Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây chính sách đổi mới mở cửa của Đảng và Nhà
nuớc đã đem lại những thay đổi to lớn sâu sắc toàn diện trên các mặt và lĩnh vực
của đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là ổn đinh chính trị trong phạm vi cả n-
ớc.Những thay đổi đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngân hàng
thơng mại Việt Nam.Bên cạnh đó, xu hớng quốc tế hóa cùng điều kiện cụ thể
riêng đã tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng nh nhiều thách thức, đặc biệt là
khoa học công nghệ cả về mặt kỹ thuật và quản lýĐể có thể khai thác tối u
các lợi thế hiện có cũng nh phát huy hết khả năng của minh bên cạnh các yếu tố
nh cơ chế chính sách, nhân lực...thì một trong những yếu tố không thể không có
đó là vốn.Vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn là cơ sở để các doanh
nghiệp có thể đổi mới thiết bị,tiếp thu các công nghệ mới tạo ra năng lực sản
xuất mới, nâng cao khả năng sản xuất mở rộng thị trờng.Để đáp ứng nhu cầu về
vốn cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa có hai nguồn vốn chủ yếu là
nguồn vốn vay và nguồn vốn huy động trong nớc và nớc ngoài, trong đó nguồn
vốn huy động trong nớc đợc xác định là có vai trò quyết định.Nguồn vốn trong
nớc đợc huy động qua hai kênh chủ yêú là thị trờng tài chính và nguồn vốn tín
dụng.Trong khi thị trờng tài chính của Việt Nam hiện nay đang từng bớc ở giai
đoạn hình thành thì việc khai thác và sử dụng có hiệu quả vốn từ kênh tín dụng,
đặc biệt là sử dụng vốn đầu t trung và dài hạn càng có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng.
Để tìm hiểu và thu thập thêm những kiến thức cả về lý luận cũng nh thực
tiễn, em đã quyết định chọn chi nhánh Ngân hàng Đầu T & Phát triển Hà Thành
để thực tập cũng nh nghiên cứu những vấn đề đã đợc học và tích luỹ. Sau một
thời gian thực tập tại chi nhánh em đã chọn đề tài cho chuyên đề thực tập :
"Giải pháp nâng cao chất lợng Tín dụng Trung và Dài hạn tại chi nhánh
Ngân hàng Đầu T và Phát Triển Hà Thành ". Đề tài nghiên cứu của em
không tách rời lý luận thực tiễn thành 2 bộ phận riêng biệt mà cố gắng áp dụng
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
( credo) trong thực tế cuộc sống đợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và
kể cả trong quan hệ tài chính. Tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ này
có nội dung khác nhau.
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng d tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đợc coi là phơng pháp chuyển dịch
quỹ từ ngời đi vay sang ngời cho vay.
Trong quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến hơn cả trong quan hệ này là
giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp
và các cá nhân thể hiện dới hình thức cho vay tức là ngân hàng cấp tiền cho vay
cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định ngời vay phải thanh toán cả gốc
và lãi.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tín dụng còn có nghĩa là số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
Khi xem xét tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín
dụng đuợc hiểu nh sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho
vay(ngân hàng, các định chế tài chính khác) trong đó bên cho vay chuyển giao
tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay
khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm này ta có thể thấy đợc bản chất của tín dụng là một giao
dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả.
Tín dụng trung dài, hạn là khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn trên
một năm nhng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình
thành bằng vốn vay. Việc phân chia cụ thể tín dụng trung dài hạn tuỳ thuộc vào
mỗi quốc gia, ở Việt Nam theo quy chế cho vay mới 1267/2001/QĐ của Ngân
hàng Nhà nớc có hiệu lực từ 01/02/2002 các khoản tín dụng có thời hạn từ 12
năm, tiền vay đợc thanh toán dần dần cho ngân hàng theo từng định kì.
* Tín dụng theo kỳ hạn.
Tín dụng theo kì hạn thờng dùng tài trợ cho các mục đích chung của
doanh nghiệp, bao gồm tài trợ cho tài sản lu động thờng xuyên, mua sắm các
bất động sản phục vụ sản xuất kinh doanh, các thiết bị sản xuất, tài trợ cho nhu
cầu vốn cho việc liên doanh, liên kết trong kinh doanh và thậm chí còn có cả tài
trợ cho việc thanh toán các khoản nợ khác...
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với hai phơng thức tín dụng vừa trên, thờng việc thanh toán tiền vay
theo các định kì là bằng nhau. Nhng cũng có khi tiền vay đợc thanh toán ở kì
hạn cuối cùng nhiều hơn và các kì hạn khác có mức thanh toán bằng nhau.
Ngân hàng thờng yêu cầu khách hàng thanh toán cho mình một số tiền vay ở kì
hạn cuối lớn hơn so với số tiền thanh toán ở các kì hạn trớc đó trong các trờng
hợp sau:
Ngân hàng muốn giúp doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt hơn trong
thời hạn vay, miễn sao đến khi kết thúc thời hạn vay thì khách hàng phải hoàn
trả hết tiền vay, kể cả lãi cho ngân hàng.
Khi thời hạn vay theo yêu cầu của khách hàng ngắn hơn thời hạn cho
vay mà ngân hàng mong muốn.
Đối với các khoản tín dụng theo kì hạn, có nhiều lúc khách hàng đợc yêu
cầu phải duy trì ở ngân hàng một số tiền nhất định, thờng dới dạng tiền gửi có
kì hạn, trong tổng số tiền đợc vay, đợc gọi là số d tiền gửi bù trừ. Đối với ngân
hàng số d tiền gửi bù trừ mà khách hàng phải duy trì có một số tác dụng sau:
Giảm chi phí thu hồi vốn của ngân hàng, là nguồn cho vay đối với các khoản
vay mới, có tính chất nh một khoản phí cam kết, giúp hạn chế rủi ro cho ngân
hàng.
* Tín dụng tuần hoàn.
Tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết
chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất
xuất hiện nguồn thu của dự án. Chính vì đối tợng của loại vay này rát phức tạp,
bao gồm tổng hợp các loại chi phí , mà nguồn trả nợ lại phụ thuộc vào nhiều
yếu tố : chính sách kinh tế của Nhà nớc, khả năng tiêu thụ sản phẩm, mức độ dự
đoán chính xác các luận chứng kinh tế tài chính nên rung và dài hạn chứa
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đựng rất nhiều khó khăn tiềm ẩn, ảnh hởng đến chất lợng của khoản Tín dụng
đó. Để đảm bảo một khoản Tín dụng có chất lợng cao thì phải có sự hợp tác
thống nhất, khoa học, hiệu quả giữa ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, khi xem
xét tính hiệu quả của một dự án đầu t, ngân hàng phải xem xét khả năng sinh
lợi, khả năng trả nợ của dự án vì đây là những yếu tố cơ bản quyết định đến
chất lợng Tín dụng xét trên quan điểm ngân hàng và khách hàng.
1.1.2. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong nền kinh tế thị trờng.
a.Vai trò đối với ngân hàng.
Tín dụng trung, dài hạn là một hoạt động không thể thiếu đợc đối với sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng. Bởi vì lợi nhuận thu đợc từ các khoản tín
dụng trung, dài hạn chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng lợi nhuận của ngân hàng.
Thu nhập từ tiền cho vay biểu hiện dới dạng lãi tiền vay và phụ thuộc chủ yếu
vào thời hạn của các khoản vay. Thời hạn tín dụng càng dài thì lãi suất càng cao
và do đó thu nhập của ngân hàng càng lớn vì vậy nếu ngân hàng mở rộng và
nâng cao đợc chất lợng tín dụng trung dài hạn thì càng có điều kiện kiếm lời
hơn. D nợ tín dụng trung, dài hạn luôn là con số đợc quan tâm trong các tài liệu
về ngân hàng vì xu hớng bây giờ các ngân hàng đang chuyển hớng sang kinh
doanh tổng hợp vì vậy phải nâng cao trung, dài hạn tỷ trọng tín dụng trung, dài
hạn trong tổng số d nợ của ngân hàng. Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu
cầu tín dụng trung dài, hạn cũng đem lại cho ngân hàng một vũ khí cạnh tranh
lợi hại. Chất lợng tín dụng trung dài hạn cao thể hiện năng lực quản lý, năng lực
chuyên môn của cán bộ ngân hàng cao. Điều đó tạo nên uy tín của ngân hàng.
b.Vai trò đối với khách hàng.
Tín dụng trung, dài hạn là loại tín dụng chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu
dụng trung, dài hạn có tác dụng không nhỏ vào sự phát triển chung của nền
kinh tế. Vì nó là công cụ để tích tụ, tập trung vốn và ngân hàng cũng có thể làm
nhiệm vụ khơi dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, làm trung
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gian để điều hoà lợng cung cầu vốn cho nền kinh tế từ đó tín dụng trung, dài
hạn góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu t nền kinh tế thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
1.2. Chất lợng tín dụng trung dài hạn và một số chỉ tiêu
đánh giá chất lợng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng.
1.2.1. K hái niệm về chất lợng tín dụng trung, dài hạn:
Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn
doanh lợi cho ngân hàng nhng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro nhất. Điều này
đợc thể hiện ngay cả với các khoản cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố. Nâng
cao chất lợng tín dụng trung, dài hạn là một vấn đề quan trọng hàng đầu trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng do nguồn vốn mà ngân hàng đầu t cho các
khoản cho vay trung, dài hạn là lớn, lại có thời gian thu hồi vốn dài vì vậy mà
ngân hàng cần phải có biện pháp nâng cao chất lợng tín dụng trung, dài hạn. Tr-
ớc tiên là để bảo vệ đợc nguồn vốn của ngân hàng mình sau đó thực hiện đợc tốt
chức năng kinh doanh tổng hợp.
Do hoạt động kinh doanh của ngân hàng là hoạt động chứa nhiều rủi ro
nhất bởi đặc tính của hoạt động cho vay này là việc chuyển giao hàng hoá và
tiền tệ có liên quan đến tất cả các ngành, các thành phần kinh tế. Thêm vào đó
tiền tệ lại là một loại hàng hoá đặc biệt nó rất nhạy cảm với các yếu tố của thị
trờng nh lãi suất, thiên tai, chiến tranh, các hoạt động chính trị xã hội khác... Do
vậy nghiên cứu để nâng cao chất lợng tín dụng trung, dài hạn là một yêu cầu
bức thiết đối với toàn hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng có chức năng đi vay để cho vay, do vậy đồng tiền qua hoạt
động của ngân hàng là đồng tiền có giá(vì đợc hởng lãi suất). Khi đồng vốn tín
dụng trung, dài hạn gặp phải rủi ro dới dạng nợ khó đòi hay mất vốn thì ngân
năng mở rộng tín dụng của ngân hàng phù hợp với nhu cầu vay vốn của khách
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng, với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời bảo đảm sự tồn tại của
ngân hàng.
Chất lợng tín dụng trung, dài hạn vừa mang tính cụ thể thông qua các chỉ
tiêu có thể tính toán đợc nh kết quả kinh doanh, nợ quá hạn... vừa mang tính
trừu tợng thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, quy trình thủ tục...và ta
phải xem xét chất lợng tín dụng trung, dài hạn qua 3 khía cạnh sau:
Chất lợng tín dụng trung, dài hạn xét từ góc độ của Ngân hàng thơng
mại: Chất lợng tín dụng trung, dài hạn thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn của
tín dụng trung, dài hạn phải phù hợp với khả năng theo hớng tích cực của bản
thân ngân hàng và phải đảm bảo đợc sự cạnh tranh trên thị trờng, đảm bảo
nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn, hạn chế tới mức thấp nhất
những rủi ro có thể xảy ra.
Chất lợng tín dụng trung, dài hạn xét từ góc độ của nền kinh tế: Tín
dụng trung, dài hạn của ngân hàng trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự
tăng trởng, sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng.
Đặc biệt tín dụng trung, dài hạn khi đầu t cho nền kinh tế sẽ tạo ra những
sản phẩm cho xã hội, tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động, góp phần
tăng trởng nền kinh tế và khai thác khả năng tiềm tàng cho nền kinh tế, thu hút
tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nớc, tranh thủ vốn vay nớc ngoài có lợi cho nền
kinh tế phát triển. Chất lợng tín dụng trung, dài hạn đối với nền kinh tế đó là
việc vốn cho vay trung, dài hạn đợc an toàn, làm cho tỷ trọng tín dụng trung,
dài hạn của ngân hàng đợc nâng cao thu đợc lợi nhuận lớn khiến cho hoạt động
của ngân hàng đợc an toàn từ đó làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp
ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hoà nhập với cộng
đồng quốc tế.
Chất lợng tín dụng trung, dài hạn xuất phát từ góc độ của khách
hàng:Tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của Tín dụng Trung và dài hạn.
Lợi nhuận ở đây phải hiểu là chênh lệch giữa chi phí đầu ra và đầu vào tức lãi
suất huy động và thu từ lãi hay doanh thu đầu ra của Tín dụng Trung và Dài
hạn. Xét cho cùng thì khoản Tín dụng dù không có nợ quá hạn, nợ khó đòi thì
cũng chỉ nhằm mục đích tăng lợi nhuận Ngân hàng . Đặc biệt đối với những
Ngân hàng cha phát triển dịch vụ Ngân hàng thì thu từ hoạt động Tín dụng là
chủ yếu.Có nghĩa là chất lợng Tín dụng tốt thì phải bao gồm cả cái mà khoản
Tín dụng đó mang lại cho Ngân hàng : danh tiếng, sự tin cậy của khách hàng,
quan hệ làm ăn lâu dài...mà xét trên một khía cạnh nào đấy thì nó còn mang lại
lợi ích lớn hơn so với lợi nhuận đem lại.
Lợi nhuận thu từ Tín dụng Trung Dài hạn
- Tỷ lệ lợi nhuận =
trung và dài hạn
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho thấy rõ hơn vị trí của Tín dụng Trung và dài hạn trong
hoạt động Ngân hàng. Thu từ khoản Tín dụng có chất lợng cao sẽ đóng góp lớn
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào thu nhập của Ngân hàng. Nếu khoản Tín dụng có chất lợng tồi thì thu
không đợc gốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của Ngân hàng nên sẽ kéo lợi
nhuận giảm tơng ứng.
Tuy nhiên, đối với một số dự án Trung và dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc
thì chỉ tiêu này đôi khi tỏ ra không đầy đủ để phản ánh chất lợng Tín dụng . Vì
vậy, mục tiêu kinh tế xã hội hay chiến lợc phát triển những ngành công nghiệp
mũi nhọn hay non trẻ thì mục tiêu lợi nhuận không phải là hàng đầu . Lúc này
lợi nhuận không phản ánh thực chất của khoản Tín dụng .
Chỉ tiêu d nợ
D nợ trung và dài hạn
Tỷ lệ d nợ
=
trung và dài hạn bởi lẽ:
Tổng d nợ trung và dài hạn ở thời điẻm cuối mỗi năm đợc tính nh sau:
Tổng d nợ cuối kì = Tổng d nợ đầu kì + Ds cho vay - Ds thu nợ
Khác với Tín dụng ngắn hạn, doanh số cho vay Trung và Dài hạn trong
năm của Ngân hàng hầu nh cha phát sinh nợ quá hạn, không phải là do an toàn
hơn mà là thời hạn của khoản Tín dụng này dài hơn và cách thức hoàn trả khác
với Tín dụng ngắn hạn. Do đó , nợ quá hạn phát sinh trong năm nay hầu nh là từ
các khoản cho vay của các năm trớc. Có thể nói đó là một biến trễ. Nếu Ds cho
vay trong năm thiên về cho vay dài hạn, trả gốc và lãi hàng năm thậm chí theo
kì sáu tháng thì nợ quá hạn phát sinh từ số cho vay này
Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% Tín dụng thì có bao nhiêu % là nợ quá
hạn. Có thể hiểu một cách đơn giản chỉ tiêu này sẽ cho thấy trong 100 hạt gạo
có bao nhiêu hạt thóc . Tuy nhiên, hạt thóc vẫn có thể thu hồi xay xát song chất
lợng gạo sẽ kém nếu có quá nhiều thóc.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
b. Xét trên quan điểm khách hàng
Khách hàng là ngời trực tiếp quản lý, sử dụng vốn Trung và Dài hạn . Đối
với khách hàng thì chất lợng Tín dụng biểu hiện ở một số chỉ tiêu sau
- Doanh thu tăng từ dự án
- Lợi nhuận tăng tăng từ dự án
- Lao động tăng từ dự án
Có thể nói đây là những chỉ tiêu hệ quả phản ánh chất lợng Tín dụng tốt
hay xấu. Một khoản Tín dụng tốt đối với Ngân hàng cũng chính là khoản Tín
dụng tốt đối với doanh nghiệp. Từ nguồn vốn cho vay Ngân hàng mà doanh
nghiệp có thể đổi mới, mở rộng hoạt động sản xuất làm tăng doanh thu, tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp . Xét cho cùng thì mục tiêu của Ngân hàng kgông chỉ
là thu lãi vay mà còn thông qua nguồn vốn Trung và Dài hạn để kích thích hoạt
động sản xuất của các doanh nghiệp , tạo cơ sở cho sự phát triển của nền kinh
tế. Doanh nghiệp làm ăn có lãi lại muốn đầu t vào dự án mới, lại xuất hiện nhu
ngời đi vay hay khách hàng.
1.3.1 . Nhân tố khách quan.
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hởng đến chất lợng tín dụng trung, dài hạn.
Trên thực tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào cũng
chứa dựng những rủi ro từ khâu sản xuất đến khâu lu thông, tiêu thụ sản phẩm.
Trong quan hệ tín dụng, doanh nghiệp là ngời đợc ngân hàng tín nhiệm trao
quyền sử dụng vốn. Vì vậy, rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng cũng chính là rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Điều này buộc
chúng ta phải xem xét các vấn đề của ngời đi vay có liên quan tới chất lợng tín
dụng trung, dài hạn của ngân hàng.
Các doanh nghiệp khi đến ngân hàng vay vốn đều phải tính đến hiệu quả
của việc sử dụng vốn vay. Nếu họ thực hiện có hiệu quả dự án và có lợi nhuận
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thì chất lợng tín dụng trung, dài hạn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, trong suốt quá trình
tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp có thể gặp phải những thay đổi
ngoài dự kiến, thậm chí có những sai lầm trong quản lý, kỹ năng kinh doanh
của khách hàng, sử dụng vốn vay sai mục đích, không đảm bảo độ an toàn trong
sử dụng vốn gây mất vốn dẫn đến rủi ro cao cho hoạt động của ngân hàng.
Một số doanh nghiệp nhà nớc cha bắt kịp với nhịp độ nền kinh tế, có thói
quen trông chờ vào nhà nớc. Trớc đây những doanh nghiệp này đợc ngân sách
Nhà nớc cấp vốn do vậy khi bị thua lỗ, họ đã trông mong vào sự cấp bù của
Ngân sách Nhà nớc. Thời kì gần đây bắt đầu chuyển sang hạch toán kinh
doanh, các doanh nghiệp này phải đi vay ngân hàng thay cho việc cấp phát vốn
từ Ngân sách Nhà nớc trớc đây, nhng khi bị thua lỗ họ vẫn trông vào Nhà nớc
bằng việc khoanh nợ hay xoá nợ. Nói chung, các doanh nghiệp cha có ý thức về
hậu quả của sự thua lỗ nh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì vậy đã gây
thiệt hại cho ngân hàng.
Cho dù các ngân hàng có thực hiện đúng các yêu cầu khi cấp tín dụng
trung, dài hạn và chủ đầu t có đủ khả năng cũng nh đạo đức để thực hiện dự án
sút giá trị so với khoản vay và điều này có thể gây rủi ro cho ngân hàng. Thêm
vào đó Việt Nam lại là nớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thờng xuyên xảy ra lũ
lụt gây thiệt hại về ngời và tài sản do đó việc đầu t vào sản xuất kinh doanh có
thể gặp nhiều rủi ro làm giảm chất lợng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
c. Môi trờng pháp lý.
Cũng nh hai môi trờng trên thì môi trờng pháp lý có tác động không nhỏ
đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại và nh vậy cũng tác động
đến hoạt động cho vay trung, dài hạn của ngân hàng.
Môi trờng pháp lý cho hoạt động tín dụng trung, dài hạn cha đầy đủ,
cha đồng bộ. Khả năng thực thi của luật chứng th sở hữu tài sản còn yếu. Trong
khi đó, điều kiện đặt ra là để thế chấp tài sản phải có đầy đủ giấy tờ pháp lý.
Hiệu lực pháp lý của các cơ quan hành pháp cha đáp ứng đợc yêu cầu
giải quyết các tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát
mại tài sản thế chấp.
Quản lý Nhà nớc đối với các doanh nghiệp còn nhiều sơ hở. Nhà nớc cho
phép nhiều doanh nghiệp đợc sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng nhiệm
vụ vợt quá trình độ, năng lực quản lý, quy mô hoạt động so với nguồn vốn tự có
của doanh nghiệp. Dẫn đến vốn vay gấp nhiều lần so với vốn tự có của doanh
nghiệp, làm nảy sinh những điều kiện dẫn đến rủi ro, thua lỗ trong hoạt động
kinh doanh gây khó khăn cho công tác thu hồi nợ của ngân hàng.
Trên đây là một số yếu tố khách quan ảnh hởng đến chất lợng tín dụng
trung, dài hạn của ngân hàng. Nhng chất lợng tín dụng trung, dài hạn của ngân
hàng còn bị ảnh hởng bởi chính bản thân ngân hàng hay còn gọi là yếu tố chủ
quan từ phía ngân hàng.
1.3.2. Nhân tố chủ quan:
Quy mô và cơ cấu kì hạn nguồn vốn của Ngân hàng Thơng mại.
Muốn cho vay đợc thì điều kiện truớc tiên là ngân hàng phải có vốn, nhng
do yêu cầu phải bảo đảm khả năng thanh toán thờng xuyên nên các khoản vay
đi vay nh t cách pháp nhân, khả năng tài chính...
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong tất cả các việc cần làm thì việc thẩm định dự án đầu t là không thể
thiếu đợc vì nó giúp các ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự
án để xác định tính khả thi của dự án và để ra quyết định cho vay.
Trên thực tế có ngân hàng đã bỏ qua những yêu cầu cần thiết, không đợc
thẩm định kĩ và không đủ thông tin nên cho vay vợt quá nhiều lần vốn tự có của
doanh nghiệp, cho vay không đủ tài sản đảm bảo nợ vay... Chính những món
vay đó khi không hoàn trả đợc sẽ gây nên thiệt hại rất lớn cho ngân hàng. Nếu
việc thẩm định không đợc chặt chẽ thì khả năng xảy ra tổn thất đối với ngân
hàng là rất lớn.
Muốn việc thẩm định dự án đạt kết quả thì yêu cầu về thông tin có liên
quan đến dự án là vô cùng quan trọng nó góp phần rất lớn vào việc nâng cao
chất lợng tín dụng trung, dài hạn. Điểm yếu của các ngân hàng thơng mại nớc ta
là thiếu hệ thống thông tin khách hàng. Điều này đã phần nào làm giảm chất l-
ợng tín dụng trung, dài hạn.
Ngoài ra chất lợng tín dụng trung, dài hạn tốt hay xấu còn phụ thuộc vào
đội ngũ cán bộ tín dụng. Vì cán bộ tín dụng là ngời theo sát dự án, phát hiện kịp
thời những thông tin sai lệch và là ngời chịu trách nhiệm chính của khoản cho
vay. Khi tiếp cận các dự án tín dụng trung, dài hạn, cán bộ tín dụng Nếu không
nghiên cứu kĩ hồ sơ vay vốn hoặc do trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế dẫn
tới khả năng phân tích dự án còn nhiều thiếu sót, sơ hở. Do đó, nhiều khi cho
vay đã không đánh giá hết đợc mức độ rủi ro của dự án hoặc không phân tích đ-
ợc các báo cáo tài chính một cách chính xác, không phân tích đợc khả năng
kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp, không biết năng lực thực sự của khách
hàng ... Do đó, khi họ kinh doanh thua lỗ sẽ không trả đợc nợ cho ngân hàng là
điều tất yếu.
Khâu kiểm tra sau khi cho vay.
23
H Thnh, n v viờn th 76 ca NHT&PTVN ó chớnh thc khai trng
i vo hot ng. c thnh lp trờn c s tỏch ra t S giao dch
NHT&PTVN, Chi nhỏnh H Thnh cú tr s t ti Qun Hon Kim -
Trung tõm ca Th ụ H Ni, ni cú gn 100 TCTD trong v ngoi nc
hot ng n nh, ó chim lnh th phn. Chi nhỏnh H Thnh bt u i
vo hot ng vi nhiu khú khn, thỏch thc: tng ngun vn, tng ti sn
nh bộ, cha cú nn khỏch hng n nh, d n tớn dng cũn thp, cỏn b
thiu nhiu so vi yờu cu ti thiu m bo hot ng n nh ca mt
n v mi.thnh
2.1.2.Khái quát hoạt động của chi hánh Ngân hàng Đầu t & Phát
triển Hà Thành:
a.Nguồn vốn:
Đối với một Ngân hàng thì nguồn vốn là yếu tố đầu vào của quá trình hoạt
động kinh doanh. Khi nguồn vốn có cơ cấu hợp lý, chi phí huy động vốn thấp
thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng.
25