Mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Pdf 22

GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam hiện nay đang được biết đến như một quốc gia ổn
định về chính trị, tăng trưởng ngoạn mục về kinh tế, với mức tăng trưởng
8,5% trong năm 2007, cao nhất trong hơn 10 trở lại đây. Để đạt được những
thành tựu kinh tế như vậy không thể không kể đến sự đóng góp đáng kể của
cộng đồng các doanh nghiệp mà đặc biệt là các DNV&N (hiện đang chiếm
96% trong tổng số gần 250 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt
động theo Luật doanh nghiệp; chiếm 99% số lượng cơ sở sản xuất kinh
doanh của cả nước, 25% tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng 77% lực
lượng lao động phi nông nghiệp).
Xác định được tầm quan trọng của DNV&N đối với phát triển kinh tế
đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, 5 năm trở lại đây, Chính phủ đã
có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao nhất hiệu quả
hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình doanh nghiệp
này. Có thể thấy rõ, hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh đang dần
được cải thiện và ngày càng có chuyển động tích cực. Các DNV&N ngày
càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi và bình đẳng hơn, tình trạng phân
biệt đối xử so với các doanh nghiệp lớn giảm nhiều. Đặc biệt, ở yếu tố quan
trọng, có tính chất sống còn với sự tồn tại và phát triển của các DNV&N là
việc tiếp cận với các nguồn vốn đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so
với những năm trước đây, nhiều ngân hàng đã xác định cho vay DNV&N là
một bước “chuyển đổi tích cực” trong cơ cấu tài sản.
Nhưng theo kết quả điều tra do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung
ương phối hợp với Tổ chức Danida (Đan Mạch) tiến hành năm 2007 với
2.800 DNV&N tại 10 tỉnh, thành phố cho thấy trong những trở ngại mà DN
gặp phải thì thiếu vốn, ít khả năng tiếp cận vốn là vấn đề nghiêm trọng nhất.
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
1
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp

Chương I
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan
trọng nhất trong nền kinh tế. Với sự hiện hữu của ngân hàng, chúng ta có thể
nhận được những khoản vay trả góp để thanh toán cho việc mua sắm những
tiện nghi trong gia đình hay để trang trải học phí, đầu tư mở rộng hoạt động
kinh doanh…Bên cạnh đó ngân hàng cũng là địa chỉ tin cậy nếu như chúng
ta muốn nhận được sự tư vấn về đầu tư, kinh doanh chứng khoán…hay sử
dụng các dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh, những dịch vụ ngân hàng hiện đại như
homebanking, phonebanking....Có thể nói ngân hàng với hệ thống chân rết
len lỏi đến tất cả mọi nơi trên thế giới có thể tác động đến sự phát triển của
mọi lĩnh vực trong một nền kinh tế.
Ngày nay, hoạt động ngân hàng không ngừng phát triển, sự phát triển
ấy có thể nhận thấy trên tất cả các phương diện, từ sự mở rộng mạng lưới
cho đến sự ra đời của rất nhiều sản phẩm dịch vụ mới…Tuy nhiên, càng
ngày ngân hàng càng phải đương đầu với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt
hơn. Thực tế là, rất nhiều các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm các
công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh bất động sản…
đều đang cố gắng cung cấp những dịch vụ ngân hàng. Để đối phó, ngân hàng
cũng mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ của mình, hướng về lĩnh vực bất
động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm… Vì vậy
để có thể phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác thì cách tiếp
cận thận trọng nhất có thể xem xét là trên phương diện những loại hình dịch
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
3
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp. Bằng cách tiếp cận này thì có thể

Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay thường chiếm quá
nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 nguồn thu của ngân hàng.
Đồng thời, rủi ro của hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh
mục các khoản cho vay. Tình trạng khó khăn về mặt tài chính của một ngân
hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số
nguyên nhân như: quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ đúng nguyên tắc
tín dụng, chính sách tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng
suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế…
1.1.3 Đối tượng cho vay của NHTM.
Ngân hàng xem xét cho vay các đối tượng sau:
• Giá trị vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị bao gồm cả
thuế giá trị gia tăng và các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư,
phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục
vụ đời sống…
• Nhu cầu tài chính của khách hàng: Số tiền thuế xuất
khẩu, nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu,
thuế giá trị gia tăng đối với lô hàng nhập khẩu…
• Các đối tượng cho vay khác như: Cho vay góp vốn thành
lập công ty liên doanh; Cho vay trả lãi tiền vay trong thời hạn thi công...
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1 Khái niệm
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
5
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Ở mỗi nước khác nhau quan niệm về DNV&N cũng khác nhau.
Nhưng hiểu một cách chung nhất thì DNV&N là những doanh nghiệp có
quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Trong thực tế, phần lớn các nước đều sử dụng hai tiêu thức vốn điều

pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động
trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
6
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Với tiêu thức xác định DNV&N này thì ở Việt Nam hiện nay có
khoảng 80% các doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm các DNV&N và trong
khu vực kinh tế tư nhân, các DNV&N chiếm khoảng 97% về vốn và khoảng
99% về lao động.
1.2.1.2 Phân loại.
DNV&N có thể được chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là
doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ
là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có
số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50
đến 300 lao động.
Một cách phân loại khác được các NHTM Việt Nam sử dụng hiện nay
để có thể dễ dàng hơn cho việc đánh giá, xếp hạng, quản lý khách hàng
doanh nghiệp là phân loại theo ngành nghề kinh doanh. Theo tiêu thức này
thì DNV&N được chia thành 4 loại:
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành thương mại, dịch vụ.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành xây dựng.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành công nghiệp.
1.2.1.3 Vai trò của DNV&N
Ở mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia hay lãnh thổ khác nhau, các

phi nông nghiệp (chiếm khoảng 25% tổng số lao động trong cả nước) đồng
thời cũng đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách quốc gia và chi phối
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
8
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
hầu hết các hoạt động phân phối (bán lẻ) của cả nước (chiếm tỷ trọng
khoảng 80%).
• Góp phần ổn định nền kinh tế
Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNV&N là những nhà thầu của
những doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm
cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, các DNV&N được ví như
là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
• Tác nhân giúp cho nền kinh tế năng động hơn
Vì có quy mô nhỏ về vốn và lao động, nên các DNV&N dễ điều chỉnh
(xét về mặt lý thuyết) hoạt động của mình. Khi ngành nghề kinh doanh mà
doanh nghiệp đang hoạt động gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp có thể
nhanh chóng chuyển hướng kinh doanh, thay đổi ngành nghề kinh doanh, cơ
cấu sản phẩm…Mặt khác, do quy mô nhỏ nên tốc độ tăng trưởng, mở rộng
quy mô hoạt động của doanh nghiệp thường cao, khả năng thu hồi vốn
nhanh chóng góp phần đáng kể trong việc tạo nên một nền kinh tế năng
động.
• Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan
trọng
Các DNV&N thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết
được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, đây là cơ sở hình
thành nên ngành công nghiệp phụ trợ có tác động rất lớn đến sự phát triển
của ngành công nghiệp chính. Ví dụ: Có thể kể đến những tập đoàn lớn như
Boeing hay Microsoft, những tập đoàn này cũng không thể hoạt động đơn lẻ
mà phải có sự hợp tác với các công ty có quy mô vừa và nhỏ trong việc sản
xuất phụ kiện phụ trợ cho sản phẩm chính.

Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
10
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
lượng sản phẩm thấp và thiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị nên các
DNV&N rất khó tiếp cận trực tiếp được với thị trường nước ngoài.
• Loại hình kinh doanh đa dạng
Các DNV&N tham gia kinh doanh với mọi hình thức trong mọi ngành
nghề khác nhau vì vậy có thể xen vào tất cả các “khe” của thị trường, phục
vụ mọi nhu cầu phát sinh của nền kinh tế, lấp vào khoảng trống của các
doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng.
• Bộ máy tổ chức gọn nhẹ
Với bộ máy tổ chức gọn nhẹ, cơ chế quản lý linh hoạt, các DNV&N
có thể áp dụng được nhiều mô hình quản lý khác nhau góp phần làm giảm
thiểu chi phí quản lý, giảm thủ tục hành chính và dễ dàng chuyển đổi hình
thức kinh doanh.
• Hạn chế về vốn
Hạn chế về vốn là đặc điểm chung của đại đa số các DNV&N. Trong
khi các doanh nghiệp lớn có khả năng thu hút vốn bằng nhiều cách khác
nhau như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng…thì các
DNV&N lại chỉ loay hoay trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu. Một mặt vì
những khó khăn, trở ngại trong việc tiếp xúc với nguồn vốn vay. Mặt khác
thường là các DNV&N không đủ điều kiện để tham gia thu hút vốn trên thị
trường chứng khoán.
• Thiếu minh bạch trong việc xác định tài sản
cá nhân và tài sản pháp nhân
Rất nhiều DNV&N, nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn, tài sản
pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó
thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của doanh nghiệp. Nguyên nhân của
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
11

GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Theo thống kê năm 2006, trong số hơn 25% lao động có chuyên môn
thì chỉ 6% lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Chủ doanh nghiệp có
trình độ Đại học cũng chỉ khoảng 2%. Về cơ bản, đội ngũ này mới được
hình thành những năm 90, còn thiếu kinh nghiệm nhiều mặt, từ kỹ năng
quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường. Quy mô nhỏ lại luôn khó
khăn về vốn nên hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ kinh phí để
đầu tư, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.
Đây là một lực cản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp và cần phải
quyết tâm vượt qua vì sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp này trong điều
kiện hội nhập hiện nay.
1.2.2 Vai trò của hoạt động cho vay DNV&N
1.2.2.1 Đối với DNV&N
Thứ nhất, vốn vay NHTM là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời
và phát triển của các DNV&N. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, bên
cạnh thông tin, nhân lực và công nghệ, một trong những nhu cầu không thể
thiếu của doanh nghiệp là vốn. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thường dựa các nguồn chủ yếu là vốn chủ sở hữu, vốn vay ưu đãi, vốn vay
phi chính thức và vốn vay ngân hàng. Một mặt, do vốn chủ sở hữu của các
DNV&N thấp lại không đủ điều kiện để tham gia thu hút vốn trên thị trường
chứng khoán. Mặt khác, không phải DNV&N nào cũng nhận được nguồn
vốn vay phi chính thức từ người thân, bạn bè…và nếu có được nhận thì
nguồn này cũng rất ít ỏi; đối với nguồn vốn vay ưu đãi thì thủ tục xin vay
vốn lại khá rườm rà, phức tạp, yêu cầu có tài sản thế chấp và phí môi giới để
được hưởng khoản vay cao khiến các doanh nghiệp nản lòng. Vì vậy, có thể
nói vốn vay ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với các DNV&N,
không những trong việc hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và
phát triển mà ngay từ khi thành lập, nếu không có nguồn hỗ trợ tích cực của
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
13

GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
với rủi ro lại tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời
thấp. Song, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt buộc các ngân
hàng phải hướng tới DNV&N như là một khách hàng quan trọng và tiềm
năng. Hiện nay, rất nhiều ngân hàng đã xác định cho vay DNV&N là đối
tượng khách hàng chiến lược của mình như Agribank, Vietcombank, VP
bank...
Cho vay đối với DNV&N phân tán được rủi ro. Do số lượng các
doanh nghiệp rất lớn, ngành nghề kinh doanh lại rất đa dạng, thêm vào đó
những khoản vay của các doanh nghiệp lại không quá tập trung vốn vì vậy
việc cho vay đối với DNV&N có thể phân tán được rủi ro. Việc một hoặc
một số doanh nghiệp gặp khó khăn cũng thường không đem lại hậu quả quá
lớn đối với hoạt động của ngân hàng.
Mặt khác, không như các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn có quan
hệ với nhiều ngân hàng cùng một lúc, các DNV&N thường có quan hệ với
chỉ một hoặc hai ngân hàng. Vì vậy ngân hàng có thể cung cấp và thu phí
trọn gói các dịch vụ tài chính của mình như vừa thực hiện việc cho vay vừa
cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính...
Thêm vào đó, do quy mô doanh nghiệp tương đối nhỏ gọn, địa bàn
hoạt động của các doanh nghiệp cũng thường nằm trong một địa phương xác
định, vì vậy dễ dàng hơn cho ngân hàng trong việc tìm hiểu thông tin về
doanh nghiệp cũng như quản lý việc vay vốn, sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
1.2.3 Phân loại hoạt động cho vay đối với DNV&N.
1.2.3.1 Phân loại theo hình thức đảm bảo tiền vay.
a) Cho vay đảm bảo bằng tài sản.
Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc tài sản của bên
thứ ba
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
15

GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay vốn có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội
Bảo lãnh vay vốn là việc người thứ ba cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ
tài chính đối với ngân hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực
hiện được. Đối với người bảo lãnh có uy tín, ví dụ như Chính phủ, các tổ
chức tài chính lớn…ngân hàng chấp nhận hình thức bảo lãnh bằng uy tín của
người thứ ba mà không cần tài sản đảm bảo.
Hiện nay tại Việt Nam, những DNV&N có dự án đầu tư, phương án
sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả vốn vay; có tổng giá trị tài
sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối
thiểu bằng 30% giá trị khoản vay, không có các khoản nợ thuế, nợ quá hạn
tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức kinh tế khác sẽ được Quỹ bảo lãnh
tín dụng các tỉnh thành trực thuộc trung ương cấp bảo lãnh tín dụng tối đa
bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp,
cầm cố của doanh nghiệp tại tổ chức tín dụng để hỗ trợ cho doanh nghiệp
vay vốn tại ngân hàng.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với doanh nghiệp có đủ
điều kiện
Cho vay không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho những doanh
nghiệp có uy tín, thường là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
thường xuyên có lãi, có tình hình tài chính tốt, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây
dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc
những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà mà ngân hàng có khả năng
giám sát việc bán hàng…cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
Sau khi chấm điểm và xếp hạng khách hàng, những khách hàng uy tín
được ngân hàng cho vay không cần tài sản đảm bảo bao gồm:
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
17
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp

ngân hàng.
Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: các khoản cho vay này
cung cấp vốn cho bên thi công để thuê nhân công, thuê thiết bị xây dựng,
mua nguyên vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng.
Cho vay kinh doanh bán lẻ: ngân hàng hỗ trợ người tiêu dùng trong
việc mua trả góp xe máy, đồ dùng gia đình, nội thất và các hàng hóa lâu bền
khác bằng cách tài trợ cho các khoản phải thu mà người bán những hàng hóa
này sẽ nhận được sau khi họ ký hợp đồng bán hàng trả góp.
Cho vay trên tài sản: là khoản vay được bảo đảm bằng các tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp, được dự tính sẽ chuyển thành tiền mặt trong
tương lai. Tài sản chủ yếu được dùng để đảm bảo cho khoản vay bao gồm
các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho. Ngân hàng
cho vay theo một tỷ lệ nhất định trên giá trị ghi sổ của tài khoản phải thu
hoặc giá trị hàng tồn kho.
b) Cho vay trung hạn và dài hạn
Cho vay trung hạn có thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm, tài trợ cho các
tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng, vật nuôi, trang
thiết bị chóng hao mòn…
Cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm, tài trợ
cho các công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu đường, máy móc thiết bị
có giá trị lớn thường có thời gian sử dụng lâu.
Việc xác định thời hạn như trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì
nhiều khoản cho vay không xác định được trước chính xác thời hạn. Phân
chia hoạt động cho vay theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
19
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao
hơn cho vay trung và dài hạn: Các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu

riêng về quy mô và các giới hạn của mình. Ví dụ quy mô cho vay tối đa với
từng đối tượng doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh tế…Việc ngân hàng mở
rộng giới hạn tín dụng hay chia nhỏ hạn mức cho vay đối với đối tượng
khách hàng là các DNV&N cũng là một nhân tố thúc đẩy việc cho vay đối
với loại hình doanh nghiệp này.
Chính sách về các khoản đảm bảo.
Vấn đề nổi cộm mà các DNNVV hiện đang rất khó tháo gỡ là sự
"cách trở" trong việc tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư và hoạt động kinh
doanh. Các doanh nghiệp thiếu vốn nhưng lại rất khó tiếp cận được các
nguồn vay. Trong khi đó các ngân hàng đang có nhu cầu cần cho vay đối với
các doanh nghiệp nhằm mở rộng thị phần và tăng thu nhập nhưng lại không
thể cho vay.
Nguyên nhân lớn gây nên trở ngại này do hai bên chưa có sự đồng
thuận và bảo đảm cho việc vay vốn đã tạo nền cái vòng luẩn quẩn: doanh
nghiệp không đủ tài sản thế chấp, không vay được vốn, không mở rộng được
sản xuất kinh doanh, không nhiều lợi nhuận và tài sản vì thế cũng chẳng có
nhiều tài sản để thế chấp... đã diễn ra nhiều năm nay.
Vì vậy, những sự thay đổi trong chính sách về các khoản đảm bảo của
ngân hàng ví dụ như mở rộng danh mục các tài sản có thể sư dụng làm tài
sản đảm bảo, tăng tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo, mở rộng hình
thức cho vay bảo lãnh…là những nhân tố tác động rất lớn đến việc mở rộng
cho vay.
- Khả năng cung ứng vốn của ngân hàng
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
21
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Theo V.Le Nin: “ Ngân hàng chẳng qua là một xí nghiệp đặc biệt kinh
doanh tiền tệ”. Vì vậy, cũng như các doanh nghiệp thông thường, để có thể
mở rộng việc tiêu thụ sản phẩm thì điều kiện cần là sản lượng sản phẩm
được sản xuất ra phải đủ để cung ứng cho nhu cầu của thị trường. Tương tự

hàng phải am hiểu đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực mà
các doanh nghiệp tham gia kinh doanh, môi trường cạnh tranh ủa doanh
nghiệp...Họ phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến người vay…
Như vậy, họ cần phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ lưỡng, liên tục và toàn
diện.
1.2.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường
- Môi trường pháp lý
Khi các ngân hàng trong hệ thống tài chính thực hiện nghiệp vụ nhận
tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khách cho khách hàng,
họ phải tiến hành những công việc trong một khung pháp lý chặt chẽ được
xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Trong đó, những quy
định có liên quan đến hoạt động cho vay có ảnh hưởng rất lớn đến danh mục
cho vay của ngân hàng vì danh mục cho vay có vai trò rất lớn tới sự an toàn
trong hoạt động của ngân hàng.
Việc mở rộng hoạt động cho vay đối với các DNV&N nhằm thúc đẩy
sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này phụ thuộc rất lớn vào chính
sách tiền tệ của NHNN, vào việc chính phủ có xây dựng được một môi
trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho các DNV&N trong việc tiếp
cận với nguồn vốn theo hướng: cơ chế chính sách phải đồng bộ; xoá bỏ
những phân biệt đối xử về tín dụng, đơn giản hóa cơ chế và thủ tục hành
chính của Nhà nước như vấn đề công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo…
Sự ổn định trong chính sách của nhà nước đối với các ngành kinh tế
cũng ảnh hưởng rất lớn đến dự mở rộng cho vay đối với các DNV&N. Ví dụ
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
23
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Ở nước ta hiện nay chính sách trong một số ngành như: lắp ráp ô tô, xe máy,
chế biến gỗ… không ổn định gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi
đầu tư dài hạn và Ngân hàng không thể mạo hiểm mở rộng cho vay trung và
dài hạn đối với những DNV&N hoạt động trong những lĩnh vực này.

đó nhu cầu của khách hàng với các đặc tính khác nhau (tùy theo ngành nghề
kinh doanh, loại hình doanh nghiệp…) quyết định nội dung và sự thành công
của việc mở rộng hoạt động cho vay. Do những đặc điểm của loại hình
DNV&N, ta có thể nhận thấy nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tập
trung vào các mặt:
• Để có thể thành công trong một nền kinh tế
cạnh tranh cao độ như hiện nay buộc các doanh nghiệp phải thường
xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí
quyết sản xuất. Thế nhưng một thách thức có tính nội tại nhưng không
phải là nhỏ của các DNV&N là: hiện nay phần lớn công nghệ do các
DNV&N đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chục
năm. Điều này dẫn đến tình trạng sản phẩm làm ra không thể đáp ứng
được mẫu mã, chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh
tranh, đến việc nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm,
làm tăng chi phí sản xuất, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường. Đồng thời làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNV&N
của Việt Nam. Vì vậy, hiện nay nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để
đầu tư cải tiến công nghệ của các DNV&N là rất lớn.
• Thêm vào đó, đa số các DNV&N có vốn lưu
động rất thấp so với nhu cầu cần thiết. Nguồn vốn để mua vật tư, hàng
hoá dự trữ cho sản xuất kinh doanh chủ yếu được bù đắp bằng vốn đi
vay. Đặc biệt trong điều kiện giá cả nguyên vật liệu ngày càng tăng
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
25

Trích đoạn Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với DN vừa và nhỏ tại SGD BID Chính sách tín dụng. Thu hút nguồn vốn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status