Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoàn cảnh thực tế hiện này, Việt Nam là một nước đang phát
triển do đó các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế
chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do những lợi thế nhờ quy mô đem
lại nên trong nền kinh tế doanh nghiệp lớn thường đóng vai trò chủ đạo . Tuy
nhiên, để cho nền kinh tế phát triển một cách cân đố , toàn diện và bên vững
thì cần phải có các doanh nghiệp vừa và nhỏ . Thực tế, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ không chỉ nhiều hơn về số lượng mà còn cho thấy tính linh hoạt và
hiệu quả kinh tế xã hội tổng thể ngày một cao.Doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm tới gần 96% tổng số doanh nghiệp cả nước , đóng gáp 25% GDP và
thu hút một lực lượng lao động đáng kê . Các doanh nghiệp vừa và nhỏđã
được thùa nhận đóng vai trò quan trọng của mịnh đối với sự phát triển kinh tế
của đất nước và trở thành một nhóm khách hàng rất quan trọng của Ngân
hàng .Nhận ra ý nghĩa quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sự phát
triển của đất nước, chính phủ có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ
doanh nghiệp phát triển.Tuy có tốc độ phát triển tương đối khá nhưng các
doanh nghiệp này còn gặp rất nhiệu trở ngại trong quá trình giải quyết những
tồn tại của bản thân doanh nghiệp và những khó khắn về: trình độ tổ chức và
quản lý yếu kém, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém ,giá cao ,
thị trường không ổn định do bị hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa của các
doanh nghiệp lớn cạnh tranh gay gắt, thiếu vốn để đổi mới công nghệ Do vậy,
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã bị đào thải khỏi ra nền kinh tế do thiếu vốn.
Một nền kinh tế phát triển lành mạnh và ổn định không thể không cần
đến những tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ những
người có vốn tới những người cần vốn. Ngân hàng là một tổ chức tài chính
quan trọng nhất của nền kinh tế .Hoạt động chính của ngân hàng thương mại
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
1
(NHTM) là huy động vốn để cho vay nhắm mục đích thu được lợi nhuận . vì
vậy bất cứ một khách hàng nào thỏa mãn đầy đủ các điều kiện của Ngân hàng
Ths. Phan Thị Hạnh cùng các cô chú, anh chị cán bộ nhân viên ở chi nhánh
Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Hà Thành đã giúp em hoàn thành chuyên đề
tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT GIẢI NGHĨA
DNV&N Doanh nghiệpvừa và nhỏ
NHTM Ngân hàng thương mại
NHĐT&PT Ngân hàng đầu tư và phát triển
TCTD Tổ chức tín dụng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
BIDV Bank for Investment and development of Viet Nam
Sxkd Sản xuất kinh doanh
P. Phòng
XDCB Xây dựng cơ bản
KHDN Khách hàng doan nghiệp
KH Khách hàng
KTXH Kinh tế xã hội
PT Phát triển
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
1.1.HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái kiệm hoạt động cho vay của ngân hàng
vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay vốn , khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương
án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ xác định, phân tích khách hàng và ký hợp
đồng cho vay, xác định quy mô cho vay , thời hạn giai ngân, thời hạn trả nợ,
lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt thành
những hồ sơ khác nhau. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ
thu gốc và lãi, trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay ngân hàng sẽ kiểm
soát mục đích và hiệu quả sử dụng , nếu thấy có dầu hiệu vi phạm hợp đồng
ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyên nợ quá hạn. lãi suất có thể cố định
hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
Cho vay theo hạn mức tin dung : Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó
ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối thiếu thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoặch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có
thức hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng .
Mỗi lần vay tiền khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền
vay, nộp các chứng tử chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay,
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng tử, ngân hàng sẽ phát
tiền cho khách hàng.
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn . Ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và Khách
hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng , các nguồn
cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Đây không phải là thời hạn hoàn trả
mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết
đã được hai bên thỏa thuận .khách hàng loại này không nhất thiết phải duy trì
số dư trên tài khoản tiền gửi của minh, vì đã có hạn mức tín dụng khách hàng
sử dụng thẻ để thành toán hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi hạn mức tín dụng
đã chấp thuận trong hợp đồng tín dụng.khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng .
Nghiệp vụ nay tạo khả năng thanh toán linh hoạt cho toàn bộ nền kinh tế.
Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cảm kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định .Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mới dàn xếp, phối hợp với một một tổ chức tín dụng
khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy đinh của Quy chế cho vay của
các tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay
theo các phương thức mà pháp luật khộng cầm, phù hợp với các quy định tại
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ
chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Vì dụ như cho vay theo dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu tư phục vụ đời
sống, cho vay gián tiếp ( tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Phụ vữ....
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay la khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa
được phân làm hai loại sau:
- Cho vay có tài sản đảm bảo : Đây là hình thức cho vay có đảm bảo đối
với tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc cầm cố.
Các tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hóa trong kho, nhà
cửa , thiết bị.... Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản hợp pháp, có
khả năng bán được làm đảm bảo.
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức thế chấp:là hình thức theo
đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tớ chứng nhận sở hữư của
các tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
song vẫn được quyền sử dụng tài sản với cảm kết giữ nguyên hiện
trạng.Đảm bảo bằng thế chấp thuận lợi cho người đi vay có thể sử dụng
tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh doanh, tuy nhiên có thể
gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát tài sản
đảm bảo bởi quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản hoặc khách
hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho
ngân hàng. Vì vậy ngân hàng phải tăng khả năng đánh giá trị tài sản.
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố: là hình thức cho
vay theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm
soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết
( thường gọi là thời gian tài trợ) . Ngân hàng quản lý toàn bộ tài sản đó,
mọi chu phí liên quan đến việc quản lý do người vay chịu. Các tài sản
cầm cố thương gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chiu ảnh hưởng của các yếu tố
môi trường tự nhiên, Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có
thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân
hàng nằm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người
nhận tài trợ. Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm
tra tính hợp lệ hợp pháp của vật cầm cố, vật cầm cố, sau đó ngân hàng
cùng với khách hàng định giá vật cầm cố, kì hợp đồng cầm cố quy định
Hoạt động cho vay của các ngân hàng có mỗi quan hệ mật thiết với tình
hình phát triển kinh tế bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế . Cho vay là chức năng kinh tế lâu đời
nhất của ngân hàng, là hoạt động kiếm được lợi nhuận lớn cho ngân hàng
song cũng gặp nhiều rủi ro.
Trong quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo
quyết định số 284/2000/QĐ/NHNN ngày 25/08/2000 của Thống đốc ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay được định nghĩa như sau: “ Cho vay là một
hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
khảon tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trong thời gian nhất định theo
sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
Hoạt động cho vay có vai trò quan trọng đối với các cá nhân , doanh
nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đối với ngân hàng, tổ
chức tín dụng và đối với toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nổi những nguồn vốn nhàn
rỗi với những người thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động
này làm tăng thu nhập cho những người chưa có kế hoặch đầu tư nói chung và
những khoản tiền nhàn rỗi noi riêng, đồng thời làm tăng khả năng hoạt đồng
của những người có như cầu về vốn là doanh nghiệp hay cá nhân. Có thể nói,
hoạt động cho vay tạo ra sự phát triển chung của cả nên kinh tế.
Thứ hai, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao
cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi hay động và các khoản chi
phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt
động của ngân hàng.
Thứ ba, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn
trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ . Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền lớn khi các khoản
Ở Việt Nam : theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11 của Chính
phủ về trợ giúp phát triển DNV&N đã dưa ra khai niệm: “ DNV&N là những
cơ sở sản xuất kinh doanh nghiệp độc lập, có đáng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không qua 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”
Như vậy, DNV&N ở Việt Nam bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động the luật doanh nghiệp, luật
doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định
02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2001 về đăng ký kinh doanh .
1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay cũng phát triển với
tốc độ trương đối nhiều như: các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hưu hạn, công ty cổ phần ....... đang phát triển nhanh chóng và đang trở thành
lực lượng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội .
Việc phát triển nhanh chóng các doanh nhgiệp vừa và nhỏ ở các nước
tư bản chủ nghĩa và ở các nước xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ gần đây
là do nhiều nguyên nhân vì vậy ta cần hiểu đặc điểm của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Thứ nhất, DNV&N nhạy bén, năng động dẽ thích ứng với sự thay đổi
của thị trường.
Đây là một trong những ưu thế nổi bật của DNV&N so với các doanh
nghiệp lớn, ưư thể đó được thể hiện ở bộ máy quản lý gọn nhẹ, quy mô vốn
nhỏ, cơ sở vật chất không lớn...nên các DNV&N có thể dễ dàng thực hiện
chuyên môn hóa nhằm đáp ứng như cầu ngày càng cao của thị trường. Mặt
khác các DNV&N có khả năng phản ứng nhanh trước những biến động của
thị trường, có thể chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất cho phù hợp với
DNV&N có tổng số vốn kinh doanh không quá 10 tỷ đồng và số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người, với quy mô đó phần lớn các
daonh nghiệp này đều có thể sử dụng nguồn nhân công và nguồn nguyên liệu
sẵn có ở tại địa phương, đây là ưu thể của các DNV&N so với các doanh
nghiệp lớn vì các doanh nghiệp lớn thường cần có thị truờng tiêu thụ rộng,
khôid lượng sản phẩm sản xuất ra cũng rất lớn nên thường các nguồn nguyên
liêu sẵn có ở địa phương không đủ đáp ứng mà phải nhập từ nơi
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
khác.DNV&N với khả năng chuyên môn hóa sâu sắc, sản xuất các mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu, tiết kiệm được chi phí sản xuất, giá thành phù hợp với
người tiêu dùng góp phần ổn định đới sống xã hội.
Thứ năm, DNV&N góp phần tạo lập sự phát triển cần bằng giữa các
vùng trong một quốc gia.
Như vậy, các DNV&N thực sự góp phần đắc lực cho sự tăng trưởng
kinh tế và chuyển dịch cơ cầu kinh tế của đất nước.
1.2.3. Sự cần thiết phát triển hoạt động cho vay đối với DNV&N
Mở rộng cho vay nói chung là vấn đề luôn được quan tâm của các ngân
hàng vì dư nợ cho vay tăng tức doanh thu tăng và theo đó lợi nhuận đạt được
tăng , vị trí của ngân hàng ngày càng được nâng cao trên thị trường.
Việc mở rộng cho vay song song với việc nâng cao chất lượng tín dụn
có ý nghĩa rất lớn và là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt
là tiền, là nơi cung cấp vốn đồng thời cũng là nơi tiêu thụ vốn của khách
hàng, tất cả hoạt động mua bán này được thông qua một số công cụ nghiệp vụ
của ngân hàng.
Mở rộng cho vay được thể hiện ở hai khía cạnh đó là mở rộng về số
lượng và mở rộng về chất lượng:
- Mở rộng về số lượng là ngân hàng thực hiện các biện pháp nhắm
tăng các chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng quna hệ tín dụng đối với các DNV&N ,
trưởng doanh số cho vay thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay tăng,
nếu âm thể hiện quy mô cho vay giảm.
+ Chỉ tiêu dư nợ của DNV&N: Dư nợ DNV&N của ngân hàng là số
tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho doanh nghiệp vay trong thời điểm nhất
định và thường là ở thời điểm cuối kỳ. Đây là số tuyệt đối thể hiện quy mô
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
cho vay tới doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.Ngoài ra ta còn có thể
xét tỷ trọng dư nợ của DNV&N trên tổng dư nợ của ngân hàng.Tỷ lệ này cao
chứng tỏ ngân hàng tập trung tín dụng vào DNV&N và cũng có thể là việc thu
nợ không được thực hiện tốt nên tỷ trọng dư nợ còn cao.
+ Chỉ tiêu doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ DNV&N là số tiền mà các
DNV&N đã trả cho ngân hàng trong kỳ từ các khoản vay. Chi tiêu này phản
ánh tốc độ hiệu quả trong công tác thu nợ của ngân hàng, đồng thời cũng thể
hiện tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn DNV&N là khoản nợ gốc hay lãi mà
doanh nghiệp không trả được trả được khi đã đến hạn thoả thuận nghi trong
hợp đồng tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng.Nợ quá hạn phản ánh quy
mô cho vay thấp, song không một ngân hàng nào có thể tránh được.Tỷ lệ nợ
quá hạn trên tổng dư nợ của DNV&N dưới 2,3% là chấp nhận được.
+ Chỉ tiêu lợi nhuận : Việc mở rộng cho vay không chỉ giúp doanh
nghiệp kinh doanh có lãi mà còn đảm bảo cho ngân hàng phát triển và tồn tại.
Trong nền kinh tế, mục đích cuối cúng của mọi hoạt động kinh doanh đều là
lợi nhuận và ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ. Việc mở rộng cho
vay đối với DNV&N không thể bỏ qua tính toán và phân tích lợi nhuận thu
được của ngân hàng.
1.3. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI
VỚI DNV&N
1.3.1. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại đối với DNV&N
Cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của
sau khi nhận đủ các tài liệu của khách hàng tiến hành xác định hạn mức tín
dụng. Đối với khách hàng sản xuất, kinh doanh tổng hợp thì phương án sản
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
xuất kinh doanh của khách hàng là tổng hợp phương án sản xuất kinh doanh
của từng đối tượng, theo đó ngân hàng nơi cho vay xác định hạn mức tín dụng
cho các phương án sản xuất kinh doanh tổng hợp .
Phat tiền vay : Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu
lực của hạn mức tín dụng, mỗi rút vốn vay khách hàng cho vay lập giấy nhận
nợ kèm theo các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hạn mức
tín dụng. Sau khi thực hiện cho vay, ngân hàng phải quản lý chặt chẽ hạn
mức tín dụng, bảo đảm mức dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký.
Trong quá trình vay vốn, trả nợ, nếu việc sản xuất kinh doanh có thay đổi và
khách hàng có nhu cầu được hạn mức, khách hàng phải làm giấy đề nghị xác
định lại hạn mức tín dụng, ngân hàng sẽ xem xét, nếu thấy hợp lý thì cùng
khách hàng thỏa thuận điều chỉnh hạn mức tín dụng và bổ xung hợp đồng tín
dụng .
+ Cho vay theo dự án: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự
án phục vụ đời sống . Ngân hàng cùng khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng
và thỏa thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân
định các kỳ hạn trả nợ . Ngân hàng sẽ thực hiện giải ngân theo tiến độ thực
hiện dự ân. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong
phạm vi mức vốn đầu tư đã thỏa thuận, kèm theo các chứng từ xin vay phù
hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay thấu chi : Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho
phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thành toán của mình đến một
giới hạn nhất định trong khoảng thời gian xác định , giới hạn này gọi là hạn
mức thấu chi .
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
chẽ của ngân hàng Trung Ương và Chính phủ , trong đó hoạt động cho vay
của ngân hàng chịu tác động trực tiếp của các công cụ chính sách tiền tệ: Tài
cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tín dụng
...v.v....
+ Tài cấp vốn: Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng Trung Ương
đối với các ngân hàng thương mại, khi đó lượng tiền cung ứng đã tăng lên
làm tăng khả năng cho vay của ngân hàng thương mại.
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc : Là tỷ lệ giữa số lượng phươngtiện thanh toán
cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động. Thông qua đó ngân hàng
Trung Ương tác động tới cả giá cả và khối lượng tín dụng từ đó ảnh hưởng
đến khả năng cho vay của ngân hàng thương mại.
+ Nhiệp vụ thị trường mở : Là hoạt động mua, bán các giấy tờ có giá,
như: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc , v.v.... trên thị trường tiền tệ,
điều hòa cung cầu giấy tờ có giá, ảnh hưởng tới dự trữ của các ngân hàng
thương mại, tác động đến khả năng cho vay của ngân hàng thương mại .
+ Lãi suất tín dụng : Sự tăn giảm lãi suất có thể tác động đến cung
cầu về vốn vay, gây ảnh hưởng tới khả năng cho vay của ngân hàng. Nếu lãi
suất huy động cao sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền tại ngân hàng, ngân
hàng sẽ chủ động được nguồn vốn để mở rộng cho vay.
Các nhân tổ từ phía DNV&N
Đầy là nhân tố tác động quan trọng nhất tới chất lượng hoạt động cho
vay của ngân hàng, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay của
ngân hàng đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp luôn mong muốn vay
được vốn và tìm mọi cách để có được nguồn vốn từ phía ngân hàng.Các ngân
hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích ký khách hàng về các yếu tố
liên quan: Năng lực pháp luật dân sự, mục đích sử dụng món vay hợp pháp,
có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ, có dự án đầu tư và phương án sản xuất
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
23
kinh doanh khả thi, thực hiện các quyết định về bảo đảm tiền vay theo đúng
nhập kinh tế thế giới và khu vực sẽ mở ra nhiều cơ hội tốt cho các ngân hàng .
Các ngân hàng có thể mở rộng cho vay cả bằng ngoại tệ và nội tệ đối với cả
doanh nghiệp trong nước cũng như các daonh nghiệp nước ngoài.
Các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp tất cả các yếu tố pháp
lý tác động tới hoạt động kinh doanh , bao gồm: Hệ thống pháp luật, các biện
pháp thi hành và chấp hành nghiêm chỉnh luật của các chủ thể tham gia kinh
doanh trên thị trường . Môi trường pháp lý chặt chẽ và ổn định sẽ là điều kiện
thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , tạo ra một điều
kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp có điều kiện vay vốn tại ngân hàng.
Ngược lại, khi môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, liên tục có thay
đổi nào đó trong các nghị định, quyết định, hiệp định, thương mại được ký
kết, ....... tất cả đều tác động đến quyết định cho vay đối với DNV&N của
ngân hàng.
Các nhân tố thuộc về môi trường an ninh, chinh trị, xã hội
Đây là nhân tố vô cùng quan trọng, không thể rời nhân tố ổn đinh và
phát triển kinh tế. Một quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển thì phải có sự
ổn định về an ninh, chinh trị, xã hội. Có thể nói, Việt Nam hiện nay là nước có
tình hình trị ổn định , an ninh quốc phòng được giữ vững được thế giới đánh
giá là nước có độ an toàn cao, là điều kiện căn bản để phát triển kinh tế đất
nược .
1.3.2.2. Các nhân tố chủ quan
Chính sách cho vay của ngân hàng: Đây được coi là hướng
dẫn chung cho cán bộ tín dụng nhân viên của ngân hàng, góp phần tăng
cường chuyên môn hóa và tạo sự thống nhất chung trong hoạt động cho vay
của chuyên môn hóa và tạo sự thông nhất chung trong hoạt động cho vay của
ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lợi. Bao gồm:
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
25