Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời Nói Đầu.
Trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc đến năm 2000 và
giai đoạn tiếp theo, nhiệm vụ tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả nhằm phục
vụ tốt nhất cho công cuộc CNH, HĐH đất nớc là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu đợc chính phủ đặc biệt quan tâm, trong đó có thể nói vai trò của
ngành ngân hàng là quan trọng nhất. Mà vốn lại là một nguồn lực quý và khan
hiếm, cho nên sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là mục tiêu của bất kỳ nhà quản
lý nào, đặc biệt các nhà quản lý trong lĩnh vực ngân hàng vì nó liên quan đến
sự tồn hay bại của đơn vị đó.
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của
Ngân hàng thơng mại. Trong thời gian qua có một số Ngân hàng thơng mại đã
bị đổ vỡ mà nguyên nhân sâu xa do hoạt động tín dụng mang lại. Rủi ro luôn
luôn tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, những tổn thất do hoạt động này mang
lại thờng rất lớn: làm thất thoát vốn của Ngân hàng thơng mại, mức độ lớn hơn
có thể làm cho Ngân hàng thơng mại bị mất khả năng thanh toán và dẫn tới
phá sản. Chính vì vậy hiệu quả chất lợng tín dụng luôn là mối quan tâm hàng
đầu của Ngân hàng thơng mại.
Là một chi nhánh Ngân hàng thơng mại QD, NHCT Hai Bà Trng trong thời
gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng hoạt động tín dụng nói chung
và tín dụng trung dài hạn nói riêng nhằm một mặt bảo đảm lợi nhuận cho
chính mình, mặt khác giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn, qua
đó góp phần thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế. Tuy nhiên cũng phải
nhìn nhận khách quan rằng những kết quả đã đạt đợc từ hoạt động tín dụng
cuả Ngân hàng Công Thơng Hai Bà Trng không phải là nhỏ, song hiệu quả
của hoạt động tín dụng nói chung và hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài
hạn cần phải đợc từng bớc nâng dần lên để góp phần cho Ngân hàng Công Th-
ơng Hai Bà Trng ngày càng phát triển.
Đó chính là lý do thúc đẩy em chọn đề tài: Một số giải pháp nâng cao
chất lợng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Công Thơng Hai Bà Tr-
ng.
Nh vậy, Ngân hàng thơng mại là tổ chức tín dụng hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận, khác với các tổ chức kinh doanh khác (cũng hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận) ở chỗ đối tợng kinh doanh là tiền tệ, trong đó hoạt động chủ yếu là huy
động tiền gửi trong dân c và các tổ chức kinh tế để cho vay.
Ngân hàng thơng mại là một trung gian tài chính, là cầu nối giữa những ng-
ời thừa vốn và những ngời thiếu vốn. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật, nhu cầu thị trờng ngày càng đa dạng và phong phú, để đáp
ứng nhu cầu thị trờng thì phải mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhng
hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều trong tình trạng
thiếu vốn, trong khi đó một bộ phận nguồn vốn đáng kể đang nhàn rỗi trong
mọi tầng lóp dân c xã hội. Ngân hàng thơng mại đã đóng vai trò trung gian tài
chính điều hoà đợc lợng vốn thừa thiếu trên thị trờng.
Ngân hàng thơng mại huy động tiền gửi trong các tầng lớp dân c trong xã
hội và trả cho họ một mức lãi xuất tùy theo thời hạn gửi tiền, qui mô tiền gửi
và loại tiền gửi. Ngân hàng thơng mại sử dụng vốn cho vay, tài trợ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh và thu một mức lãi xuất cho vay nhất định đủ
để bù đắp chi phí trả lãi, chi phí hoạt động và có lãi.
Để đẩy mạnh hoạt động cho vay, tăng khả năng sinh lời, Ngân hàng thơng
mại phải mở rộng việc huy động vốn dới những hình thức khác nhau nh phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, đa dạng hoá các loại hình kỳ
hạn, đa ra mức lãi xuất cạnh tranh.... Bên cạnh đó ngân hàng phải có biện
pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn đó hợp lý để đủ bù đắp chi phí và có lãi.
Ngoài ra, Ngân hàng thơng mại còn thực hiện một loạt hoạt động khác nh:
kinh doanh ngoại hối, tham gia thị trờng chứng khoán, góp vốn mua cổ phần,
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đầu t mua trái phiếu, kỳ phiếu và các chứng từ có giá khác, cung cấp dịch vụ t
vấn, dịch vụ quỹ két, dịch vụ thanh toán....
1.1.2.Hoạt động chủ yếu của một NHTM:
a.Tạo lập vốn.
* Hoạt động ngân quỹ:
Cũng nh bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, khả năng thanh toán thờng
xuyên là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn hay bại
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của một ngân hàng. Khả năng thanh toán thờng xuyên của một ngân hàng đợc
đảm bảo bởi các tài sản có tính lỏng rất cao nh: tiền mặt tại két của ngân hàng,
tiền gửi tại NHTƯ và các NHTM khác,tiền đang trong quá trình thu.Số lợng
các tài sản này càng nhiều thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng đợc
đảm bảo. Tuy nhiên đây cũng là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp nhất
trong các tài sản của ngân hàng thơng mại, việc giữ nhiều tài sản này sẽ ảnh h-
ởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.Chính vì vậy mà các ngân hàng
cần phải tính toán để duy trì các tài sản này ở mức hợp lý sao cho vừa đảm bảo
khả năng thanh toán để duy trì các tài sản này ở mức hợp lý sao cho vừa đảm
bảo khả năng thanh toán thờng xuyên, vừa đạt đợc mức lợi nhuận hợp lý.
Công việc đó đợc gọi là hoạt động ngân quỹ.
*Hoạt động cho vay:
Ngợc lại với hoạt động ngân quỹ, là hoạt động mang lại ít thu nhập nhất
cho ngân hàng, hoạt động cho vay lại là hoạt động chủ yếu và thờng xuyên
nhất, mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Thực chất hoạt động cho vay
là việc thiết lập các quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng, chúng
đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập lớn từ lãi tiền vay, song cũng
đặt ngân hàng trớc những nguy cơ rủi ro cao nhất. Chính vì vậy mà việc quản
lý các khoản mục cho vay luôn đợc các ngân hàng đặc biệt chú ý
*Hoạt động đầu t:
Các NHTM thực hiện hoạt động đầu t bằng cách tiến hành mua bán các
chứng khoán trên thị trờng để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch giá.
Đây cũng là cách thức để ngân hàng thực hiện phơng châm đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh. Hơn nữa, các chứng khoán có độ an toàn cao và tính lỏng
cao cũng sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng đợc tốt hơn.
nhiên trong thực tế do tính phức tạp của hoạt động cho vay so với hoạt động đi
vay và cũng là do thói quen nên khi nói đến TDNH ngời ta thờng chỉ đề cập
đến hoạt động cho vay mà ít khi đề cập đến hoạt động đi vay. Trong phạm vi
bài luận văn này, em không có tham vọng đề cập đến cả hai mảng hoạt động
rộng lớn này mà chỉ xin đợc tập trung tập trung xem xét mảng hoạt động cho
vay, hơn thế cũng chỉ giới hạn trong hoạt động cho vay trung dài hạn của ngân
hàng.
TDNH ( cho vay) trung và dài hạn là các khoản cho vay của ngân hàng
có thời hạn trên một năm nhng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết
của tài sản hình thành bằng vốn vay. Việc phân chia cụ thể tín dụng trung
hạn và tín dụng dài hạn tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, ở Việt
Nam các khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm đợc gọi là tín dụng trung
hạn, trên 5 năm đợc gọi là tín dụng dài hạn.
b. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với sự phát triển kinh tế.
Thứ nhất, tín dụng trung dài hạn nhằm cung ứng cho những doanh nghiệp
có tiềm năng mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn. Đây là
một hình thức, giải pháp kịp thời để chuyển hoạt độngcủa các đơn vị quốc
doanh từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doan,
góp phần tháo gỡ những khó khăn, thực sự trao quyền sản xuất kinh doan cho
các doanh nghiệp thuộc các nghành then chốt.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, cho vay trung dài hạn đối với các thành phần kinh tế thực sự là
một loại tín dụng đầu t theo chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất , tăng quy mô,
năng lực sản xuất kinh doanh, tăng thêm sản lợng, nâng cao chất lợng công
trình.
Thứ ba, tạo thị trờng sử dụng vốn ngắn hạn vì cho vay trung và dài hạn sẽ
đầu t vào trang thiết bị của doanh nghiệp kích thích sản xuất phát triển. Do sản
xuất phát triển cho nên sẽ cần nhiều vốn lu động hơn và thị trờng vốn ngắn
hạn sẽ đợc mở rộng hơn theo tốc độ phát triển sản xuất.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
muốn thu hẹp sản xuất thì có thể hoàn trả ngân hàng trớc hạn. Thậm chí doanh
nghiệp có thể vay ở một ngân hàng khác với những điều kiện u đãi hơn để trả
nợ. Ngợc lại nếu công việc kinh doanh gặp khó khăn do nguyên nhân bất khả
kháng thì ngân hàng có thể cho phép doanh nghiệp gia hạn nợ. Dĩ nhiên trong
cả hai trờng hợp kế hoạch kinh doanh của ngân hàng sẽ phần nào bị ảnh hởng
song nếu đó là những điều chỉnh hợp lý thì nó sẽ có lợi cho cả hai bên về lâu
dài.
Xuất phát từ đặc điểm thời hạn dài nên rủi ro trong hoạt động TDNH trung
dài hạn cũng cao hơn so với tín dụng ngắn hạn. Chúng ta đều biết rằng nền
kinh tế đất nớc khó có thể ổn định trong một thơi gian dài, mà thờng xuyên có
những biến động. Những biến động này có thể theo hai chiều hớng tốt hoặc
xấu. Là một chủ thể trong nền kinh tế doanh nghiệp không thể tránh khỏi tác
động của những biến động này. Và một khi doanh nghiệp chịu những tác động
tiêu cực do nền kinh tế mang lại thì ngân hàng với t cách là chủ nợ khó tránh
khỏi những rủi ro.Thời hạn cho vay càng dài xác suất xảy ra các biến động
càn lớn và do đó rủi ro tiềm ẩn càng cao. Đặc điểm này lại làm phát sinh thêm
một đặc điểm khác của TDNH trung và dài hạn: hầu hết các khoản cho vay
trung và dài hạn đều là các khoản cho vay có bảo đảm. Hình thức bảo đảm có
thể là bảo đảm đối nhân hay bảo đảm đối vật. Việc áp dụng các hình thức bảo
đảm này nhằm giúp ngân hàng có thể thu đợc nợ trong trờng hợp có rủi ro xảy
ra.
Một hệ quả nữa của tính chất rủi ro cao là lãi suất cho vay trung dài hạn
phải cao hơn lãi xuất cho vay ngắn hạn. Điều này là hợp lý bởi bởi một khoản
cho vay tiềm ẩn rủi ro cao thì lãi suất phải cao để bù đắp những rủi ro nếu xảy
ra.Mặc dù vậy, đã có thời kỳ ở Việt Nam áp dụng mức cho vay trung dài hạn
thấp hơn mức cho vay ngắn hạn, tuy nhiên đến nay điểm bất hợp lý này đã đợc
điều chỉnh. Mức lãi suất phụ thuộc nhiều yếu tố( lãi suất huy động vốn, phí
ngân hàng, lợi nhuận ngân hàng, tỷ lệ lạm phát,lãi suất cơ bản do NHTƯ quy
năng thanh toán thờng xuyên của mình. Để đảm bảo yêu cầu này thì hoạt
động cho vay của ngân hàngphải gắn bó chặt chẽ, dựa trên nền tảng nguồn
vốn ngân hàng có đợc. Nghĩa là cơ cấu cho vay phải phù hợp với cơ cấu nguồn
vốn, các khoản cho vay trung dài hạn phải đợc hình thành từ những nguồn vốn
ổn định, có thời hạn dài tơng ứng. Theo những nguyên tắc đó thì hiện nay
nguồn cho vay trung dài hạn ở các NHTM nớc ta còn hạn chế chủ yếu là các
nguồn sau:
Nguồn vốn tự có của các NHTM ( vốn góp hoặc tích luỹ đợc trong quá
trình hoạt động kinh doanh). Tuy nhiên nguồn vốn này còn chiếm tỷ lệ
nhỏ.Nguồn vốn huy động của dân c dới hình thức phát hành trái phiếu dài hạn
hoặc huy động tiền gửi có kỳ hạn dài.
Nguồn huy động ngắn hạn định kỳ đợc xem xét, tính toán và đợc trích ra
một tỷ lệ phần trăm nhất định nào đó tuỳ thuộc vào lợng biến động của tiền
gửi và rút ra của khách hàng để tạo ra một nguồn ổn định nhằm cho vay trung
dài hạn. Nguồn này có tỷ lệ trích nhỏ và dễ xẩy ra rủi ro cho ngân hàng vì
dùng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung dài hạn.
Nguồn đi vay của NHNN: nguồn này thờng phụ thuộc vào chính sách tiền
tệ quốc gia trong từng thời kỳ của Ngân hàng Nhà nớc
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn vay nợ nớc ngoài để cho vay trung dài hạn: nguồn này có u điểm là
vay đợc khối lợng lớn, lãi suất vừa phải nhng lại phải chấp nhận một số điều
kiện bất lợi do phía cấp vốn đa ra.
Ngoài ra còn có các nguồn tài trợ uỷ thác của các tổ chức tín dụng n-
ớcngoài nh: nguồn tín dụng EC, nguồn Việt Đức.
1 .2.3. Nguồn trả nợ và ph ơng pháp trả nợ cho các khoản cho vay trung
đài hạn.
Có nhiều cách để trả nợ cho một khoản vay trung dài hạn, chẳng hạn; trả
lãi trớc ngay từ khivay tiền và trả nợ gốc vào cuối thời hạn vay; trả lãi và gốc
làm nhiều lần trong suốt thời hạn vay; trả lãi làm nhiều lần và gốc vào cuối
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để tìm hiểu khái niệm chất lợng tín dụng trung dài hạn trớc hết ta đi xem
xét khái niệm hẹp hơn, đó là chất lợng của một khoản tín dụng:
Chất lợng của một khoản TDNH có thể đợc hiểu là lợi ích kinh tế mà
khoản tín dụng đó có thể mang lại cho cả ngời đi vay( khách hàng) và ngời
cho vay( ngân hàng). Một khoản tín dụng ngân hàng đợc coi là có chất lợng
tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cao cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là
vốn vay đợc ngời vay đa vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra một số tiền
lớn hơn vừa để hoàn trả gốc và lãi vay, vừa trang trải các chi phí khác và đảm
bảo có lợi nhuận, qua đó đóng góp vào sự tăng trởng chung của nền kinh tế.
Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa mang lại hiệu quả
xã hội.
Với t cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu
và thờng xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, chất lợng tín dụng luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các NHTM. Chất lợng TDNH đơng nhiên đợc tạo
nên bởi chất lợng của từng khoản tín dụng. Song không chỉ có vậy, nếu bó hẹp
khái niệm chất lợng tín dụng đồng nghĩa với chất lợng của một khoản tín dụng
thì rõ ràng là không đầy đủ và không phản ánh đợc chính xác tính đa dạng và
phức tạp của hoạt động TDNH. Do đó, một cách đầy đủ có thể hiểu khái niệm
chất lợng tín dụng trung dài hạn nh sau:
Chất lợng TDNH trung dài hạn là khái niệm phản ánh khả năng mở
rộng cho vay trung dài hạn của ngân hàng phù hợp với nhu cầu vay vốn của
khách hàng, với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy khả năng mở rộng tín dụng là một trong
những điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lợng tín dụng cao, song chỉ thế thôi
thì cha đủ. Mở rộng tín dụng đồng thời phải bảo đảm:
Đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn của khách hàng.
Bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế đất nớc.
đó thì ngoài đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu vốn, ngân hàng phải thực
sự trở thành ngời bạn của doanh nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khăn
với họ. Chẳng hạn trong quá trình xét duyệt cho vay vốn nếu thấy dự án vay
vốn của doanh nghiệp có những điểm ch hợp lý, không khả thi thì thay vì từ
chối cho vay ngân hàng có thê t vấn, góp ý cho doanh nghiệp để họ xem xét
điều chỉnh lại cho hợp lý. Trong quá trình kinh doanh nếu doanh nghiệp gặp
khó khăn bất khả kháng thì ngân hàng có thể xem xét cùng tháo gỡ. Ngoài ra,
ngân hàng cũng có thể là ngời cung cấp các thông tin bổ ích về thị trờng, về
khoa học công nghệ cho doanh nghiệp. Làm đợc nh vậy thì nguồn vốn tín
dụng của ngân hàng sẽ thực sự phát huy vai trò đòn bẩy giúp doanh nghiệp cải
tiến thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh.
Và một khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng cũng sẽ tránh
đợc rủi ro, bảo đảm hiệu quả kinh doanh của chính mình.
*Yêu cầu thứ hai để có chất lợng tín dụng tốt là phải bảo đảm sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng. Nói cách khác hoạt động tín dụng phải mang lại cho
ngân hàng thu nhập đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế
thấp nhất nguy cơ rủi ro. Điều này không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn
phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp vay vốn. Một khoản tín dụng chỉ có thể đ-
ợc coi là có hiệu quả khi các nguyên tắc cho vay đợc tuân thủ triệt để; sử dụng
vốn vay đúng mục đích; sử dụng vốn vay có hiệu quả kinh tế cao; hoàn trả nợ
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gốc và lãi đúng thời hạn. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín dụng vừa
là điều kiện cần thiết vừa là biểu hiện của chất lợng tín dụng tốt. Mục đích sử
dụng vốn vay đã ký kết trong hợp đồng tín dụng đã đợc cả hai bên ngân hàng
và doanh nghiệp phân tích, đánh giá kỹ lỡng về hiệu quả, tính khả thi cũng nh
mức độ phù hợp với chính sách phát triển kinh tế- xã hội chung của ngành,
của địa phơng và của cả nớc. Do đó, sử dụng vốn vay đúng mục đích là một
trong những điều kiện đảm bảo mục tiêu đã đề ra ban đầu. Sử dụng vốn vay
đúng mục đích, cộng với sự năng động, nhạy bén trong kinh doanh của doanh
độ tăng doanh số thể hiện khả năng mở rộng quy môc cho vay qua các thời kỳ.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Doanh số cho vay lớn và tốc độ tăng nhanh cho thấy khả năng mở rộng tín
dụng ngân hàng là rất tốt. Tuy nhiên đây mới chỉ làđiều kiện cần chứ cha đủ
để đánh giá chất lợng tín dụng, mà phải kết hợp xem xét các chỉ tiêu khác.
Chỉ tiêu về d nợ:
Chỉ tiêu1: D nợ cho vay trung dài hạn.
Tổng d nợ cho vay.
Chỉ tiêu 2: D nợ cho vay trung dài hạn.
Tổng tài sản.
Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh tỷ trọng d nợ cho vay trung dài hạn so với tổng
d nợ cho vay của NH, tức là phản ánh quy mô của tín dụng trung dài hạn trong
mối tơng quan với d nợ ngắn hạn. Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng cho thấy
NH chú trọng đến cho vay trung dài hạn, tuy nhiên cũng có thể là hậu quả của
công tác thu nợ không đợc tốt. Nói chung các ngân hàng đều mong muốn có
tỷ lệ này cao do tín dụng trung và dài hạn là hoạt động mang lại thu nhập cao
hơn so với tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, do đặc tính rủi ro cao của các khoản
tín dụng trung và dài hạn nên thông thờng các ngân hàng sẽ căn cứ vào đặc
điểm riêng của nguồn vốn, khả năng quản lý, trình độ chuyên môn của mình
để xác định tỷ lệ này cho phù hợp.
Chỉ tiêu thứ hai phản ánh tơng quan so sánh về quy mô cho vay trung dài
hạn so với tổng tài sản, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu
sử dụng vốn của NH. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản cho vay trungdài
hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều này là tích cực nếu NH có
nguồn vốn trung dài hạn dồi dào và việc quản lý đợc thực hiện tốt và đảm bảo
an toàn. Ngợc lại, nếu tỷ lệ này cao trong khi ngân hàng không có đợc tiềm
lực vốn trung dài hạn dồi dào và khả năng quản lý tốt thì có nghĩa là ngân
hàng đang ở vào tình thế nguy hiểm có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán
bất c lúc nào. Thông thờng các ngân hàng thờng thích phân tán rủi ro bằng
ờng nhỏ hơn 1 do thời hạn cho vay dài nên d nợ bình quân trong một năm
thông thờng sẽ lớn hơn doanh số cho vay trong cùng năm đó. Chỉ tiêu này
càng gần 1, cho thấy hoạt động cho vay và công tác thu nợ của NH là rất tốt
bởi lẽ điều đó chỉ đạt đợc khi quy mô cho vay đợc mở rộng và hầu hết các
khoản vay đến hạn trong năm đó đều đợc thu hồi đầy đủ. Ngợc lại tỷ lệ này
thấp chứng tỏ hoạt động cho vay, thu nợ hoặc cả hai đều gặp khó khăn.
Chỉ tiêu về thu nợ:
Tốc độ tăng trởng của doanh số thu nợ: đo lờng tốc độ tăng trởng của
doanh số thu nợ qua các rhời kỳ. Tốc độ này cao chứng tỏ công tác thu nợ của
NH đang đợc thực hiện tốt, hoạt động cho vay thuận lợi và ngợc lại tốc độ này
thấp có thể do doanh số cho vay giảm hoặc công tác thu nợ gặp khó khăn,
hoặc cả hai, điều đó cho thấy chất lợng tín dụng không tốt.
Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là những khoản nợ khi dến kỳ hạn trả nợ hoặc hết thời hạn vay
vốn cộng với thời gian đợc gia hạn thêm( nếu có) nhng khách hàng vẫn cha trả
đợc nợ. Trong trờng hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi xuất nợ quá hạn cao
hơn nhiều so với lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, mặc dù vậy
có thể thấy rõ chẳng ngân hàng nào muốn sẽ phải nhận khoản lãi cao này khi
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho vay. Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá
chất lợng TDNH, nó phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt.
Ngoài ra để đánh giá một cách kỹ hơn ngời ta thờng chia nợ quá hạn ra thành
các loại: nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi và nợ quá hạn
không có khả năng thu hồi. Căn cứ để phân chia các loại nợ quá hạn chủ yếu
dựa vào các tiêu thức nh: thời hạn gia hạn nợ, nguyên nhân gây ra nợ quá hạn,
uy tín của doanh nghiệp vay vốn. Các chỉ tiêu để đánh giá tình hình nợ quá
hạn bao gồm:
(1)Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ: DN tín dụngTDH quá hạn.
Cho dù với t cách là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế, giữ
vai trò là đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, các NHTM trong
quá trình kinh doanh không những chú ý đến hiệu quả kinh tế mà còn phải
chú ý đến hiệu quả xã hội, nhng lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết để ngân
hàng tồn tại và phát triển và do vậy không thể bỏ qua chỉ tiêu này khi đánh giá
chất lợng TDNH. Chất lợng tín dụng ngân hàng không thể nói là cao nếu lợi
nhuận do hoạt đọng này mang lại thấp. Cụ thể ngời ta thờng dùng các chỉ tiêu
sau để đánh giá chất lợng TDNH trung dài hạn xét về mặt lợi nhuận:
LN từ hoạt động tín dụng TDH
+ Chỉ tiêu 1:
DN tín dụng TDH
LN từ hoạt động tín dụng TDH
+ Chỉ tiêu 2:
Tổng LN ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng
trung dài hạn NH. Nó cho biết một đồng d nợ cho vay trung dài hạn mang lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận càng lớn, đó
là một trong những nhân tố tạo nên chất lợng tín dụng cao của ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động tín
dụng trung dài hạn vào toàn bộ kết quả kinh doanh của NH. Tỷ lệ này cao
chứng tỏ lợi nhuận của NH có đợc hầu hết là từ hoạt động cho vay trung dài
hạn. Điều đó chỉ có thể có đợc khi quy mô cho vay trung dài hạn của ngân
hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng đồng thời hiệu quả
do hoạt động này mang lại cũng cao. Nói cách khác chất lợng tín dụng trung
dài hạn của ngân hàng là khả quan.Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với
việc NH chấp nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm tàng. Vì vậy hoạt
động này cần đợc quản lý khoa học và chặt chẽ.
Về phía doanh nghiệp:
Các chỉ tiêu đợc sử dụng để đánh giá chất lợng của khoản tín dụng xét theo
quan điểm doanh nghiệp bao gồm:
hay xấu phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu ngời ta
thờng chia thành ba nhóm nhân tố sau:
a. Nhóm nhân tố thuộc về phía NH
*Quy mô và cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn NHTM.
Muốn cho vay đợc thì điều kiện trớc tiên là ngân hàng phải có vốn.Nhng
chỉ có vốn thôi thì cha đủ, do yêu cầu phải đảm bảo khả năng thanh toán th-
ờng xuyên nên các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng phải đợc tài trợ
chủ yếu bằng nguồn vốn trung dài hạn, bao gồm các nguồn vốn có thời hạn từ
một năm trở lên và các nguồn vốn huy động có thời hạn dới một năm nhng có
tính ổn định cao trong thời gian dài. Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhng chủ yếu là vốn ngắn hạng, không ổn định thì không nên mở rộng cho
vay trung dài hạn. Các nguồn vốn mà một ngân hàng có thể sử dụng để cho
vay trung dài hạn bao gồm: nguồn vốn tự có của ngân hàng; vốn vay trung dài
hạn trong và ngoài nớc; vốn huy động trung và dài hạn; vốn uỷ thác; một bộ
phận nhất định vốn huy động ngắn hạn cũng có thể đợc sử dụng. Quy mô các
nguồn vốn này là một trong những nhan tố quyết định quy moo cho vay trung
dài hạn và do đó ảnh hởng tới chất lợng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng.
Ngoài ra, một ngân hàng có nguồn vốn trung dài hạn dồi dào cũng dễ dàng
hơn trong việc tạo lập uy tín đối với khách hàng, nhờ đó thu hút đợc nhiều
khách hàng hơn
*Năng lực của NH trong việc thẩm định dự án, thẩm định khách hàng:
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lợng tín dụng của ngân hàng là vốn
và lãi phải đợc trả đúng kỳ hạn. Điều này sẽ không thể có đợc nếu nh việc
thực hiện dự án không đạt hiệu quả nh mong muốn, hoặc doanh nghiệp không
có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng. Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần
thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng. Thông thờng
công tác thẩm định khách hàng đợc tiến hành trớc, chủ yếu xem xét các mặt:
khả năng tài chính; khả năng điều hành quản lý kinh doanh, năng lực sản xuất
cực nh: sử dụng vốn sai mục đích, âm mu tẩu tán tài sản, lừa đảo ngân hàng.
Đồng thời thông qua việc luôn bám sát hoạt động của doanh nghiệp thì ngân
hàng có thể có biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp thông qua cung cấp những lời
khuyên, những thông tin bổ ích, kịp thời hoặc trực tiếp giúp đỡ doanh nghiệp
khi doanh nghiệp gặp khó khăn bằng cách gia hạn nợ, cho vay thêm nhằm
giúp cho việc thực hiện dự án của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, qua đó
góp phần nâng cao chất lợng TDNH.
*Chính sách tín dụng của NH:
Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp liên quan
dến việc khuyếch trơng hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt đợc các mục tiêu
của ngân hàng đó trong từng thời kỳ.
Với ý nghĩa nh vậy rõ ràng chính sách tín dụng có tác động raats lớn đến
chất lợng tín dụng của ngân hàng. Trớc hết về mặt quy mô tín dụng, nếu chính
sách tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó là hạn chế tín dụng
trung dài hạn thì có nghĩa là quy mô tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đó
sẽ bị thu hẹp. Đó có thể là dấu hiệu cho thấy chất lợng tín dụng trung dài hạn
của ngân hàng đang có vấn đề hay xét về mặt quy moo không thể nói chất l-
ợng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đó trong giai đoạn đó là tốt. Ngoài
ra, chính sách tín dụng của ngân hàng còn bao gồm một loạt các vấn đề nh:
quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnh vực tài trợ;
biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất có tác dụng
trực tiếp hay gián tiếp đến chất lợng tín dụng ngân hàng.Nếu chính sách tín
dụng đợc xây dựng và thực hiện một cách khoa học và chặt chẽ, kết hợp đợc
hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và của xã hội thì sẽ hứa hẹn một
chất lợng tín dụng tốt. Còn ngợc lại, nếu việc xây dựng và thực hiện chính
sách tín dụng không hợp lý, không khoa học thì chắc chắn chất lợng tín dụng
nói chung và chất lợng tín dụng trung dài hạn nói riêng của ngân hàng sẽ
không cao, thậm chí là rất thấp.
Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản lý dù
của ngời cán bộ ngân hàng nói chung và CBTD nói riêng. Chất lợng nhân sự
tốt, biểu hiện ở sự năng động sáng tạo trong công việc, tinh thần trách nhiệm
và ý thức kỷ luật cao của cán bộ, trong một chừng mực nhất định có thể giúp
ngân hàng bù đắp lại những hạn chế về công nghệ, kỹ thuật, nhờ đó ngân hàng
có thể tồn tại và phát triển cho dù phải cạnh tranh với những đối thủ có tiềm
lực công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật mạnh hơn. Bên cạnh chất lợng nhân sự
thì công tác quản lý nhân sự cũng cần đặc biệt chú ý, bởi lẽ không phải cứ có
cán bộ tín dụng giỏi là có chất lợng tín dụng cao. Mỗi CBTD đều có những
điểm mạnh và yếu riêng, điều quan trọng là phải biết bố trí, sắp xếp công việc
của họ sao cho phát huy hết thế mạnh và hạn chế những điểm yếu của từng
ngời, đồng thời có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tạo sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của từng thành viên trong một
guồng máy thống nhất cùng hớng tới một mục tiêu chung là nâng cao chất l-
ợng TDNH.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
b. Các nhân tố thuộc về phía khách hàng( doanh nghiệp).
*Nhu cầu đầu t của doanh nghiệp:
Bất kỳ loại hàng hoá hay dịch vụ nào muốn tiêu thụ đợc thì cần phải có ng-
òi mua chúng, TDNH cũng vậy, ngân hàng không thể cho vay nếu không có
ngời vay. Xét trong toàn bộ nền kinh tế thì nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu
t phát triển luôn là cần thiết, nhng với từng NHTM thì không phải lúc nào
cũng vậy. Do số lợng doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng là có hạn và có
những lúc nhu cầu đầu t của các doanh nghiệp này không cao, chẳng hạn
trong giai đoạn hoạt động kinh doanh gặp khó khăn các doanh nghiệp thờng
có xu hớng thu hẹp sản xuất. Trong trờng hợp đó nhu cầu vốn trung dài hạn
cảu các doanh nghiệp sẽ không cao và do đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn khi
muốn mở rộng tín dụng.
*Khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu
chuẩn tín dụng của NH:
Năng công nghệ của doanh đợc tạo nên bởi thình độ trang thiết bị; trình độ
tay nghề, kiến thức của ngời lao động trong doanh nghiệp. Năng lực công
nghệ cao cho phép doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả các dự án đòi trình độ
kĩ thuật công nghệ cao đòng thời dễ dàng hơn trong việc tiếp thu những công
nghệ tiên tiến từ bên ngoài đa vào.
Chất lợng nhân sự : Cũng giống nh ngân hàng ,chất lợng nhân sự luôn là
nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp .Một doanh nghiệp với đội
ngũ công nhân lành nghề ,lại am hiểu khoa học kỹ thuật, cộng với đội ngũ
nhân sự quản lý có trình độ, có kinh nghiệm là điễu kiện thuận lợi để có thể
đạt kết quả cao trong kinh doanh .
Năng lực quản lý của doanh nghiệp :Bao gồm chất lợng nhân sự quản
lý,sự phối kết hợp giữa các thành viên trong ban quản lý nhằm xây dựng một
cơ cấu tổ chức tối u trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn tài
lực, vật lực của doanh nghiệp đẻ đạt mục đích kinh doanh cao nhất. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt và đầy biến động thì vai trò
của công tác quản lí trong doanh nghiệp càng quan trọng, bởi trong điều kiện
đó đòi hỏi hoạt động của doanh nghiệp phải thờng xuyên đợc điều chỉnh để
thích ứng với những biến động của môi trờng kinh doanh, của chính bản thân
doanh nghiệp.
Đạo đức, thiện trí của khách hàng: Trong quan hệ tín dụng, muốn có hiệu
quả cao đòi hỏi phải có sự hợp tác từ cả hai phía ngời cho vay và ngời đi vay.
Nếu nh khách hàng không có thiện chí thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng
trong việc thu hồi nợ. Sự thiếu thiện chí của khánh hàng có thể biểu hiện trực
tiếp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng nh cố tình sử dụng vốn sai mục
đích, tìm cách lừa đảo ngân hàng, hoặc cũng có thể là các hành vi gián tiếp
ảnh hởng tới chất lợng TDNH nh kinh doanhtrái pháp luật, lừa đảo chiếm
dụng vốn lẫn nhau. Tất cả các hành vi đó đều có thể mang lại sự rủi ro cho
ngân hàng.
c.Nhóm nhân tố thuộc môi trờng:
*Môi trờng tự nhiên:
nhà đầu t trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu t phát triển kinh doanh,
do đó hạn chế về nhu cầu vốn TDNH.
*Sự quản lý vĩ mô của nhà nớc và các cơ quan chức năng.
Sự ổn định và hợp lý của các đờng lối, chính sách, các quy định, thể lệ của
Nhà nớc và các cơ quan chức năng sẽ tạo hành lang thuận lợi cho hoạt động
của ngân hàng cũng nh doanh nghiệp, đó là tiền đề rất quan trọng để ngân
hàng nâng cao chất lợng tín dụng của mình.
Tóm lại, với t cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động
tín dụng của ngân hàng có liên quan đến nhiều đối tợng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau. Do đó, chất lợngTDNH nói chung và chất lợng trung dài hạn nói
riêng sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Có những nhân tố thuộc bản thân
ngân hàng, có những nhân tố thuộc về phía khách hàng( doanh nghiệp), cũng
có những nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của cả hai. Việc nghiên cứu nắm rõ
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vai trò cơ chế tác động của từng nhân tố sẽ giúp cho các ngân hàng có biện
pháp thích hợp để nâng cao hơn nữa chất lợng tín dụng, phát huy tối đa vai trò
đòn bẩy phát triển kinh tế của mình.Chơng2:
thực trạng chất lợng tín dụng trung và dài
hạn của NHCT Hai Bà Trng.
2.1Sơ lợc về lịch sử hình thành, phát triển và hoạt
động kinh doanh của NHCT Hai Bà Trng.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Ngày 6/5/1951 Ngân hàng quốc gia VN ra đời với t cách là ngân hàng
trung ơng của VN với hai nhiệm vụ chính là quản lý nền kinh tế và kinh
doanh, 1-1960 Ngân hàng quốc gia VN đợc đổi tên là NHNNVN và hoạt động
theo mô hình NH 1 cấp. Đến 1988 hệ thống NH đợc phân thành 2 cấp theo