Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với các DNNQD tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành - Pdf 91

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Bước ra một môi trường hoàn toàn khác xa với môi trường đại học để
đến với kì thực tập, được tiếp xúc với môi trường thực tế, bước đầu đã tạo cho
em nhiều bỡ ngỡ nhưng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo- Ths Nguyễn Thị
Thuỳ Dương về mặt nhận thức lí luận cũng như sự giúp đỡ của các cô chú,
anh chị cán bộ Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành về mặt
hiểu biết nghiệp vụ ngân hàng, đã tạo cho em nhiều nhận thức, sự hiểu biết
quan trọng, tự tin bước vào tương lai phía trước của mình. Em xin chân thành
cảm ơn cô giáo cũng như các cô chú, anh chị đã chỉ bảo, đóng góp cho em
hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu:
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, chuyển từ mô hình kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thực hiện công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.Do vậy, sự ra đời của các Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh (DNNQD) như một tất yếu. Từ khi ra đời đến nay, DNNQD đã
đóng góp những thành tựu cho nền kinh tế nước nhà và đang ngày càng khẳng
định vai trò của mình trong việc khai thác hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực
trong nước. Tuy vậy, nền kinh tế nước ta còn ở mức kém phát triển, chất
lượng đội ngũ lao động thấp, thị trường tiêu thu và thị trường vốn chưa lớn đã
gây khó khăn lớn cho các DNNQD trong quá trình huy động vốn, cũng như
sử dụng hiệu quả vốn vay, khả năng tiếp cận với nguồn vốn Ngân hàng của
các DNNQD còn gặp nhiều hạn chế. Do vậy, việc nâng cao chất lượng cho
vay các DNNQD là vấn đề được Đảng, Nhà nước cũng như Ngành Ngân hàng
hết sức quan tâm. Qua thực trạng đó và tìm hiểu thực tế hoạt động cho vay tại
Chi nhánh Hà Thành, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng
cho vay đối với các DNNQD tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Thành” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề có kết cấu gồm 3 phần:

Theo quy định trên, nền kinh tế nước ta gồm các loại hình DNNQD
như sau:
1.1.1.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn: Gồm có hai loại công ty trách nhiệm
hữu hạn như sau:
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là doanh nghiệp mà chủ sở
hữu là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Tổ chức này phải tự chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn điều lệ đã được quy định. Các công ty này không được phép
phát hành cổ phiếu để huy động vốn
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên: Là các doanh nghiệp có ít
nhất 2 thành viên, nhiều nhất là 50 thành viên tham gia góp vốn. Các thành
viên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp của mình. Các thành viên khi được chia
lợi nhuận cũng dựa vào tỉ lê vốn góp. Cũng giống công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên, các công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên không
được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
1.1.1.2. Doanh nghiệp tư nhân:
Là Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về hoạt động của DN cũng như chịu trách nhiệm trước
pháp luật.
1.1.1.3. Công ty hợp danh:
Là những doanh nghiệp được thành lập dựa trên vốn góp của ít nhất
hai thành viên có trình độ chuyên môn và uy tín. Các thành viên hợp danh
này phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt
động của công ty.
1.1.1.4. Hợp tác xã:
Là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình pháp nhân có
nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức

5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trọng điểm. Từ đó tạo điều kiện cho mọi ngành, mọi thành phần kinh tế
cùng phát triển.
- Với sự ra đời của các DNNQD thì sự canh tranh giữa các DN ngày càng
lớn bắt buộc các DN phải không ngừng đổi mới công nghệ, ứng dụng
nhanh các thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Do vậy các DNNQD
là lực lượng đi đầu trong công cuộc dịch chuyển nền kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.1.3. Đặc điểm của DNNQD:
- Tốc độ gia tăng của DNNQD ngày càng nhanh: kể từ sau hội nghị TW
Đảng khoá VI (1986), đất nước ta chuyển từ mô hình kinh tế nhà nước tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì các DNNQD cũng phát triển
ngày càng rầm rộ. Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Số lượng các DNNQD ở một số năm.:
n
ăm
199
1
1999 2000 2002 2004 2006
Số
lượng
414
30.50
0
44.94
3
54.64
2
82.00

chân với những ngành nghề nhiều lợi nhuận như ngành điện, ngành dầu
khí, ngành viễn thông... Mặt khác, các chính sách của nhà nước cũng thiếu
đồng bộ, chưa đầy đủ để các DNNQD yên tâm đầu tư phát triển, giảm
thiểu rủi ro. Đặc biệt tệ quan liêu, hạch sách của các cơ quan quản lí kinh
tế đã gây ra nhiều khó khăn trong việc đăng kí thành lập, trong hoạt động
kinh tế làm cho các DNNQD bỏ lỡ rất nhiều cơ hội đầu tư.Chính những
điều đó đã làm tăng chi phí sản xuất dẫn đến tăng giá bán sản phẩm, khả
năng cạnh tranh của các DNNQD giảm xuống. Thực tế đã có nhiều
DNNQD chỉ vì những văn bản pháp lí rắc rối, thiếu hợp lí làm quá trình
kinh doanh trì trệ, làm ăn kém hiệu quả và dẫn đến phá sản.
- Các DNNQD có điểm khác biệt đối với các DNNN đó là có số lượng lao
động ít hơn nhiều. Do các DNNQD chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
thương mại và dịch vụ. Nên các DNNQD có số lượng lao động là không
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều. Theo thống kê chỉ có khoảng 1020 DN có số lượng lao động trên
100 người, số lao động bình quân của DNNQD năm 2005 chỉ là 28 lao
động. Đây là vấn đề mà nhà nước cần quan tâm vì các DNNQD là bộ phận
quan trọng để giảm bớt gánh nặng về thất nghiệp cho nhà nước. Do đó cần
thiết phải mở rộng quy mô cho các DNNQD để thu hút được nhiều lao
động hơn nữa. Một điểm cần chú ý nữa là chất lượng lao động của các
DNNQD. Thực tế cho thấy đa số sinh viên có trình độ ra trường muốn vào
các DNNN để có một việc làm ổn định, được hưởng các chế độ bảo hiểm...
Do vậy chất lượng lao động tại các DNNQD vẫn còn thấp, đòi hỏi phải có
các giải pháp cho vấn đề thu hút nguồn nhân lực có chất lượng vào các DN
này.
- Các DNNQD ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, nhưng
quy mô tài chính của các DN còn rất nhỏ. Cụ thể chỉ có khoảng 30% DN
có số vốn trên 10 tỷ đồng, còn lại là DN có số vốn dưới 10 tỷ đồng, bình
quân một DNNQD có số vốn 7 tỷ/ DN, chiếm 26% về vốn và hơn 20%

những lĩnh vực không được coi là truyền thống.
1.2. Khái quát về hoạt động cho vay của NHTM đối với các DNNQD:
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nhu cầu về các dịch vụ
thanh toán, nhu cầu về vốn càng lớn cần thiết phải có một trung gian tài
chính vừa làm nhiệm vụ nhận tiền của khách hàng này cho khách hàng
khác vay và cung cấp các dịch vụ tiện ích cho hoạt động thanh toán. Ngân
hàng thương mại đã được ra đời để đáp ững những nhu cầu đó.
Như vậy, NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ và hoạt động chủ yếu
thường xuyên là huy động tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sau đó sử dụng số tiền huy động được để cho vay, thanh toán ... nhằm mục
đích sinh lời.
Qua đây ta thấy hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận
cho các NHTM. Trong đó theo hình thức tín dụng thì tín dụng được chia
thành các loại như: cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính... mà hoạt động
cho vay là chủ yếu.
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM:
Cho vay là giao dịch bằng tiền giữa NHTM với bên đi vay (cá nhân ,
doanh nghiệp...) thông qua một bản hợp đồng cho vay. Theo đó, NHTM
phải chuyển số tiền nhất định trong một khoảng thời gian nhất định cho
bên đi vay. Bên đi vay khi đã đến hạn kí kết thì phải trả cả gốc và lãi cho
NHTM.
1.2.1.2. Đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM:
- Cho vay dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau: Bên đi vay tin tưởng NHTM sẽ
cho vay đúng thời hạn, kịp thời để dễ dàng tìm kiếm cơ hội đầu tư. Bên
NH hy vọng bên đi vay sẽ trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn để dảm bảo
việc quay vòng vốn, trả các nguồn huy động đến hạn.
- Cho vay dựa trên ngyên tắc hoàn trả: NH và khách hàng kí cam kết đến

dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, DN, hộ gia đình... Áp dụng cho vay theo
hạn mức, món hoặc cho vay trực tiếp, gián tiếp...
- Cho vay trung hạn: Là hoạt động cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm, tài trợ
cho các TSCĐ như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang
thiết bị nhanh hao mòn.
- Cho vay dài hạn: Là hoạt động cho vay trên 5 năm, dùng để tài trợ cho
các công trình xây dựng lớn như: nhà xưởng, sân bay, cầu đường,máy móc
thiét bị có giá trị lớn thường có thời gian sử dụng lâu dài...
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2.2. Theo mức độ tín nhiệm:
Là dựa vào uy tín, năng lực của khách hàng đi vay mà NH chia làm 2
loại :
- Cho vay có TSĐB: Là phương thức cho vay chủ yếu của NH. khi cá nhân
hay DN muốn vay vốn thì phai bảo đảm sẽ có nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản,
vật chất. TSBĐ gồm 2 loại:
+ Loại 1 là các TS thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách hàng,
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba cho khách hàng của NH. Những đảm bảo
loại này không được hình thành từ khoản tín dụng của chính NH. Đảm bảo
loại 1 có thể có giá trị lớn, nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của khoản tín dụng
tuỳ thuộc vào đánh giá dự đoán của NH về rủi ro. Các khoản tín dụng dựa
trên TSĐB loại 1 thường đảm bảo an toàn cho NH, song gây khó khăn cho
cả NH lẫn khách hàng trong việc định giá, bảo quản, làm cho thời gian
phân tích tín dụng thường bị kéo dài.
+ Loại 2 Là những tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của NH. Đây là
biện pháp cuối cùng để NH có thể hạn chế được người vay bán tài sản
được hình thành từ vốn vay. Tuy nhiên khi người vay không có khả năng
trả nợ thì phần lớn các tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó bán. Do đó tài
sản loại 2 không đảm bảo cho NH thu đủ gốc và lãi. Tài sản loại 2 thường
áp dụng cho khách hàng mà tài sản loại 1 có ít, hoặc không thể trở thành

cấp hạn mức thấu chi. Nghiệp vụ này chỉ xuất hiện khi có nhu cầu thời vụ
hay mở rộng sản xuất đặc biệt, tức vốn NH chỉ tham gia vào một giai đoạn
nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ cho vay theo đó NH thoả thuận cấp
cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng này được cấp trên cơ
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn chủa khách hàng đầu kì
hay cuối kì kinh doanh.
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. NH sẽ cho DN đang thiếu vốn vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi
DN bán hàng. NH và khách hàng sẽ thoả thuận với nhau về hình thức vay,
hạn mức tín dụng, nguồn cung cấp hàng hoá cũng như khả năng tiêu thụ.
trong đó hạn mức tín dụng có thể thoả thuận trong một hoặc vài năm. Đây
không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn NH xem xét mối quan hệ
với khách hàngvà quyết định cho vay nữa không tuỳ mối quan hệ giữa NH
và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
- Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó NH cho phép khách hàng
trả gốc làm nhiều lần, trong thời hạn tín dụng thoả thuận. Cho vay trả góp
áp dụng cho vay trung và dài hạn, tài trợ cho TSCĐ, hàng hoá lâu bền và
cũng có thể cho vay trả góp đối với người tiêu dùng. Đây là loại hình cho
vay rủi ro cao vì khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp,
khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của khách hàng. Do vậy
nếu người vay mất việc làm, thu nhập giảm thì khả năng thu nợ của NH bị
ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là nghiệp vụ đòi hỏi NH phải đánh giá
khách hàng kĩ lưỡng. Một đặc điểm khác là khách hàng khi vay trả góp
không mấy nhạy cảm với lãi suất mà thường chỉ quan tâm đến khoản tiền
phải trả mỗi lần và tài sản sinh ra từ khoản vay. Vì vậy lãi suất cho vay trả
góp là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của NH.
- Cho vay gián tiếp: Ít được áp dụng: Là hình thức cho vay thông qua các

lực. Mặt khác, NH xây dựng chính sách lãi suất hợp lí, ổn định đảm bảo
cho các chủ thể kinh tế yên tâm kinh doanh, mở rộng sản suất kinh doanh,
đầu tư vào các lĩnh vực có nhiều lợi nhuận đòi hỏi vốn bỏ ra phải lớn. Do
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vậy tín dụng NH mà trong đó hoạt động cho vay là chủ yếu có vai trò quan
trọng đối với các DNNQD cụ thể như sau:
1.2.3.1. Giải quyết nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
DNNQD:
- DNNQD chủ yếu là các DN vừa và nhỏ do vậy có chu kì sản suất và
quay vong vốn nhanh, đòi hỏi phải thường xuyên bổ sung vốn lưư động
vượt khả năng vốn tự có của DN. Vì vậy hoạt động cho vay ngắn hạn của
NHTM là nguồn vốn bổ sung vốn lưu động rất cần thiết đối với các
DNNQD. Từ khâu sản xuất đến lúc tiêu thụ, thu được lợi nhuận thì DN
phải bỏ ra rất nhiều chi phí, lượng vốn tự có không thể đáp ứng được do đó
sử dụng vốn vay của NH cho phù hợp với từng giai đoạn, chu kì kinh
doanh là hết sức quan trọng. Vốn vay NHTM đảm bảo ổn định sản xuất,
lưu thông hàng hoá, đảm bảo tính đầy đủ, kịp thời cho từng giai đoạn, chu
kì sản xuất kinh doanh của DN.Giúp các DN thu được lợi nhuận ngày càng
cao nghĩa là khả năng thu cả gốc và lãi khoản cho vay của NH càng lớn.
1.2.3.2. Giúp các DN có tình hình tài chính lành mạnh, sổ sách kế toán chính
xác theo quy định, đánh giá đúng thực lực các DNNQD:
- Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho
NH song NH cũng gặp rất nhiều rủi ro từ hoạt động này. Bởi vậy trước khi
cho vay thì NH phải thực hiện việc xếp loại, đánh giá tình hình hoạt động,
tình hình tài chính... của các DN. Nhiều DN gặp khó khăn trong hạch toán
kế toán đã dựa vào các bản báo cáo thẩm định để thấy rõ hoạt đông của
mình, tìm ra những ưu thế cũng như những khó khăn mà mình gặp phải từ
đó có kế hoạch phát triển thế mạnh về sản phẩm, có khả năng cạnh tranh
hơn. Đồng thời qua đó giúp họ có khả năng tự hạch toán được sổ sách kế

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cho vay là hoạt động quan trọng bậc nhất của NH do vậy hoạt động này
phải đạt chất lượng cao thì mới thúc đẩy sự phát triển của NH. Vậy như thế
nào là cho vay có hiệu quả ?
Trước đây, các NH dựa vào tiêu chí an toàn cho vay để đánh giá chất
lượng hoạt động cho vay đạt chất lượng cao chỉ khi các khoản vay không
có hoặc ít tổn thất và ngược lại. Theo đó nâng cao chất lượng đồng nghĩa
với giảm tổn thất. Song với đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi của
sự cạnh tranh và nhu cầu của người tiêu dùng thì chất lượng cho vay không
chỉ dừng lại ở việc đảm bảo an toàn cho NH mà với mỗi chủ thể khác nhau
trong nền kinh tế đều đạt một ích lợi riêng. Cụ thể như sau:
- Xét dưới góc độ NH: Chất lượng cho vay được thể hiện ở mức độ, phạm
vi và sự phù hợp của tín dụng với quy định, khả năng của mỗi khách hàng,
đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo được tính an toàn trong
hoạt động cho vay đồng thời phải tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho NH. Như
vậy chất lượng cho vay đối với NH đó là tổng dư nợ ngày càng cao để lợi
nhuận đạt được ngày càng lớn hơn, trong đó tỉ lệ nợ quá hạn phải đảm bảo
đúng quy định, hợp lí. Mặt khác, cũng phải đảm bảo sự hợp lí cơ cấu của
các khoản vay như các khoản trung, dài, ngắn hạn. Tuy vậy, chất lượng tín
dụng theo quan niệm của mỗi NH là khác nhau, có NH đặt tiêu chí tăng dư
nợ lên hàng đầu còn các NH nhỏ để đảm bảo tính an toàn thì chỉ nên cho
vay trong mức độ và phạm vi nhất định.
- Xét dưới góc độ khách hàng (là DNNQD):
Chất lượng cho vay xét dưới giác độ khách hàng được thể hiện ở sự thoả
mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng đối với hoạt động cho vay của NH.
Sự thoả mãn ấy được thể hiện ở khối lượng cho vay được NH cung cấp,
tính kịp thời, hợp lí của khoản vay về cả thời gian và chi phí để có được
nguồn vốn NH. Như vậy, đối với khách hàng, chất lượng cho vay cao khi
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

động thì khả năng mất vốn của NHTM là rất lớn. Do vậy muốn xây dựng
được hệ thống chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng cho vay thì cần dựa
vào các chỉ tiêu định tính sau đây.
- Dựa vào cơ sở pháp lí: Hoạt động cho vay của NH đạt được chất lượng
khi chấp hành đúng các quy định của pháp luật, cụ thể là quy chế cho vay,
các văn bản chỉ đạo của chính phủ cũng như các quyết định của NHNN.
Chẳng hạn như quyết định 493 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của thống
đốc NHNN.
- Dựa vào quy chế cho vay của NHTM: Hoạt động cho vay của các NHTM
đều phải tuân thủ theo quy chế, quy trình nghiệp vụ này được áp dụng cho
từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện cho vay có chất
lượng. Vì vậy việc tuân thủ các quy chế, trình độ nghiệp vụ cho vay là tiền
đề để đánh giá chất lượng tín dụng. Muốn tất cả các NHTM thực hiện tốt
quy chế cho vay thì các NHTMNN phải là lực lượng đi đầu thực hiện
nghiêm túc các quy chế này.
- Dựa vào hợp đồng cho vay: Khi tiến hành hoạt động cho vay giữa NH và
khách hàng phải thoả thuận và cam kết bằng văn bản các nghĩa vụ mà mỗi
bên phải thực hiện gọi là hợp đồng cho vay. Hoạt động cho vay có chất
lượng nếu nó thực hiện theo đúng cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng.
Các cam kkết này bao gồm: mục đích sử dụng vốn vay, cam kết thời hạn
giải ngân và trả nợ của NH, khách hàng, phương thức trả nợ, trả lãi và các
điều khoản ràng buộc về lợi ích, nghĩa vụ khác. Đây là một căn cứ rất quan
trọng để NH xem xét việc cho vay của mình có hiệu quả hay không, đánh
giá rõ nhất về tình hình các khách hàng của mình.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trên đây là các chỉ tiêu tiền đề để đánh giá chất lượng cho vay của các
NHTM, tuy vậy nó còn mang tính khái quát, chung chung. Cần có các hệ
thống các chỉ tiêu khác đánh giá hiệu quả hơn chất lượng cho vay. Chúng

mới bù đắp được chi phí trả lãi vay huy động cho các chủ thể kinh tế khác.
NH luôn mong muốn tỉ lệ này gần bằng 1 nhất.
b. Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn của các DNNQD:
+ Tỉ lệ nợ quá hạn = Tổng nợ quá hạn x 100 / Tổng dư nợ
Trong đó:
Nợ quá hạn là khoản mà khách hàng chưa trả được khi đến hạn thoả thuận
phải trả NH. Nợ quá hạn gồm 2 loại:
• Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là những khoản vay mà khách hàng có
thể trả được NH trong tương lai.
• Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là những khoản nợ đến hạn trả
và khả năng không thu hồi được vốn là cao. Tỉ lệ này phản ánh chất
lượng cho vay là kém hiệu quả. Khả năng mất vốn, giảm thu nhập là rất
lớn.
+ Tỉ lệ nợ khó đòi = Nợ khó đòi x 100/ Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh trong 100% vốn chưa thu hồi được có bao nhiêu % là
nợ khó đòi. Theo quyết định 493 ngày 22 tháng 4 năm 2005 của thống đốc
NHNN thì chia nợ thành 5 loại:
• Loại 1: Nợ đủ tiêu chuẩn.
• Loại 2: Nợ cần chú ý.
• Loại 3: Nợ dưới tiêu chuẩn.
• Loại 4: Nợ nghi ngờ.
• Loại 5: Nợ có khả năng mất vốn.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong đó nợ khó đòi được xác định dựa vào các tiêu chí an toàn của ngân
hàng nhưng thường bao gồm nợ loại 3,4,5. Trong đó chủ yếu là loại 5 là
loại khó có khả năng thu hồi nhất của Ngân hàng, chiếm tỉ lệ cao nhất trong
nợ khó đòi.
c. Chỉ tiêu về lợi nhuận từ hoạt động cho vay các DNNQD:
Tỉ lệ lãi thu được = Thu lãi từ hoạt động tín dụng x 100/ Dư nợ bình quân

kết trong hợp đồng tín dụng. Tuy vậy khi vay được vốn nhưng làm ăn
“túng bấn” thì rủi ro đạo đức xảy ra: hoặc sẽ tìm cách trốn nợ hoặc thay đổi
mục đích kinh doanh.
- Nhu cầu về vốn cho các dự án đầu tư phát triển của DN: hiệu quả của dự
án xin vay là điều kiện trực tiếp quyết định đến chất lượng cho vay. Chỉ khi
dự án có phương án kinh doanh khả thi tạo lợi nhuận cao thì ta mới coi là
sử dụng vốn vay có hiệu quả, khi đó DN sẽ có nhiều lợi nhuận không chỉ
để trang trải chi phí vốn vay NH mà còn tạo lượng vốn lớn để tái đầu tư.
- Trình độ và uy tín của chủ DNNQD: chủ DN có trình độ, kinh nghiệm
quản lí thì ngay từ khâu lập dự án để xin vay đã thể hiện khả năng kinh
doanh có hiệu quả, việc sử dụng vốn vay có thể thực sự mang lại hiệu quả,
đảm bảo mục tiêu cho vay. Ngược lại, nếu năng lực của chủ DN yếu kém
thì khoản vay đó không thể phát huy được mục đích của nó, do đó không
đảm bảo được chất lượng cho vay. Uy tín của một cá nhân của chủ Dn
cũng tác động đến chất lượng cho vay, uy tín cao sẽ tạo ra mối quan hệ làm
ăn lâu dài, mật thiết giữa NH và DNNQD.
b. Các nhân tố thuộc về bản thân NH:
- Quy mô vón và chính sách cho vay của NH: điều này thể hiện ở khả năng
huy động vốn của NH. Với đặc trưng của NH là trung gian tài chính, tức
“đi vay để cho vay” nên việc cho vay có mối quan hệ mật thiết với việc đi
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vay: nguồn huy động càng lớn và đa dạng thì tạo điều kiện hoạt động cho
vay phát triển; chi phí đi vay ảnh hưởng trực tiếp tới khung lãi suất cho vay
của NH; kì hạn của vốn huy động phải phù hợp với kì hạn của vốn vay...
Do vậy chất lượng hoạt động của cho vay cũng phụ thuộc vào chất lượng
huy động vốn. Nếu để đọng vốn huy động được thì không những không tạo
thêm thu nhập cho NH mà còn làm tăng chi phí đi vay. Mặc dù vậy tuỳ
từng thời kì mà NH có chính sách cho vay là khác nhau. Có thời kì cho vay
ít để tăng dự trữ, đảm bảo an toàn và ngược lại tăng lợi nhuận cho NH. Từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status