lời mở đầu
Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN, cùng với công cuộc Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh thì nền kinh tế đất nớc cần phải đợc tăng trởng và
phát triển. Để làm đợc điều đó cần có một đội ngũ cán bộ làm công tác tín
dụng nhằm giúp cho ngân hàng có quyết định đúng đắn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng, giúp ngân hàng thu đợc lợi nhuận và giảm rủi ro, đảm
bảo đồng vốn cho vay phát huy đợc hiệu quả kinh tế - xã hội.
Tại Chi nhánh Đông Đô - Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam,
công tác tín dụng có vai trò rất quan trọng, không chỉ trực tiếp tác động đến
sự sống còn của hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh mà còn tác động gián
tiếp tới sự phát triển của đất nớc. Do đó trong những năm gần đây, công tác
tín dụng tại Chi nhánh Đông Đô - NHĐT & PT Việt Nam đợc chú trọng,
không ngừng phát triển và đã đạt đợc nhiều thành công.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề, sau thời gian thực tập, tìm hiểu
thực tế tại Chi nhánh Đông Đô -NHĐT&PT Việt Nam em nhận thấy mục
đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống hoá những lý luận cơ bản về
công tác tìn dụng trung và dài hạn. Việc đánh giá chất lợng công tác tín dụng
trung và dài hạn tại Chi nhánh Đông Đô - NHĐT&PT Việt Nam nhằm rút ra
những kết quả, những hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân đa đến hạn chế
đó. Từ đó, đa ra một số giải pháp và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn. tại NHTM nói chung và tại - Chi
nhánh Đông Đô - HĐT&PT Việt Nam nói riêng.
Khoá luận tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới công tác
tín dụng trung và dài hạn Phạm vi nghiên cứu là công tác cho vay vốn trung
và dài hạn tại Chi nhánh Đông Đô - NHĐT&PT Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận sử dụng các phơng pháp nh: ph-
ơng pháp phân tích, luận giải, phơng pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng để
phân tích, đánh giá, rút ra kết luận và những đề xuất chủ yếu. Là một sinh
viên sắp tốt nghiệp trong giai đoạn này của đất nớc, với những kiến thức đã
nặng lãi là rất đa dạng, ví dụ: cho vay bằng tiền thu nợ bằng tiền, cho vay
bằng tiền thu nợ bằng hiện vật Đặc điểm nổi bật của cho vay nặng lãi là lãi
xuất vay rất cao và cha có sự quy định chung. Chủ nghĩa t bản ra đời đẩy lùi
quan hệ cho vay nặng lãi, tuy nhiên nó vẫn cha bị thủ tiêu mà vẫn tồn tại ở
hàng thứ yếu. Trong nền kinh tế thị trờng, mọi vận hành kinh tế đều đợc tiền
tệ hoá. Các chủ thể kinh tế phải tự kiếm nguồn vốn trên thị trờng và tự chủ
trong việc sử dụng nguồn vốn đó. Tuy nhiên không phải khi nào nhu cầu về
vốn tiền tệ cũng đảm bảo nghĩa là nhu cầu giao lu vốn xuất hiện, nhu cầu này
từ phía những ngời cần vốn và những ngời có vốn. Những ngời cần vốn là
những xí nghiệp, các hộ gia đình, chính phủ và các tổ chức kinh tế xã hội,
đây cũng là ngời có khả năng cung cấp vốn. Có thể nói nhờ quan hệ cho vay
đã góp phần thúc đẩy quy mô tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay
vốn t bản. Có 2 hình thức cho vay là cho vay trực tiếp và cho vay thông qua
các trung gian tài chính. Bên canh u điểm là chi phí thấp thì cho vay trực tiếp
vẫn còn tồn tại những nhợc điểm lớn:
- Thứ nhất là sự hạn chế về không gian địa lí.
- Thứ hai, giữa những ngời đi vay và ngời cho vay khó đạt đợc điểm
chung về quy mô và thời hạn của khoản vốn vay.
- Thứ ba, cho vay trực tiếp mang rủi ro cao do không có sự phân tán
rủi ro.
Chính vì vậy cho vay thông qua các trung gian tai chính đặc biệt hoạt
động cho vay của các ngân hàng thơng mại là rất quan trọng trong nền kinh
tế thị trờng. Hoạt động cho vay của các ngân hàng thơng mại diễn ra bao
gồm 2 đối tợng: một bên là ngân hàng, một bên là các tổ chức khác hoặc dân
c.
Hoạt động cho vay của các ngân hàng mang bản chất chung của quan
hệ vay mợn, đó là có sự hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, là
quan hệ chuyển nhợng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai
bên cùng có lọi có tính chất thoả thuận lón. Điểm khác biệt giữa hoạt động
cho vay của các ngân hàng và cho vay trực tiếp là hoạt động cho vay của các
dịch để đáp ứng nhu cầu giao dịch hàng ngày càng tăng trong xã hội. Trong
điều kiện đó, chất lợng cho vay ngày càng đợc quan tâm, bởi lẽ:
Đảm bảo chất lợng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò
trung tâm thanh toán: khi chất lợng cho vay đợc đảm bảo sẽ tăng vong quay
vốn cho vay, với một lợng tiền nh cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn
hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lu thông, củng cố sức mua của đồng
tiền.
Chất lợng cho vay góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng tr-
ởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng tạo tiền
của ngân hàng thơng mại, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh
toán không dùng tiền mặt, ngân hàng thơng mại có thể mở rộng tiền ghi sổ
gấp nhiều lần so với số tiền thực có, hoặc vì lí do nào đó, các chủ tài khoản
có khả năng phát hành séc và thanh toán bằng các phơng tiện khác cho khách
vợt quá số tiền gửi thực có, hay khi ngân hàng xử lý nghiệp vụ thanh toán cho
khách hàng đã cung cấp cho doanh nghiệp một khối lợng thanh toán bằng
cách ghi có trớc ghi nợ sau. Nh vậy, nghiệp vụ cho vay của ngân hàng th-
ơng mại có quan hệ chặt chẽ với khối lợng tiền trong lu thông và là nguyên
nhân tiềm ẩn của lạm phát. Đảm bảo chất lợng cho vay sẽ tạo khả năng giảm
bớt tiền thừa trong lu thông, góp phần hạn chế lạm phát ổn định tiền tệ, tăng
uy tín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của các sản phẩm, dịch vụ trong
tơng lai của các công trình đầu t.
Hoat động cho vay là công cụ thực hiên chủ trơng của Đảng và Nhà n-
ớc về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Mặt khác
thông qua sự đánh giá phân tích khả năng phát triển của các đối tợng định
đầu t để có những quyết định đúng đắn nhằm khai thác khả năng tiềm tàng về
tài nguyên, lao động , tiền vốnđể tăng cờng năng lực sản xuất, cung cấp
ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho ngời lao động Chất lợng cho vay trung và dài hạn đợc nâng cao
sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa
các vùng, các ngành trong cả nớc, ổn định và phát triển kinh tế.
tiêu, mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của chất lợng cho vay. Với hình
thức cho vay trung và dài hạn ta có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau đây:
1.2.3.1. Tỉ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vợt quá thời gian
cho vay theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian gia
hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu. Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn
cho thấy trong tổng d nợ cho vay trung và dài hạn có bao nhiêu % là nợ quá
hạn.
Nợ quá hạn của cho vay trung và dài hạn
Tỉ lệ nợ quá hạn của cho =
vay trung và dài hạn(%) Tổng d nợ cho vay trung và dài hạn
Nợ quá hạn có thể chia làm hai loại:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là những khoản nợ mà ngời vay vốn
có thể tiếp tục trả nợ ngân hàng sau khi quá hạn. Lý do của những khoản nợ
bị chậm trễ này có thể là do ngân hàng định kì trả nợ cha phù hợp, hoặc do sự
thay đổi về cơ chế, luật pháp, chính sách hoặc do những thay đổi trên thị tr-
ờng, thiên tai, dịch hoạ dẫn đến những thay đổi trong môi trờng kinh tế
làm cho dòng ngân quỹ của khách hàng không ăn khớp với thời hạn trả nợ đã
định trớc. Kết quả là khách hàng không có khả năng hoàn trả khoản nợ đúng
hạn nhng vẫn có khả năng thanh toán khoản vay sau đó.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: là những khoản nợ quá hạn
mà ngân hàng không có khả năng thu nợ từ ngời vay hoặc khả năng thu nợ là
rất nhỏ. Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi xảy ra khi ngời vay lừa đảo
hoặc làm ăn thua lỗ và mất khả năng trả nợ, khi đó ngân hàng bị mất vốn.
Chỉ tiêu này càng cao thì ảnh hởng xấu đến uy tín và trực tiếp ảnh hởng tới
hoạt động kinh doanh của ngân hàng do nó ảnh hởng tới kế hoạch thu nợ của
ngân hàng, tăng thêm chi phí quản lý cho ngân hàng. Tiêu chí này càng nhỏ
càng tốt.
D nợ quá hạn không có khả năng đòi
Tỷ lệ nợ quá hạn không =
dự án tạo ra. Do đó, rất khó để xác định đâu là phần giá trị gia tăng do khoản
cho vay tao ra, đâu là phần gia tăng do các nguồn vốn khác tạo ra. Tuy nhiên,
có thể ớc lợng một cách tơng đối là tính theo % vốn góp vào dự án từ khoản
cho vay của ngân hàng.
Nhiều tác động khác của khoản cho vay của ngân hàng khó có thể
đánh giá qua các chỉ tiêu định lợng mà chỉ có thể đánh giá qua các chỉ tiêu
định tính nh tác dụng của cho vay trung và dài hạn với việc: đổi mới cơ cấu
kinh tế xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, tăng năng suất lao động xã
hội
1.2.4.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
a. Chính sách cho vay của ngân hàng:
Mỗi một ngân hàng thơng mại đều xây dựng cho mình một chính sách
cho vay rieng dới những hình thức khác nhau. Thông thờng chính sách cho
vay đợc thể hiện dới hình thức là một văn bản chính thức và một số văn bản
ghi nhớ không chính thức. Tuy nhiên, trong một số trờng hợp chính sách cho
vay chỉ có thể là chỉ thị bằng lời của ban lãnh đạo ngân hàng hoặc là một tập
hợp các hành vi, các thông lệ và những tập quán
Đối với các ngân hàng thơng mại ở Việt nam thì chính sách cho vay
thờng đợc thể hiện dới hình thức văn bản,trong đó đa ra lý luận và khái niệm
cơ bản của việc đầu t, cho vay. Văn bản này bao gồm các tiêu chuẩn, các h-
ớng dẫn và các giới hạn để chỉ đạo quy trình ra quyết định cho vay. Chính
sách cho vay tạo cho ngời cán bộ tín dụng ý thức về phơng hớng và một
khung tham chiếu xác định dể theo đó xem xét cân nhắc một đon vị vay nhất
định. Khi xây dựng chính sách cho vay, các nhà quản lý cần chú ý nội dung
của chính sách cần phù hợp với đờng lối phát triển của chính phủ, đồng thời
đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của ngời gửi tiền, ngời đi vay và chính
bản thân của ngân hàng. Một chính sách cho vay tốt sẽ giúp cán bộ tín dụng
có cơ sở vững chắc để đa những khoản cho vay an toàn hiệu quả,
b. Khả năng nguồn vốn:
Trong việc nâng cao chất lợng cho vay, nguồn vốn huy động đóng vai
trung và dài hạn để đầu t cho các dự án xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi
phục và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Tiếp
theo, bớc kiểm tra quá trình cho vay giúp ngân hàng nắm đợc nguyên nhân
diễn biến của khoản cho vay đã cung cấp để có những hành động điều chỉnh
hoặc can thiệp khi cần thiết nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra.
Thu nợ, thu lãi và thanh lý nợ là khâu có tính quyết định đến sự tồn tại của
ngân hàng, do đó ngân hàng phải tích cực trong công tác thu lãi, thu nợ. Sự
nhạy bén của ngân hàng thông qua việc thu lãi, thu nợ để phát hiện kịp thời
những hiện tợng bất thờng đối với mỗi món vay cùng với biên pháp xử lý
chính xác, đúng lúc sẽ giảm thiểu các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác
động tích cực tới chất lợng cho vay.
d. Chất lọmg nhân sự:
Nhiệm vụ cụ thể của một cán bộ tín dụng phải thực hiện phụ thuộc vào quy
mô và tổ chức nhân sự của ngân hàng, ở một ngân hàng thơng mại lớn, cán
bộ tín dụng có thể là các chuyên gia giải quyết một số lợng nhất định các
món vay lớn có liên quan đến một ngành. ở một ngân hàng trung bình, cán
bộ tín dụng có thể giải quyết một số lợng lớn các hoạt động kinh doanh, từ
các hoạt động dịch vụ bán lẻ quy mô nhỏ đến các hoạt động sản xuất quy mô
lớn. Cán bộ tín dụng ở một ngân hàng thơng mại nhỏ có thể thực hiện bất cứ
nghiệp vụ gì, bao gồm cả công việc liên quan tới cho vay t nhân đến trả góp
thu nợ và marketing. Khi thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình ngời cán bộ tín
dụng phải hoàn thành 2 mục tiêu cơ bản là: phục vụ các nhu cầu của khach
hàng một cách nhiệt tình đảm bảo sự công bằng, đồng thời đảm bảo khoản
cho vay có hiêu quả, tạo lợi nhuận cho ngân hàng trên cơ sở an toàn. Ngoài
ra, cán bộ tín dụng có trách nhiệm kiểm tra các món vay hiện có , báo cáo
tiến độ giải ngân thu nợ dịnh kì từ ngời vay, liên tục đánh giá triển vọng các
khoản cho vay để xác định các vấn đề khó khăn phát sinh càng sớm càng tốt.
Có thể nói, cán bộ tín dụng giữ một vai trò quyết trong hoạt động cho vay
của ngân hàng.
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, một cán bộ tín dụng hàng
thể xảy ra.
f. Công tác tổ chức của ngân hàng:
Công tác tổ chức tác động tới mọi mặt của hoạt động ngân hàng đặc biệt
tác động mạnh tới hoạt động cho vay. Ta đã biết hoạt động cho vay có khả
năng rủi ro lớn hơn tất cả các loại hình kinh doanh khác, do đó một sự sắp
xếp hợp lý chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban với nhau tạo nên một sự
phối hợp chặt chẽ sẽ giúp cho việc đánh giá một món vay toàn diên hơn và
chất lợng hơn.
Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập đến vấn đề giao đúng ngời đúng việc.
Sự phân công việc hợp lý khoa học sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của
cán bộ tín dụng, khi đánh giá một khoản cho vay họ sẽ dụa trên cơ sở thực tế
khách quan dám làm dám chịu với cách xử lý của mình.
Từ vai trò quan trọng của công tác tổ chức trên nên trong hoạt động của
mình cán bộ tổ chức cần sắp xếp cơ cấu bộ máy hoạt động trong ngân hàng
một cách khoa học, linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc huy động
vốn lẫn nguyên tắc cho vay, quản lý tài sản nợ, tài sản có cua ngân hàng.
Làm tốt công tác tổ chức là cơ sở để tiến hành nghiệp vụ cho vay lành
mạnh.
g. Kiểm soát nội bộ:
Đây là biên pháp giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng có đợc các thông tin về
tình hình kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh
đang xúc tiến phù hợp với các chế độ, chính sách và đáp ứng đợc mục tiêu đã
định.
Trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn hoạt động kiểm soát bao gồm:
- Kiểm soát chính sách cho vay, quy trình cho vay và các thủ tục có liên
quan đến các khoản vay ( thẩm quyền về điều hành, quản lý, giám sát các
khoản tiền cho vay, hồ sơ thủ tục cho vay).
- Kiểm tra định kì do kiểm soat viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trờng
hợp ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán kể cả các
nghiệp vụ liên quan tới kế toán cho vay.
a. Năng lực thị trờng của khách hàng:
Năng lực thị trờng đợc thể hiên qua chất lợng sản phẩm, giá cả sản phẩm,
chu ki sống của sản phẩm, vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng. Tìm hiểu
năng lực thị trờng của khách hàng sẽ giúp ngân hàng đánh giá đợc mặt mạnh,
yếu sản phẩm của khách hàng trên thị trờng, biết đợc sự phù hợp của dự án
hoạt động so với khả năng của khách hàng.
b. Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp đợc thể hiên ở khả năng độc lập tự
chủ tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và trả nợ. Nó còn thể
hiện ở số vốn tự có và tỉ trọng vốn tự có trong tông số vốn doanh nghiệp sử
dụng.
Một doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt sẽ phản ánh việc kinh doanh
của danh nghiệp từ trớc là có hiệu quả, nó cho thấy khách hàng có thể quản
lý vốn vay một cách tối u.
c. Năng lực sản xuất:
Năng lực của sản xuất thể hiện ở giá trị của công cụ lao động mà chủ yếu
là tài sản cố định biểu hiện cụ thể qua các quá trình sản xuất sản phẩm, công
nghệ sản xuất Nghiên cứu năng lực sản xuất cho biết quy mô sản xuất kinh
doanh của dónh nghiệp và sự phù hợp của quy mô đó trên thị trờng.
d. Năng lực quản lý:
Năng lực quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng thích nghi của bộ
máy quản lý doanh nghiệp trớc những biến độnh của cơ chế thị trờng, thể
hiện ở trình độ của cán bộ quản lý. Một doanh nghiệp có bộ máy quản lý tốt
sẽ phân bố kế hoạch sản xuất hợp lý, tiết kiệm đợc các chi phí hoạt động, sử
dụng hợp lý các nguồn lực, là cơ sở để doanh nghiệp làm ăn có lãi và trả đợc
nợ cho ngân hàng.
e. Uy tín của khách hàng:
Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các tổ
chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh giá uy tín của khách hàng.
Tránh chọn phải những khách hàng vay vốn sử dụng sai mục đích, khi có tiền
trên cơ sở doanh nghiệp sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ cho ngân hàng. Ng-
ợc lại khi nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng sẽ làm sản xuất ngng trệ, các
doanh nghiệp không bán đợc hàng, nguy cơ thua lỗ là rất lớn, khi doanh
nghiệp đã làm ăn thua lỗ thì sẽ không có tiền trả lại cho ngân hàng.
Không chỉ môi trờng kinh tế trong nớc thay đổi sẽ làm ảnh hởng tới chất
lợng cho vay mà môi trờng kinh tế thế giới thay đổi cũng tác động tới chất l-
ợng cho vay, ví dụ nh với những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, sự
biến động trạng thái kinh tế của nớc bạn hàng cũng sẽ tác động tới tỉ giá hối
đoái, điều này có thể dẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp xuât nhập
khẩu gặp khó khăn, thậm chí thua lỗ, ảnh hởng tới việc trả nợ cho ngân hàng.
c. Môi trờng pháp lý:
Môi trơng pháp lý trong nớc cũng là yếu tố ảnh hởng rất lớn đến chất lợng
cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thơng mại. Hoạt động cho vay
gắn chặt với các quy định về pháp lý, tất cả các cá nhân, tổ chức kinh tế phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật để họat động. Thực tế ở Việt nam cho
thấy đất nớc đang trong đà chuyển đổi nền kinh tế do đó cha có những quy
hoạch cụ thể, ổn định lâu dài ở tầm vĩ mô, từ đó có những văn bản vừa mới ra
đời đã lại thay đổi. Nhiều doanh nghiệp đầu t vừa mới lắp đặt xong thiết bị
khai thác, khi bớc vào sản xuất thì sản phẩm không tiêu thụ đợc do Nhà nớc
có chủ trơng cấm sản xuất hoặc hạn chế, một số mặt hàng lại không đủ
nguyên liệu đầu vào cho sản xuất dẫn tới việc sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không diễn ra theo đúng kế hoạch, ảnh hởng tới việc thu hồi vốn của
doanh nghiệp và công tác trả nợ cho ngân hàng. Vì thế trong nền kinh tế thi
trờng đầy sôi động thì một hệ thống pháp luật ổn định, chặt chẽ, nghiêm
minh là điều kiện dảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh thuận lợi, sự ổn
định, chặt chẽ nghiêm minh của pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp trong kinh doanh đồng thời buộc mọi ngời vay vốn phải có ý thức
trong sản xuất kinh doanh và hoàn trả vốn cho ngân hàng.
Chơng 2
Chất lợng cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh
khách hàng mớiTuy nhiên, chi nhánh cũng gặp không ít khó khăn do sự
cạnh tranh của các Ngân hàng khác trên cùng địa bàn, thời gian hoạt động
của cán bộ cha nhiều, mạng lới khách hàng còn mỏng Với sự cố gắng, đoàn
kết của tập thể cán bộ, sau 5 tháng đi vào hoạt động, chi nhánh NHĐT & PT
Đông Đô đã đạt đợc nhiều kết quả khả quan.
2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn:
2.1.2.1. Thuận lợi
Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển với tốc độ cao, môi trờng kinh
tế, xã hội, chính trị ổn định, các chơng trình kinh tế trọng điểm các dự án lớn
đợc triển khai mạnh và phát huy hiệu quả
- Đợc sự quan tâm chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo NHĐT&PT VN và
ban giám đốc Chi nhánh, đặc biệt trong thời gian triển khai dự án HĐH
- Thứ ba, Chi nhánh là đơn vị đợc áp dụng những chơng trình, hê thông
phần mềm hiện đại nhất.
- Thứ t, Chi nhánh đã thực hiện hệ thống quản lý chất lợng theo tiêu
chuẩn chất lợng quốc tế ISO 9000 2000, đồng thời dự án hiện đại hóa
Ngân hàng đã đi vào hoạt động và sự tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ
và nề nếp lao động đã tạo điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động của Chi
nhánh.
2.1.2.2. Khó khăn
- Tình hình chính trị kinh tế thế giới có nhiều diễn biến không thuận
lợi.Xung đột chiến tranh tại nhiều điểm nóng trên thế giới, có sự phát triển
không ổn định của một số nền kinh tế lớn trên thế giới
- Nền kinh tế trong nớc tuy có sự tăng trởng phát triển nhng phải chịu
không it những trở ngại do thiên tai dịch bệnh
- Tiềm lực vốn của nền kinh tế hạn chế, quá trình cải cách các doanh
nghiệp còn chậm. Thêm vào đó là độ cạnh tranh hoạt động Ngân hàng ngày
càng gay gắt, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận càng ít và khoảng chênh lệch thu chi
tính trên một đồng vốn ngày càng bị thu hẹp.
- Là một chi nhánh mới đợc thành lập, số lợng khách hàng còn ít, đồng
- NHĐT&PTVN:
2.2.1. Phân tích cơ cấu cho vay trung và dài hạn tại Chi nhánh Đông Đô:
Tình hình cho vay trung và dài hạn theo thành phần kinh tế
( Đơn vị: tỷ đồng )
Chỉ tiêu
Số khách
hàng
D nợ
(tỷ. đồng)
Tỉ trọng
%
CV TDH với DNNN 5 20 17 %
CV TDH với DNNQD 10 100 83%
Thực hiện chính sách đa năng tổng hợp trong kinh doanh, không ngừng mở
rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là hình thức cho vay trung và dài hạn. Chi
nhánh đã mở rộng đối tợng phục vụ của mình gồm cả doanh nghiệp Nhà nớc,
ngoài quốc doanh. Trong tổng d nợ cho vay, Chi nhánh tập trung chủ yếu vào
thành phần kinh tế ngoài quốc danh.
Đến 31/12/2004, tỉ trọng cho vay với doanh nghiệp Nhà nớc chỉ có 17%, t-
ơng ứng với 20 tỷ. Khách hàng vay vốn trung và dài hạn là các DNNN cũng
gia tăng nhng vẫn còn chiếm tỉ trọng nhỏ.
Nh vậy quy mô cho vay KTNQD là rất lớn chiếm 83% tổng cho vay trung và
dài hạn đạt 100 tỷ, điều này thể hiện đặc trng riêng của NHĐT&PTVN cũng
nh đặc trng của Chi nhánh. Khách hàng chủ yếu của Chi nhánh là các đơn vị
kinh tế ngoài quốc doanh với số lợng ngày càng tăng, trong đó có một số l-
ợng lớn khách hàng truyền thống uy tín nh:Các đơn vị thuộc tổng công ty xây
dựng công trình giao thông Sông đà, Tổng công xây dựng CNVN Nguyên
nhân sự vợt trội của các khách hàng là DNNQD có thể nêu ở một vài điểm
sau:
Thứ nhất, do truyền thống của NHĐT&PTVN nói chung và của Chi nhánh
2.2.2.1. Chỉ tiêu nợ quá hạn
Các khoản nợ quá hạn đã đợc gia hạn nhiều lần, nợ khó đòi vẫn có thể
là các khoản nợ có khả năng thu hồi cho nên ngân hàng đề ra chỉ tiêu hoạt
động kinh doanh không có nợ quá hạn.
Do cho vay trung và dài hạn có thời gian vay vốn dài ( trung hạn từ 1 5
năm; dài hạn > 5 năm ) nên hoạt động cho vay trung và dài hạn mang rất
nhiều rủi ro. Vì là một Chi nhánh mới thành lập cho đến nay đợc 8 tháng ,
cha có nợ quá hạn. Nên cha đánh giá đợc chỉ tiêu nợ quá hạn.
2.2.2.2. Vòng quay vốn trung và dài hạn
Tuy d nợ tín dụng trung và dài hạn thơng mại nhỏ hơn so với tín dụng
trung và dài hạn nhng vòng quay vốn của nó lại lớn hơn. Có thể nói, đồng
vốn đầu t cho dự án tín dụng thơng mại có khả năng thu hồi vốn, quay vòng
nhanh hơn, có khả năng đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho Chi nhánh. Còn tín
dụng ngắn hạn có vòng quay thấp, d nợ lớn có nghĩa là một lợng vốn lớn ứ
đọng, ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của Chi nhánh .Trong thời gian
qua Chi nhánh đã tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn thơng mại trong
tổng d nợ cho vay trung và dài hạn từ 65% so với chỉ tiêu là 55% tổng d nợ
cho vay.
2.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng tín dụng nhìn từ phía khách hàng:
Hầu hết các dự án do Chi nhánh cho vay vốn trung và dài hạn đều góp phần
làm cho hoạt động của doanh nghiệp đợc mở rộng và làm ăn có hiệu quả .
Các chỉ tiêu nh lợi nhuận, lao động, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà n-
ớc của các doanh nghiệp đều tăng. Các khoản tín dụng trung và dài hạn đầu
t vào các dự án, dự án mở rộng nâng cấp, do vậy không chỉ làm lợi cho doanh
nghiệp về mặt lợi nhuận mà còn góp phần mở rộng, nâng cao hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật cho doanh nghiệp, và cả nền kinh tế nói chung. Những dự
án nh dự án đồng tài trợ công ty xây dựng SôngĐà đợc triển khai có hiệu
quả, chất lợng phục vụ của công ty tốt hơn, khách hàng của công ty ngày
càng tăng. Tuy nhiên không phải không có những doanh nghiệp có nợ quá
hạn,nợ khó đòi, không có khả năng thanh toán nhng do chi nhánh mới thành
2.2.3.2. Những nhân tố tiêu cực:
a. Nhân tố thuộc về phía Ngân hàng:
Do mới thành lập nên quy trình nghiệp vụ lẫn trang thiết bị công nghệ, yếu
tố quyết định khả năng cạnh tranh còn yếu,cha thực hiện đi trớc một bớc và
cha tơng xứng với một ngân hàng có quy mô hoạt động lớn,các thông tin
phục vụ công tác quản trị điều hành cha đầy đủ, tức thời, mang tính thủ công.
Nguồn thông tin,đặc biệt thông tin dự báo dài hạn vĩ mô về định hớng phát
triển kinh tế theo nghành, vùng còn thiếu, cha kịp thời, thiếu cơ sở khi xây
dựng các kế hoạch, giải pháp mang tính trung và dài hạn.
Mạng lới kinh doanh vẫn mỏng, tâp trung chủ yếu tại chi nhánh nên cha khai
thác hết lợi thế vầ khả năng huy động vốn, cha có điều kiện để mở rộng
nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ.
Trình độ ứng dụng công nghệ còn hạn chế ,sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn
cha đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng.
b. Những nhân tố khách quan:
Tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp trong nớc cả về nguồn vốn, lao
động, công nghệ và năng lực quản lý, sản phẩm kém sức cạnh tranh; quá
trình cổ phần hoá diễn ra chậm, các cơ chế chính sách cha thể hoàn thiện
trong thời gian ngắn. Cơ cấu sản xuất trong từng nghành, từng lĩnh vực cha
chuyển biến kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trờng trong và
ngoài nớc.
Kinh tế thế giới diễn biến không thuận lợi và phức tạp; những khó khăn có
thể kéo dài và ảnh hởng không nhỏ đến khả năng tăng trởng kinh tế của nớc
ta.
Môi trờng pháp lý cho hoạt đông của ngân hành mặc dù đã đợc tháo gỡ nhng
nhiều khâu thiếu đồng bộ cha nhất quán, làm cho nhận thức trong việc chấp
hành chế độ, luật pháp cũng cha thật rõ ràng chuẩn mực nhất là trong vấn đề
thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp, cho vay đối với khách hàng có quan
hệ với nhiều tổ chức tín dụng.
Sức ép cạnh tranh dặc biệt từ các ngân hàng thơng mại quốc doanh,ngân
cao và không ngừng nâng cao chất lợng tín dụng.
Vận dụng các cơ chế hiện hành tổ chức điều hành nguồn vốn linh hoạt, phấn
đấu dần dần điều chỉnh cơ cấu tài sản Nợ Có phù hợp nhằm hạn chế rủi ro
về cơ cấu loại tiền, lãi suất đối với hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn.
- Dịch vụ và công nghệ ngân hàng:
Tuân thủ và làm theo quy trình ISO do NHĐT&PTTW ban hành trong lĩnh
vực CNTT.