1
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã tiến hành quá trình đổi
mới nền kinh tế, xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý của Nhà nước. Công cuộc đổi mới nền kinh tế đã tạo ra nhiều thành phần kinh
tế mới, trong đó có các DNNQD. Hiện nay, các DNNQD đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, góp phần tạo công ăn việc
làm cho người lao động, góp phần đang kể vào GDP của đất nước. Xét về mặt
quản lý thì DNNQD chính là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao hiệu suất
và tính linh hoạt của nền kinh tế. Tuy nhiên hiện nay các DNNQD Việt Nam
chưa phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó vì gặp phải nhiều lý do.
Đồng thời, trong những năm qua thì ngành ngân hàng Việt Nam cũng đã
tiến hành đổi mới trong tổ chức cũng như trong hoạt động kinh doanh của mình.
Các nghiệp vụ ngân hàng ngày càng phong phú hơn, đáp ứng được ngày càng
nhiều hơn nhu cầu của khách hàng. Hoạt động chủ yếu của các NHTM vẫn là tín
dụng. Các ngân hàng luôn chú trọng đa dạng hoá hình thức cho vay, cũng như đa
dạng hoá các hình thức khách hàng. Trong đó đối tượng khách hàng là các
DNNQD ngày càng được ngân hàng quan tâm hơn vì đây là đối tượng khách
hàng đầy tiềm năng đối với ngân hàng. Tuy nhiên hiện nay, do nhiều lý do mà
hoạt động tín dụng đối với các DNNQD tại các NHTM vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, lý do chủ yếu là do chất lượng tín dụng đối với đối tượng khách hàng này
của các ngân hàng vẫn còn chưa cao. Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng
tín dụng đối với DNNQD tại các ngân hàng có vai trò đặc biết quan trọng đến sự
phát triển của các ngân hàng và các DNNQD. Hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề
này, qua quá trình thực tập, tìm hiểu thực trạng cũng như những khó khăn trong
việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNQD tại SGD – NHĐT&PTVN,
tôi đã chon đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch – Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam” làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra các khái niệm khác
nhau về tín dụng ngân hàng:
Theo định nghĩa hiện nay thì Tín dụng Ngân hàng Thương mại (NHTM)
là mối quan hệ giữa một bên là NHTM và một bên là khách hàng của ngân hàng
dựa trên nguyên tắc tin tưởng và hoàn trả. Trong đó Ngân hàng chuyển giao tiền
hoặc tài sản cho khách hàng trong một thời hạn nhất định, đồng thời bên nhận
tiền hay tài sản phải cam kết phải hoàn trả đầy đủ theo thời hạn và kèm theo
phần lãi do hai bên thoả thuận. Theo cách khác thì tín dụng ngân hàng là sự
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ hay hiên vật từ
NHTM sang người sử dụng sau đó người sử dụng hoàn trả tại một thời điểm
trong tương lai với lượng giá trị lớn hơn.
Như vậy, theo định nghĩa trên thì tín dụng NHTM được thể hiện qua các
nội dung sau:
- Ngân hàng sẽ chuyển giao cho khách hàng (người vay) một lượng giá
trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay dưới hình thái hiện vật
như hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
3
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
3
4
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
- Khách hàng (người đi vay) chỉ được sử dụng tạm thời trong một
khoảng thời gian nhất định. Sau khi hết thời hạn theo thoả thuận phải hoàn trả lại
cho ngân hàng (người cho vay).
- Giá trị mà khách hàng hoàn trả lại cho ngân hàng thường lớn hơn giá
trị lúc vay, tức là khách hàng phải trả thêm lãi.
1.1.2. Phân loại tín dụng NHTM.
Theo các tiêu thức khác nhau thì có các cách phân loại tín dụng ngân
hàng khác nhau. Sau đây là các cách phân loại tín dụng ngân hàng phổ biến hiện
nay:
+ Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến
của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và
trình ngân hàng giấy đề nghị vay vốn và trình phương án sử dụng vốn vay. Ngân
hàng sẽ tiến hành phân tích khách hàng, xác định quy mô cho vay, thời hạn cho
vay, thời hạn giải ngân, lãi suất, tài sản đảm bảo nếu cần... và sau đó ký hợp
đồng cho vay.
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển
hàng hoá. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm giấy đề nghị vay luân
chuyển, sau đó Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương thức
vay, hạn mức cho vay... Hạn mức cho vay có thể được thoả thuận trong một năm
hoặc vài năm, đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời gian để ngân hàng
xem xét lại mối quan hệ với khách hàng. Vì thủ tục vay chỉ phải thực hiện một
lần nên rất thuận tiện cho khách hàng.
+ Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc
cuối kỳ, đó là số dư tại thời điểm tính.
+ Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng được chi trội vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một
5
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
5
6
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
giới hạn nhất định trong một thời hạn xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
+ Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận. Hình
thức này thường áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, hoặc cho vay
đối với tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định.
cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản
xuất, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế
mũi nhọn.
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị
trường thông qua các công cụ tài chính tín dụng để sử dụng có hiệu quả nhất
nguồn tài nguyên và sức lao động. Muốn phát huy thế mạnh về tài nguyên để
chuyển hướng cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì không
thể thiếu vai trò của tín dụng ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng tạo nguồn
vốn bằng cách huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh
hoạt, phù hợp với tỉ lệ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát để đầu tư vào các lĩnh vực, các
công trình cần thiết cho đất nước nhưng đang gặp khó khăn do thiếu vốn; Bên
cạnh đó ngân hàng còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi
nhọn mà sự phát triển của các ngành này đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển của kinh tế đất nước.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ.
Sự phát triển của tín dụng NHTM làm tăng mạnh các hoạt động thanh
toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, từ đó thúc đẩy lưu thông tiền tệ. Đây
cũng là một biện pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát.
* Tín dụng Ngân hàng thực hiện chức năng phản ánh, tổng hợp và kiểm
soát các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế.
Sự vận động của tín dụng Ngân hàng cũng như việc quản lý tập trung
thống nhất công tác tín dụng đã tạo điều kiện cho nó phản ánh một cách tổng hợp
7
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
7
8
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
và nhạy bén mối quan hệ giữa quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
từ sự đánh giá của cán bộ tín dụng, từ các tổ chức liên quan, thông tin từ thị
trường, điều tra quốc tế...
- Bước 3: Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn. Thẩm
định tư cách pháp nhân, các giai đoạn phát triển, thẩm định tình hình tài chính
của Doanh nghiệp.
- Bước 4: Thẩm định dự án đầu tư.
+ Thẩm định sự cần thiết của dự án.
+ Thẩm định phương tiện kỹ thuật, tổ chức quản lý tài chính.
Tuỳ theo từng món vay cụ thể mà cán bộ tín dụng cần xác định cụ thể
nội dung và phương pháp thẩm định thích hợp để vừa đảm bảo chất lượng và
thời gian thẩm định, tránh việc thẩm định quá rườm rà, phức tạp làm mất cơ hội
kinh doanh của khách hàng.
- Bước 5: Quyết định cho vay.
- Bước 6: Kiểm soát vốn cho vay và thu nợ gốc, lãi, tiền thuê.
1.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới
đất nước, đó là sự nghiệp đổi mới toàn diện, trên nhiều lĩnh vực... Trong đó đổi
mới cơ cấu kinh tế là một trong những ưu tiên quan trọng của Nhà nước. Phương
hướng chủ yếu nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế ở nước ta là phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN, đây là bước phát triển mang tính quy luật
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (DNNQD) là doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn
điều lệ (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài). Bao gồm: Các doanh nghiệp tư
nhân, công ty cổ phần mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ, công
9
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
10
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
10
11
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
* Phân loại theo ngành kinh doanh thì DNNQD bao gồm:
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn, nhà
hàng.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực vận tải, bưu chính, viễn thông.
- DNNQD hoạt động trong các ngành dịch vụ khác.
* Phân loại theo quy mô doanh nghiệp thì DNNQD bao gồm:
- DNNQD có quy mô vừa và nhỏ: Là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người.
- DNNQD có quy mô lớn: Là những doanh nghiệp có tính chất tư hữu,
có số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng và số lao động lớn hơn 300 người.
1.2.3. Đặc điểm của DNNQD ở nước ta hiện nay.
1.2.3.1. DNNQD có số lượng lớn.
Trong những năm gần đây, doanh nghiệp Việt Nam nói chung và
DNNQD Việt Nam nói riêng đã tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp, số lượng
lao động và vốn. Năm 1991, một năm sau khi ban hành luật công ty và luật
doanh nghiệp tư nhân, tổng số DNNQD chỉ có 414 doanh nghiệp. Đến năm
1999, số lượng DNNQD đã tăng lên con số 30.500 doanh nghiệp. Tính bình
quân giai đoạn này, mỗi năm tăng khoảng 3.252 doanh nghiệp, tương ứng với tốc
độ tăng 32%/ năm. Đến năm 2003, số lượng DNNQD đã tăng lên 55.236 doanh
nghiệp, chiếm tỷ trọng 88 % trong tổng số doanh nghiệp ở nước ta.
dày dạn. Bởi vì nền kinh tế nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường nên
những kiến thức về kinh tế, về quy luật kinh doanh không phải ai cũng nắm bắt
được; mặt khác cũng bởi vì các trường đào tạo quản lý kinh doanh và quản lý
12
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
12
13
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
pháp luật còn quá thiên về phương pháp lý thuyết mà ít chú ý tới phương pháp
giải quyết các vấn đề thực tế, mặt khác chi phí đào tạo quản lý nói chung còn rất
cao. Từ những lý do trên làm cho trình độ quản lý của DNNQD còn thấp, gây ra
nhiều khó khăn trong việc quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Những người
quản lý ở các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong công tác tổ chức nhân
sự, trong việc hoạch định kế hoạch cũng như phân tích dự án, cơ hội đầu tư. Việc
thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính trong các doanh
nghiệp này còn chưa được nghiêm túc, chính vì thế mà họ gặp nhiều khó khăn
khi muốn tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Công nghệ sản xuất của các DNNQD đã trở nên lạc hậu. Theo điều tra
thì ở các DNNQD hiện nay chỉ có 20% thiết bị hiện đại, 55% thiết bị ở mức
trung bình, còn lại là thiết bị lạc hậu. Riêng ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo
thì có đến 60% máy móc, thiết bị lạc hậu từ những năm 60. Nguyên nhân của
tình trạng này là do vốn đầu tư ban đầu của các DNNQD thường thấp, họ lại gặp
nhiều khó khăn trong việc vay vốn tín dụng trung và dài hạn cần thiết cho việc
đầu tư nâng cấp công nghệ. Ngoài ra các DNNQD không được tiếp cận đầy đủ
với những dịch vụ tư vấn để có sự hỗ trợ trong việc xác định công nghệ tương
xứng và thích hợp với khả năng tài chính nhằm hoàn thiện trình độ sản xuất và
nâng cao sức cạnh tranh của mình. Chính vì những lý do trên mà hiệu quả sản
xuất kinh doanh của các DNNQD thường rất thấp và năng lực cạnh tranh trong
thị trường trong nước cũng như ngoài nước cũng bị suy giảm.
1.2.3.4. Các DNNQD tuy hoạt động linh hoạt song thường kém hiệu
sản phẩm quốc nội (GDP), những năm gần đây, tỷ lệ đóng góp vào GDP của các
DNNQD ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Điều này góp phần quan
trọng thúc đấy nền kinh tế đất nước ta phát triển.
1.2.4.2. Làm nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế, tận dụng tối
đa mọi nguồn lực của đất nước..
Các DNNQD phát triển trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh
tế đã làm cho thị trưòng hàng hoá trở nên phong phú, đa dạng và sôi động hơn.
Người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của mình. Mặt khác các DNNQD có ưu thế về sự nhạy bén với thị
trường đã thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh trên thị trường của rất nhiều
14
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
14
15
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp khác. Vì vậy, sự phát triển của DNNQD sẽ làm tăng tính cạnh
tranh trên thị trường.
Cạnh tranh không những giúp các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng trên thị trường mà còn
thông qua đó sàng lọc ra các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và không hiệu quả.
Các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ bị loại ra khỏi thị trường. Với những
ưu thế của mình, các DNNQD đã thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ
của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, thành phần kinh tế mà trong nền kinh
tế kế hoạch hoá trước kia luôn giữ vị trí độc tôn. Đây thực sự là một động lực
giúp cho nền kinh tế phát triển vì nó thúc đẩy tính cạnh tranh, năng động của mọi
thành phần kinh tế trong xã hội, làm cho mọi nguồn lực của đất nước được tận
dụng tối đa.
1.2.4.3. Góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp.
Việt Nam là một nước có dân số trẻ, lực lượng lao động đông đảo. Khu
dân chủ yếu là để hỗ trợ, giải quyết nhu cầu sinh hoạt và vốn phát triển kinh tế
gia đình. Mặt khác, thị trường vốn dài hạn, thì trường chứng khoán của nước ta
mới trong giai đoạn sơ khai. Điều kiện tham gia thị trường chứng khoán của các
DNNQD không phải dễ dàng. Chính vì vậy mà kênh cung cấp vốn chủ yếu và
hết sức quan trọng để giúp cho các DNNQD phát triển chính là vốn tín dụng
Ngân hàng.
Có thể nói điểm yếu lớn nhất của các DNNQD là vốn. Nguồn vốn tự có
hạn hẹp của các doanh nghiệp phần lớn được tập trung cho việc đầu tư ban đầu
vào các máy móc, thiết bị, nhà xưởng và giá trị quyền sử dụng đất. Mặt khác,
nếu sử dụng vốn tự có của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ làm tăng
chi phí vốn. Vì thế nên phần vốn để dành cho vốn lưu động để luân chuyển trong
quá trình sản xuất kinh doanh cũng như tái sản xuất là rất hạn chế, mà tái sản
xuất mở rộng chính là tiền đề cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp nói
chung và DNNQD nói riêng, một doanh nghiệp chỉ có thể phát triển, khẳng định
vị thế của mình thông qua hoạt động tái sản xuất mở rộng. Tuy nhiên, với nguồn
vốn nhỏ bé, cơ sở vật chất yếu kém thì việc tái sản xuất mở rộng của các
DNNQD nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có là rất khó.
16
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
16
17
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Tháo gỡ được cho doanh nghiệp các khó khăn trên, tín dụng Ngân hàng
đã giúp đỡ cho các DNNQD trong việc hỗ trợ vốn lưu động và tiến hành tái đầu
tư mở rộng sản xuất. Với nhiều hình thức cho vay khác nhau mà các DNNQD đã
được cấp thêm vốn lưu động, có thể kịp thời chớp lấy các cơ hội kinh doanh,
tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh được diễn ra liên tục. Ngoài ra, với các hình thức cho vay trung và dài hạn
còn giúp các doanh nghiệp có vốn để đầu tư dây chuyền sản xuấtvà máy móc
thiết bị. Sự tài trợ này của ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi
về vốn lớn mạnh. Chính vì thế mà để có thể sử dụng vốn tín dụng NHTM một
cách có hiệu quả, đem lại lơi nhuận cho bản thân doanh nghiệp thì các DNNQD
phải phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo của ùinh vào cuộc cạnh tranh trên
thương trường với các doanh nghiệp khác.
1.4. Chất lượng tín dụng NHTM.
1.4.1. Khái niệm.
Hoạt động kinh doanh của NHTM luôn đứng trước nguy cơ rủi ro rất
cao, trong đó hoạt động tín dụng lại là lĩnh vực chủ đạo, chiếm tỷ trọng gần 90%
doanh thu hiện nay, chính vì thế mà đảm bảo chất lượng tín dụng có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với hoạt động của NHTM, quyết định trực tiếp đến hiệu quả
kinh doanh của Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng Ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu
của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro về vốn
của ngân hàng, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và góp phần phục vụ cho sự phát
triển của nền kinh tế - xã hội.
Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động
thường xuyên của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay. Do vậy, chất lượng tín
dụng luôn là một vấn đề quan tâm hàng đầu của các NHTM. Chất lượng tín dụng
được tạo nên bởi các khoản tín dụng nhưng nếu chỉ bó hẹp khái niệm tín dụng
đồng nghĩa với một khoản tín dụng thì rõ ràng là không đầy đủ và không phản
ánh hết tính đa dạng và phức tạp của hoạt động tín dụng. Do đó cần hiểu chất
lượng tín dụng Ngân hàng là bao hàm toàn bộ cả lợi ích của khách hàng, ngân
hàng cũng như của nền kinh tế.
18
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
18
19
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Các món tín dụng của ngân hàng được xem là có chất lượng tốt khi
khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay đúng mục đích vay vốn và trong quá trình
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Mặt khác, với một chính sách tín dụng đúng đắn, chất lượng tín dụng
được nâng cao sẽ giúp cho các ngành kém phát triển của nền kinh tế có cơ hội
vươn lên, đồng thời thúc đẩy các ngành mũi nhọn tiếp tục phát triển, giảm sự
mất cân đối giữa các vùng kinh tế, giải quyết các vấn đề mang tính xã hội, góp
phần giúp nước ta tiến nhanh trên con đường Công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Thông qua phân tích khả năng của khách hàng để đánh giá chất lượng của từng
khoản tín dụng sẽ giúp đưa ra được các quyết định đầu tư đúng đắn, khai thác tốt
các tiềm năng về lao động, tài nguyên... từ đó tăng sản lượng, cung cấp ngày
càng nhiều sản phẩm chất lượng cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động.
Lý do quan trọng nhất của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với bản
thân ngân hàng chính là chất lượng tín dụng sẽ quyết định đến việc tồn tại và
phát triển của ngân hàng. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng có tốt thì khả năng
cung ứng dịch vụ của ngân hàng mới cao, đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối
tượng khách hàng, tạo thêm đuợc nhiều vốn từ việc quay vòng vốn tín dụng tốt,
tạo thêm nhiều sản phẩm để phục vụ được thêm nhiều đối tượng khác nhau. Chất
lượng tín dụng Ngân hàng tốt sẽ giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí thiệt hại, tăng
lợi nhuận cho ngân hàng. Từ đó tạo ra uy tín, thế mạnh và vị thế cho ngân hàng
trong thị trường. Chính vì những lý do trên mà các NHTM luôn luôn phải quan
tâm để làm sao nâng cao được chất lượng tín dụng của mình.
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương
mại.
1.4.3.1. Các chỉ tiêu định tính.
Qua sự phân tích ở trên thì ta có thể thấy chất lượng tín dụng của NHTM
được thể hiện qua khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng vay vốn,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, đóng góp cho sự tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế đất nước. Về mặt định tính, để đánh giá chất lượng tín
dụng của ngân hàng thì có một số nội dung sau:
20
được người gửi tin tưởng không, mức giá mà ngân hàng đưa ra có phù hợp
không, có khuyến khích được nhân dân gửi tiền vào không? Đồng thời cho thấy
21
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
21
22
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng đã tham gia vào các hình thức huy động vốn và các dịch vụ ngân hàng
như thế nào?
1.4.3.2.2. Tỷ trọng từng loại tiền gửi trên tổng nguồn vốn huy động:
Thông thường nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm các loại tiền
gửi như: Tiền gửi của các doanh nghiệp (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có thể
phát hành séc...), tiền gửi tiết kiệm (không kỳ hạn, có kỳ hạn). Mỗi loại tiền gửi
khác nhau có các mức lãi suất khác nhau. Chỉ tiêu này xác định kết cấu của
nguồn vốn huy động, để phát hiện ra mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong
kinh doanh từ đó để đưa ra các biện pháp để đáp ứng nhu cầu vay của khách
hàng một cách phù hợp. Trong trường hợp ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không
kỳ hạn cao ngân hàng đó sẽ có nhiều thuận lợi trong việc tạo ra lợi nhuận bởi lãi
suất của loại hình tiền gửi này tương đối thấp. Ngược lại nếu tỷ lệ tiền gửi với lãi
suất cao chiếm tỷ trọng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc giải quyết
đầu ra của nguồn vốn. Song đây mới chỉ xét về một khía cạnh là lãi suất, còn
việc đem lại lợi nhuận cao hay thấp và độ rủi ro ra sao thì còn phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố.
1.4.3.2.3. Tổng dư nợ, doanh số cho vay:
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng cho vay được nhiều hay ít, mối quan hệ
giữa ngân hàng với khách hàng như thế nào? Chỉ tiêu này cao cho thấy ngân
hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng
phong phú thu hút được khách hàng.
1.4.3.2.4. Hiệu suất sử dụng vốn vay:
Tổng dư nợ
+ Nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Theo đối tượng khách hàng thì nợ quá hạn có thể phân thành các
trường hợp:
- Theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh thì nợ quá hạn có thể phân
thành các trường hợp :
23
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
23
24
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Qua việc phân loại nợ quá hạn, ta có thể biết rõ các khoản nợ đang gặp
khó khăn hay những khoản nợ không thể thu hồi được từ đó đưa ra các biện pháp
hợp lý rủi ro tới mức thấp nhất.
1.4.3.2.6. Chỉ tiêu lợi nhuận :
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu lợi nhuận =
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng. Lợi nhuận ở đây
phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào (lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra.
1.4.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng tín dụng của
các NHTM.
1.4.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường.
Các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp, đều tồn tại, hoạt động và
phát triển trong một môi trường kinh tế - xã hội nhất định, chính vì vậy mà quan
hệ tín dụng, chất lượng tín dụng của NHTM cũng phải chịu sự tác động của các
thành phần trong môi trường này.
* Môi trường kinh tế:
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân
hàng phát triển, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
được tiến hành một cách bình thường, không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, khủng
tranh cãi nhiều nhất là về việc cấp chứng nhận sở hữu tài sản và xử lý TSTC tại
ngân hàng. Tuy rằng chính phủ đưa ra nhiều NĐ( 60, 61, 64, 83), quyết định
(217..) nhưng xem ra tình hình vẫn chưa được giải quyết một cách khả quan lắm.
Chính bất cập này là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khó khăn khi xử lý
tài sản thế chấp, cầm cố tại ngân hàng và giải toả “nợ đóng băng” của ngân
hàng..
25
Nguyễn Việt Hùng Khoa NH - TC
25