứu trong nước, khai thác các tác động ngoại ứng tích cực, hoạt động đào tạo và
phổ biến công nghệ. Hoạt động này còn được thực hiện ở hình thức chuyển giao công
nghệ sẵn có từ bên ngoài vào. Ngoài ra, TNCs còn là tác nhân thúc đẩy quá trình phát
triển công nghệ ở các nước đang phát triển. Hoạt động phát triển công nghệ của TNCs
thường được thực hiện theo ba hình thức cơ bản là phát triển công nghệ trong từng chi
nhánh của TNCs, phát triển công nghệ trong TNCs có liên hệ với các công ty bản địa và
tác động của TNCs đến bộ phận phát triển công nghệ của các công ty có liên quan theo

các TNCs làm ăn hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhãn rỗi của người dân và của
các nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này.
+) Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh các
TNCs còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ Công ty mẹ, từ các chi nhánh
thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính và tín dụng thế giới… Đây
chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triển hiện nay.
+) TNCs góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các nước thông qua việc tích
luỹ ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu. Như đã phân tích ở trên. Hoạt động xuất khẩu
của TNCs chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước.
Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩy thương mại thế giới của các TNCs mà còn
đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh
toán của nước chủ nhà.
Tóm lại, TNCs đóng vai trò rât to lớn trong hoạt động đầu tư quốc tế. Xét trên góc độ
nền kinh tế toàn cầu thì TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế
giới. Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì TNCs góp phần làm tăng tích luỹ vốn
cho nước chủ nhà.
2.6Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực.
- Tạo việc làm:
+ TNCs là lực lượng cơ bản, có vị trí quan trọng trong tạo việc làm trực tiếp và gián
tiếp. Đây là một tất yếu phổ biến của TNCs bởi vì tranh thủ lao động giá rẻ là một trong
những mục tiêu của TNCs. Nhìn chung TNCs thường tạo việc làm ở các ngành công
nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp chiếm khoảng 4/5 tổng số
lao động được TNCs tạo ra. Nhiều việc làm còn được tạo ra một cách gián tiếp thông qua
các hoạt động liên kết kinh tế, cung cấp dịch vụ cho các công ty nội địa.
+ Tầm quan trọng của TNCs đối với việc làm luôn gắn với động thái dòng FDI trên thế
giới. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp của TNCs tạo ra những công ty,
nhà máy, cơ sở sản xuất mới, tăng thêm cơ hội việc làm cho người lao động. Đối với
TNCs, một trong những động cơ chủ yếu khi tiến hành đầu tư trực tiếp vào các nước
đang phát riển là tìm kiếm nguồn lao động rẻ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa do
công ty sản xuất ra.

Các công ty xuyên quốc gia đã, đang và ngày càng phát triển mạnh tương ứng thì
những ảnh hưởng cũng như tác động của nó lên các nước đang phát triển như Việt Nam
chúng ta ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc. Các công ty xuyên quốc gia cũng là một biểu
hiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại vì thế việc nghiên cứu các công ty xuyên quốc gia đối
với nước ta thực sự có ý nghĩa rất quan trọng và to lớn, cụ thể:
- Hiểu được các công ty xuyên quốc gia chúng ta có thể hiểu thêm và sâu sắc hơn về chủ
nghĩa tư bản hiện đại. Đó là tiền đề cho cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa tư bản của
nước ta.
- Hiểu được các công ty xuyên quốc gia là cơ sở để chúng ta có thể tiếp nhận những ảnh
hưởng, tác động tích cực cũng như hạn chế được những bất cập, rủi ro mà các công ty
xuyên quốc gia mang lại và có biện pháp xử lý.
- Là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta có những định hướng đúng đắn cho sự phát triển đất
nước trong thời gian tới.
- Là cơ hội để chúng ta phát triển đất nước nếu chúng ta biết nắm bắt những thuận lợi mà
các công ty mang lại vì thế hiểu các công ty xuyên quốc gia rất quan trọng.
Những điều đó được thể hiện cụ thể:
3.1Phát huy mặt tích cực từ sự xâm nhập của các công ty xuyên quốc gia
- Sự hiện diện của tnc đồng nghĩa với việc cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho sự
nghiệp công nghiệp hoá của đất nước. Hơn thế, sự đầu tư của các công ty nước ngoài
không chỉ giải quyết cho Việt Nam những vấn đề về vốn mà cả công nghệ, trang thiết bị,
kinh nghiệm, kỹ năng quản lý…lâu nay còn yếu kém.
- Các công ty xuyên quốc gia đã tham gia tích cực và việc duy trì nhịp độ tăng trưởng cao
và ổn định cho nền kinh tế, mở rộng xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách.
- Các công ty xuyên quốc gia đã giải quyết số lượng lớn lao động, tham gia phát triển
nguồn nhân lực cho đất nước. Sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia đã thu hút
hàng ngàn lao động Việt Nam vào làm việc. Những người lao động làm việc cho các
công ty này thường được tuyển chọn kỹ lưỡng, bồi dưỡng tay nghề, công việc gắn với
công nghệ mới, với tác phong công nghiệp hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến, do đó họ
trở thành người lao động lành nghê, có kỹ năng và tính kỷ luật cao.
- Yêu cầu của công nghiệp hóa là phát triển tỷ trọng sản xuất công nghiệp, đặc biệt là

sự hiểu biết lẫn nhau, qua đó hạn chế được những hậu quả do bất đồng về văn hóa giữa
các nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước.
3.3Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các công ty xuyên quốc gia.
- Mục đích của các công ty xuyên quốc gia khi đầu tư vào các nước đang phát triển nhằm
khai thác lợi thế thuê nhân công rẻ, nên Việt Nam sẽ giải quyết được vấn đề việc làm và
có khả năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, xét về dài hạn khi khoa học
ngày càng phát triển thì lợi thế về lao động rẻ do đông về số lượng, khỏe về cơ bắp sẻ
thay thế bằng lực lượng lao động trẻ, có tri thức, tay nghề và giá thuê rẻ một cách tương
đối. Vì thế phát triển nguồn nhân lực có chất lượng để đảm bảo tính bền vững của phát
triển kinh tế, đồng thời để tăng tính hấp dẫn đối với việc thu hút các công ty xuyên quốc
gia là vấn đề cấp bách và cần có chiến lược đầu tư dài hạn. Do đó Việt Nam đang đứng
trước nhiều thách thức cần có giải pháp khắc phục về trước mắt cũng như lâu dài: cần có
kế hoach đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động hiện nay, đồng thời đào tạo nhanh một
lực lượng lao động theo hướng đáp ứng yêu cầu của các công ty xuyên quốc gia trên cơ
sở huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
3.4Chủ động thu hút các công ty xuyên quốc gia
- Có nâng cao tính chủ động thì mới tạo ra được môi trường đầu tư hấp dẫn, hướng hoạt
động đầu tư theo định hướng của sự phát triển cơ cấu kinh tế, hạn chế tính bị động trong
thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty xuyên quốc gia trên cơ sở
đảm bảo lợi ích các bên tham gia. Thu hút sự thâm nhập của các công ty xuyên quốc gia
không chỉ ở hệ thống pháp luật được xây dựng với chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn, mà
cần môi trường đầu tư phát triển cân đối, trong đó có nhiều chủ thể kinh tế tham gia hoạt
động kinh doanh với tư cách là nhà doanh nghiệp có năng lực về tài chính, sự nhạy bén
trong kinh doanh,.là hạt nhân tin cậy của các nhà đầu tư khi tìm cơ hội kinh doanh. Vì
vậy, cần có sự kết hợp đồng bộ giữa Nhà nước và doanh nghiệp để đảm bảo cơ sở niềm
tin cho các chủ đầu tư.
KẾT LUẬN
Từ những điều đã phân tích ở trên ta có thể thấy rằng: Sự hình thành và phát triển của
các công ty xuyên quốc gia là một tất yếu khách quan trong xu thế phát triển kinh tế toàn
cầu. Việc phân tích sự ra đời và đặc điểm của các công ty xuyên quốc gia, cho thấy vai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status