Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp Nhà nước tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất của một nền sản xuất lớn,
hiện đại nên nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế là rất cao. Trong khi
đó, tuy thị trường chứng khoán ở nước ta đã ra đời nhưng việc huy động vốn
trung và dài hạn cho nền kinh tế chưa nhiều, do đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn
của nền kinh tế chủ yếu vẫn do hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó chủ yếu
là các ngân hàng thương mại quốc doanh cấp. Đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư
vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thương
mại.
Trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn, tín dụng trung và dài hạn đối với
doanh nghiệp Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng. Đối với các ngân hàng,
hoạt động này đóng góp không nhỏ vào tổng lợi nhuận của ngân hàng. Đối với
các Doanh nghiệp nhà nước, nó đáp ứng vốn cho các Doanh nghiệp nhà nước để
họ thực hiện vai trò to lớn của mình: là lực lượng mở đường, hỗ trợ và định
hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh tế- xã hội;
góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội của đất
nước, đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội và đặc biệt sẽ là lực lượng quan trọng để
Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Hoạt động trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp nhà nước tại Sở giao dịch
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam tuy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng
vẫn còn một số mặt hạn chế, do đó chưa phát huy được hết khả năng to lớn của
mình.
Với ý nghĩa này, việc tìm hiểu về tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh
nghiệp nhà nước để nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động này là vô cùng
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
quan trọng. Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp Nhà nước tại Sở giao
dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
Em xin trình bày bố cục luận văn thành 3 chương:

Căn cứ vào hai tiêu thức là chủ thể và đối tượng tín dụng thì quan hệ tín dụng
gồm có các loại hình: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà
nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế. Trong mỗi loại
hình này, tín dụng lại được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu, em chỉ xin đề cập đến “tín dụng” gắn liền với chủ
thể nhất định là ngân hàng. Theo đó, tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ (cho
vay) của ngân hàng cho khách hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp
tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào nhiều
tiêu thức khác nhau. Trong đó, phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối
với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín
dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian thì tín dụng
được phân thành:
• Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lưu động
của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Ngân hàng
có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn
mức, có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân
chuyển.
• Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm (theo quy định của ngân
hàng nhà nước Việt Nam), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải,
trang thiết bị chóng hao mòn, mở rộng sản xuất kinh doanh hay để xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp,
chủ yếu để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây dựng các
vườn cây công nghiệp như cà phê, điều...Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, tín
dụng trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các
doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.

 Cấp tín dụng cho các đơn vị khác: các đơn vị như các tổ chức xã hội cũng
cần vốn với nhiều mục đích khác nhau, để giải quyết sự thiếu hụt vốn họ cũng có
thể vay từ ngân hàng.
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo:
 Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp: Để giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng của mình
phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp. Và trên nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của
ngân hàng đều có đảm bảo.
 Tín dụng không đảm bảo bằng tài sản (Gồm: tín chấp và bảo lãnh bằng uy
tín). Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có
uy tín, trung thực trong kinh doanh, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên
có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả, ít xảy ra tình trạng nợ
nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản
cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm
bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc
những khoản cho vay mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng... cũng
có thể không cần tài sản đảm bảo.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng:
 Cho vay kinh doanh: các cá nhân, tổ chức vay vốn từ ngân hàng để mở
rộng sản xuất; đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mới...nhằm tăng lợi nhuận, nâng
cao doanh số...chứ không phải để thỏa mãn các nhu cầu (ăn, mặc...) của cá nhân.
 Cho vay tiêu dùng: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính
quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe
cộ, du lịch, giáo dục, y tế...Việc cho vay tiêu dùng giúp các ngân hàng mở rộng
quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho
ngân hàng đồng thời tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ vậy
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Với người tiêu dùng, nhờ
vay tiêu dùng mà họ được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc

 Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
 Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như
khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính...
 Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị
lớn...
 Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì...
- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
 Tín dụng có thời hạn: là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng. Trong loại này lại được phân chia tiếp, bao gồm:
 Tín dụng chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại chỉ thanh toán một lần theo
thời hạn đã thỏa thuận.
 Tín dụng có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là tín dụng trả góp:
là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
Loại này thường được áp dụng rộng rãi trong cho vay bất động sản nhà ở
thương mại, cho vay tiêu dùng...
 Tín dụng không có thời hạn cụ thể: đối với loại này thì ngân hàng có thể
yêu cầu hoặc để người vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo
trước một thời gian hợp lý (có thể được thỏa thuận trong hợp đồng).
- Căn cứ vào các tiêu thức khác:
 Theo ngành kinh tế (Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...).
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
 Theo số lượng ngân hàng tham gia cấp tín dụng (Do một ngân hàng thực
hiện; đồng tài trợ).
- Bàn thêm về một số loại tín dụng trung và dài hạn khác:
 Tín dụng tuần hoàn: là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết
chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất
định. Cần chú ý rằng, cam kết này có thể kéo dài từ 1 đến 3 hoặc 5 năm, chính vì

cá thể, cá nhân thường xuyên hơn), tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền
kinh tế: hoạt động sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng suôn sẻ, các tổ
chức, cá nhân luôn phải đương đầu với những khó khăn để tồn tại cũng như để đi
lên. Một trong những khó khăn mà đa số họ gặp phải trong bối cảnh cạnh tranh
hiện nay là sự thiếu hụt vốn trong kinh doanh. Bên cạnh việc đi vay mượn ở
người thân, bạn bè...còn gọi là vay nóng thì việc các tổ chức, cá nhân đi vay ở
các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn là rất thường xuyên.
 Tích tụ và tập trung vốn (góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và khắc phục lạm phát
tiền tệ).
Mỗi người, với một khoản tiền nhỏ thì rất khó có thể đầu tư, kinh doanh hay
mua những vật có giá trị lớn. Nhưng nếu nhiều người góp lại thì nó sẽ trở thành
một khoản tiền lớn. Tuy nhiên việc tập trung các lượng vốn nhỏ này lại rất khó
khăn đối với chỉ một người hay một nhóm người mà họ không được mọi người
trong xã hội biết đến. Trong khi đó lại có rất nhiều người cần một lượng tiền lớn,
nhiều công trình, dự án cần vốn lớn để đầu tư…Để kết nối những trường hợp trên
lại, chúng ta phải nhờ đến các tổ chức tín dụng mà đặc biệt là các ngân hàng.
Cũng thông qua hoạt động này của ngân hàng, số tiền nhàn rỗi trong dân cư sẽ
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
giảm xuống vì họ có một nơi để “đầu tư” kiếm lời thay vì cất giữ ở nhà, do đó
lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm, khắc phục lạm phát tiền tệ.
 Là công cụ điều tiết vĩ mô thông qua việc phân bổ lại các nguồn lực, qua đó
góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu với những hậu quả nặng nề do
chiến tranh để lại, nền kinh tế nước ta so với các nước trên thế giới mới chỉ được
xếp là “nước đang phát triển”. Sự tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật…của nước ta là rất
lớn. Để tiến lên hội nhập với thế giới, không có con đường nào khác ngoài con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nặng về
nông nghiệp sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Muốn vậy, Nhà

cung cấp cho các khách hàng.
Vậy chất lượng tín dụng là gì? Có thể hiểu: chất lượng tín dụng là sự đáp ứng
yêu cầu của khách hàng ( bao gồm cả người gửi và người vay), phù hợp sự phát
triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Với khái
niệm này, chất lượng tín dụng được thể hiện ở cách khía cạnh sau:
• Đối với ngân hàng thương mại:
Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của ngân hàng
và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng
thời hạn và có lãi.
• Đối với khách hàng:
 Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải có thái độ đón tiếp, hướng dẫn
và phục vụ khách hàng một cách hòa nhã, ân cần.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
 Thủ tục đơn giản.
 Phục vụ nhanh nhất cho khách hàng trong phạm vi thờigian quy định.
 Đảm bảo cung ứng đúng và đủ lượng tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký.
 Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn của khách hàng.
• Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu
thông hàng hóa; giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người đi
vay cũng như người cho vay, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh
tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng.
Với việc phân tích trên đây ta thấy rằng:
• Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể lại vừa trừu tượng vì nó
vừa có thể được biểu hiện bằng những chỉ tiêu định lượng như kết quả kinh
doanh, nợ quá hạn…lại vừa được biểu hiện bằng những chỉ tiêu định tính
như khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…Đồng thời,
chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như khả
năng quản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ..và các nhân
tố khách quan như sự thay đổi của môi trường bên ngoài, sự cố ý của

phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả năng mất vốn,
tức là tính an toàn thấp.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro xảy ra cho ngân hàng là điều đương nhiên
và do đó việc tồn tại nợ quá hạn và nợ gia hạn là không thể tránh khỏi. Tuy
nhiên, nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn thì nó sẽ gặp
nhiều khó khăn trong kinh doanh vì có thể bị mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán và làm giảm thu nhập của ngân hàng, nặng hơn nữa thì ngân hàng có
thể đi đến bờ vực phá sản. Còn nợ gia hạn là một biện pháp giúp khách hàng vượt
qua những khó khăn tạm thời nhưng nếu quá nhiều khoản được gia hạn nợ thì
chứng tỏ danh mục cho vay của ngân hàng thương mại thực sự đang có vấn đề.
Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ gia hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng
tín dụng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ở thời điểm hiện tại cũng như
trong tương lai.
• Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Khoản mục tín dụng thường chiếm khoảng 70% tổng tài sản, trong đó có sự
đóng góp không nhỏ của tín dụng trung và dài hạn. Với quy mô đó, hoạt động tín
dụng trung và dài hạn mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng; có ảnh hưởng cũng
lớn đến rất nhiều yếu tố như chiến lược kinh doanh của ngân hàng, dự trữ, đầu tư,
vay… chính vì lý do đó mà có thể nói rằng chỉ tiêu này cũng rất quan trọng trong
việc đánh giá chất lượng tín dụng. Dựa vào chỉ tiêu này ta còn có thể tính thêm
được một vài chỉ tiêu khác phản ánh chất lượng tín dụng như:
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ sinh lời trung và dài hạn =
Tổng dư nợ trung và dài hạn
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận trung và dài hạn =
Tổng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
• Chỉ tiêu quay vòng vốn:

nợ, ngân hàng sẽ phải trả lại người vay, nếu số tiền bán được lại nhỏ hơn
số tiền vay thì ngân hàng sẽ phải chịu lỗ.
Ta gọi chung khoản tiền thực mà ngân hàng thu được từ việc bán tài sản của
khách hàng là A, tổng doanh số thu nợ là B. Khi đó xác định được chỉ tiêu:
Tỷ lệ thanh toán nợ do việc bán tài sản của người vay =A/B
 Chỉ tiêu định tính:
• Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng (qua uy tín, kết quả hoạt
động, các dịch vụ đi kèm như tư vấn…): Một ngân hàng sẽ không thể hoạt động
được nếu không có khách hàng. Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng
không chỉ phụ thuộc vào kết quả hoạt động của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
uy tín về chất lượng phục vụ, về quan hệ với các tổ chức tài chính khác...của
ngân hàng. Khách hàng sẽ không muốn giao dịch với những ngân hàng không có
uy tín vì rủi ro có thể xảy ra đối với họ làm gián đoạn quá trình kinh doanh, hoặc
làm mất đi cơ hội kinh doanh của họ. Bên cạnh đó, ngân hàng có thể tăng khả
năng thu hút khách hàng thông qua các hoạt động đi kèm với hoạt động tín dụng
như: dịch vụ tư vấn, thẻ tín dụng...
• Tuân thủ các quy định do ngân hàng nhà nước đề ra trong lĩnh vực tín
dụng trung và dài hạn: Nhận thức được vai trò và chức năng của các ngân hàng
trong nền kinh tế, Nhà nước luôn có những chính sách quy định về hoạt động của
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
họ, mà một trong những quy định hết sức quan trọng đó là những quy định về
hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Tuân thủ các quy định này của Nhà nước
chính là sự tuân thủ pháp luật, góp phần ổn định nền tiền tệ quốc gia, giúp cho
nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và bền vững - tăng chất lượng tín dụng của
ngân hàng.
• Góp phần vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất
nước (đáp ứng vốn cho những ngành, lĩnh vực mũi nhọn nhờ đó đã giải quyết
công ăn việc làm cho nhiều lao động…): Hoạt động tín dụng mở rộng sẽ đáp ứng
nhu cầu vốn cho nền kinh tế: các dự án đầu tư có hiệu quả cao sẽ không bị thiếu
vốn, tức là nó có thể đi vào hoạt động, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho

số tài sản do doanh nghiệp quản lý.
1.2.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
 Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều
lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định. Công ty
nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công
ty nhà nước. Trong đó, Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế
trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà
nước với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức
và liên kết các đơn vị thành viên có mối liên hệ gắn bó với nhau về lợi ích
kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động
trong một hoặc một số chuyên nghành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị và toàn
tổng công ty.
 Tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập là hình thức liên
kết và tập hợp các công ty thành viên hạch toàn độc lập và có tư cách pháp nhân,
hoạt động trong một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường
tích tụ, tập chung vốn và chuyên môn hoá kinh doanh của các đơn vị.
 Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết
thông qua đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước quy mô lớn do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó công ty nhà nước giữ
quyền chi phối doanh nghiệp khác.
 Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là tổng công ty được
thành lập để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty trách
nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc
lập và các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do mình thành
lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và quyền, nghĩa vụ
của chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp đã
chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ công ty nhà nước độc lập.
 Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các

trò đó càng thể hiện rõ hơn: DNNN cùng với nhiều loại hình doanh nghiệp khác
đã góp phần quan trọng trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát…
• DNNN có vị trí then chốt trong kinh tế nhà nước; là lực lượng mở đường,
hỗ trợ, định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu
kinh tế, xã hội của đất nước.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
 Trong nền kinh tế, việc mở ra một loại hình kinh doanh mới sẽ luôn gặp
phải những khó khăn, trở ngại. Song, nếu không có người mở đường đi vào lĩnh
vực đó, thì nền kinh tế sẽ mất đi những cơ hội kinh doanh, mất đi tính cạnh tranh
trên thị trường quốc tế và do đó sẽ tụt hậu so với các nước khác. Vì vậy, để đảm
bảo hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội, cần thiết phải có các doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực này. Đóng vai trò này không có ai khác ngoài các doanh
nghiệp nhà nước. Ở một khía cạnh khác, trong xã hội, bên cạnh những doanh
nghiệp hoạt động với mục đích kinh doanh thì phải có những doanh nghiệp khác
sản xuất các hàng hóa công cộng. Việc sản xuất các hàng hóa này thường đem lại
lợi nhuận thấp hoặc là sẽ có rất nhiều rủi ro trong việc đầu tư, nhưng xét trên
phạm vi toàn xã hội lại rất cần thiết cho sự phát triển như đường sá, cơ sở hạ
tầng, nghiên cứu khoa học…Ở những lĩnh vực đó cần thiết phải phát triển các
DNNN.
 DNNN có điều kiện về mọi mặt để đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện các
quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội như giao thông, điện…DNNN có điều kiện để đi đầu trong việc tập trung
nghiên cứu, xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất những
hàng hóa mà trong nước có lợi thế, có khả năng cạnh tranh, thị trường có nhu
cầu, đem lại lợi nhuận cao, thu hút và sử dụng nhiều lao động, tạo điều kiện để
kinh tế trong nước phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. DNNN có vai trò
quyết định trong việc thăm dò và cùng các thành phần kinh tế khác khai thác tài
nguyên nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, vừa khai thác có
hiệu quả tài nguyên, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. DNNN là tấm gương tiêu
biểu cho các thành phần kinh tế khác trong việc thực hiện chủ trương, chính sách

rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhu cầu về vốn để duy trì sản xuất kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp là
rất lớn, bên cạnh các nguồn khác có thể tài trợ vốn cho doanh nghiệp thì hoạt
động tín dụng trung và dài hạn sẽ cung cấp một lượng vốn quan trọng cho các
doanh nghiệp, giúp các DNNN tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.
• Tín dụng trung và dài hạn tài trợ vốn, giúp các DNNN có một cơ cấu vốn
hợp lý đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp.
Vốn là một nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ và vốn chủ
sở hữu. Trong đó, vốn của chủ có thể bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu
thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ trọng của các nguồn đó trong
tổng nguồn chính là cơ cấu vốn. Một cơ cấu vốn hợp lý không thể thiếu nợ vay,
hơn nữa doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ tạo ra đòn bẩy tài chính, tức là việc sử dụng
nợ có thể giúp người vay tiền tạo ra các khoản thu nhập lớn hơn chi phí của
khoản nợ, làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Do đó có thể khẳng định rằng: tín
dụng nói chung và tín dụng trung – dài hạn nói riêng đã tài trợ vốn cho các doanh
nghiệp, giúp các doanh nghiệp có một cơ cấu vốn hợp lý.
Trong hoạt động tín dụng, để đảm bảo an toàn và giảm thiểu rủi ro thì các
ngân hàng không thể bỏ qua một khâu quan trọng: Kiểm tra, giám sát việc sử
dụng vốn của các doanh nghiệp trong quá trình tín dụng. Với công việc này, ngân
hàng đã không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân ngân hàng mà còn giúp các
doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, có trách nhiệm hơn với đồng vốn đi
vay bởi vì chỉ cần phát hiện ra một trục trặc nhỏ về tình hình tài chính, kết quả
hoạt động kinh doanh…của doanh nghiệp là ngân hàng có thể thu hồi vốn lại.
Nhờ đó, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp sẽ được nâng cao.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
1.2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN
Hoạt động tín dụng bao giờ cũng tiềm ẩn những rủi ro mà không một ai cũng
có thể dự đoán chính xác những vấn đề gì sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status