Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới, đổi mới về cơ chế quản lý cũng
như cơ chế thị trường mở ra những cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế nước
nhà. Nền kinh tế nước nhà đang có những tiến bộ đáng kể, cùng với nó là sự phát
triển của các ngành sản xuất cũng như dịch vụ, ngành ngân hàng, góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển đất nước.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất trong khu vực cũng như trên thế giới,
nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và trong đó không thể phủ nhận
chức năng,vai trò của ngành ngân hàng.Vì vậy, trong những năm gần đây, việc cải
cách hệ thống ngân hàng bao giờ cũng là điểm nóng trong các chương trình phát
triển của chính phủ và các kế hoạch hợp tác phát triển với các nhà tài trợ quốc tế.
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất,
là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá
nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội đều gửi tiền tại
ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội; là tổ chức cho
vay chủ yếu đối với doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà
nước. Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là
chính sách tiền tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính
phủ nhằm ổn định kinh tế.
Trong những năm qua, mặc dù hệ thống Ngân hàng Việt nam nói chung và
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam đã nỗ lực tìm ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế này nhưng đây là một lĩnh vực
khá phức tạp nên khi thực hiện còn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều hạn chế.
Với tư cách là sinh viên được đào tạo chuyên ngành Ngân hàng-Tài chính taị
trường đại học KTQD, xuất phát từ nhận thức trên, sau một thời gian thực tập tại Sở
giao dịchI-Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam em xin mạn phép được chọn đề
tài "Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại
Sở giao dịch I- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam" để làm chuyên đề thục
tập với mong muốn góp phần tổng kết và khái quát lý luận từ thực tiễn, phục vụ cho
Trang 1
việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói

tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế nước ngoài. Các thành phần kinh tế này được
chia thành 2 khu vực lớn: khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế ngoài nhà
nước (ngoài quốc doanh, tư nhân). Khu vực kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ các
hoạt động kinh tế do nhà nước trực tiếp quản lý từ trung ương tới địa phương. Đây
được coi là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế. Khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh (NQD) bao gồm các thành phần kinh tế còn lại, hoạt động bên cạnh các
doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong nền kinh tế thị trường đã góp phần quan
trọng vào việc mở rộng giao lưu hàng hoá khai thác được tiềm năng sẵn có của các
vùng trong cả nước, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân.
1.1.1.Khái niệm và phân loại.
Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất.Các đơn vị, doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm:
Trang 4
doanh nghiệp tư nhân, công tyTNHH, công ty Cổ phần, công ty liên doanh và các
đơn vị theo hình thức Hợp tác xã.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế ngoài quốc doanh đã có sự
phát triển nhanh chóng và đạt một số kết quả nhất định. Với chính sách khuyến
khích và hỗ trợ hoạt động cho thành phần này, số lượng các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở nước ta đã tăng lên nhanh chóng. Năm 1991 mới chỉ có 123 doanh
nghiệp với số vốn điều lệ là 63 tỷ đồng thì đến năm 1996 đã có 26.091 doanh
nghiệp với số vốn điều lệ lên tới 8.257 tỷ đồng. Đến năm 2004, kinh tế ngoài quốc
doanh đã có 3.820 hợp tác xã, 31.667 doanh nghiệp tư nhân và 1.286.300 hộ kinh tế
cá thể và 1.826 công ty cổ phần.
Ở nước ta hiện nay,xét cụ thể về loại hình doanh nghiệp,thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác
xã, doanh nghiệp tư nhân, hộ cá thể và cá nhân kinh doanh.
Công ty là loại hình doanh nghiêp hoạt động theo luật công ty,là đơn vị kinh
tế do các cá nhân bỏ vốn thành lập theo luật doanh nghiệp,trách nhiệm quyền hạn
cũng như lợi nhuận được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.Công ty có hai loại:
*Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

thịên đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế.Tuy nhiên,sự phát
triển của kinh tế ngoài quốc doanh cần sự quan tâm rất nhiều của Đảng và Nhà nước
và sự nỗ lực của mọi ngành, mọi cấp.
1.1.2.Đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam.
- Những đặc điểm về khả năng tài chính
Trong khu vực kinh tế tư nhân, ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, nguồn tài chính ban đầu chủ yếu dựa vào tích luỹ cá nhân, gia đình, bạn
bè. Trong quá trình hoạt động, nhu cầu vốn được huy động phần lớn từ các nguồn:
lợi nhuận gửi lại, vay của người thân, vay của khu vực thị trường tín dụng không
chính thức, chỉ một phần nhỏ được tài trợ bởi tín dụng ngân hàng. Nguyên Tổng Bí
thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Đỗ Mười đã có lần đề cập vấn đề mà Việt
Nam phải đối mặt trong phát triển kinh tế bằng 3 chữ: “Vốn, vốn và vốn". Các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD ở Việt Nam cũng có chung quan điểm, họ cho
rằng trở ngại lớn nhất đó là vấn đề: "Tín dụng, tín dụng và tín dụng". Việc tiếp cận
nguồn tín dụng ngân hàng là rất khó khăn đối với khu vực kinh tế NQD, đặc biệt là
Trang 6
nguồn tín dụng trung dài hạn. Nguyên nhân chính là do các thể chế chính sách liên
quan đến vấn đề vốn như: chính sách đất đai, việc thế chấp quyền sử dụng đất hoặc
tài sản để vay vốn chưa được hoàn chỉnh. Có thể nói vốn đang là vấn đề khó khăn
nhất đối với hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD trong việc phát
triển hơn nữa.
- Đặc điểm về trình độ, công nghệ sản xuất.
Do hạn chế về vốn nên năng lực sản xuất thấp kéo theo trình độ kỹ thuật
công nghệ của kinh tế ngoài quốc doanh còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là kỹ thuật công
nghệ sử dụng nhiều lao động. Theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu kinh tế
Trung ương năm 2003 thì chỉ có 36% doanh nghiệp và 28% số công ty sử dụng
công nghệ tương đối hiện đại, 42,5% doanh nghiệp và 31,2% công ty sử dụng công
nghệ cổ truyền, 27,5% doanh nghiệp và 40,8% công ty kết hợp cả công nghệ hiện
đại và cổ truyền. Công nghệ lạc hậu là một trong những nguyên nhân chính làm cho

thích mà chủ yếu là chính sách thuế và pháp luật còn nặng tính ràng buộc về nguyên
tắc, chế độ.
Chính sách thuế còn nhiều ưu đãi, chiếu cố cho thành phần kinh tế Nhà
nước, chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng và sự cạnh tranh lành mạnh giữa các
thành phần kinh tế. Tình trạng còn nhiều đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh phải ngụy
trang núp bóng dưới danh nghĩa kinh tế Nhà nước hòng mong thu được lợi nhuận
cao là bằng chứng rõ ràng về sự bất bình đẳng trong cư xử ,thể hiện ở việc ưu đãi
quá mức đối với kinh tế Nhà nước.
Các chính sách Nhà nước chưa thực sự khuyến khích kinh tế ngoài quốc
doanh tăng cường sử dụng công nghệ mới, đào tạo cán bộ quản lý, nâng cao trình độ
khoa học kỹ thuật. Thiếu chính sách bảo hộ quyền lợi chính đáng của người lao
động trong các doanh nghiệp tư nhân về các chế độ người lao động BHXH, BHYT
trong thời gian làm việc, khi về già.
Thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà, nhũng nhiễu.Tình trạng quan liêu,
cửa quyền trong quản lý kinh tế nói chung và đối với kinh tế ngoài quốc doanh nói
riêng vẫn đang là nhân tố cản trở không nhỏ đối với sản xuất kinnh doanh.Mặt khác,
môi trường sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm cũng gặp nhiều khó khăn do sức
cạnh tranh còn kém.
Tóm lại, các đặc điểm nói chung và môi trường kinh doanh của thành phần
kinh tế này nói riêng còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản
Trang 8
xuất kinh doanh của thành phần kinh tế này.Do đó, cần có sự quan tâm đúng mực
của các ngành các cấp và đặc biệt là của ngành ngân hàng tạo để điều kiện cho họ
trong việc tiếp cận vốn ngân hàng phục vụ nhu cầu chính đáng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh.
1.1.3.Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường ở
Việt nam.
Trong xu thế mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế, nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần được thừa nhận và tạo điều kiện để phát triển. Kinh tế ngoài quốc
doanh đã và đang chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế nước

quốc gia .
Mặc dù còn lép vế hơn so với kinh tế Nhà nước song sự đóng góp vào GDP
của kinh tế ngoài quốc doanh trong những năm qua đã chứng tỏ được vai trò cần
thiết của thành phần kinh tế này đối với sự phát triển của đất nước.Điều này được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước phân theo ngành kinh tế
Đơnvị:tỷđồng
Thành phần kinh tế Năm2002 % Năm2003 % Năm2004 %
1. Kinh tế Nhà nước
2.Kinh tế ngoài quốc
doanh
124732
231645
35
65
132624
281826
32
68
137652
353962
28
72
Tổng số 356377 100 414450 100 491614 100
Nguồn:Niên giám thống kê 2004
Như vậy tỷ trọng GDP kinh tế ngoài quốc doanh tăng dần qua các năm: 65%
năm 2002, 68% năm 2003 và 72% năm 2004, hoạt động của kinh tế ngoài quốc
doanh đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ,khác
với kinh tế Nhà nước, thành phần kinh này phải tự thân vận dộng để vươn lên mà
không hề có một sự ưu đãi nào từ phía Nhà nước, do đó, họ đã cố gắng phát huy

chính sách đúng đắn thì chúng ta sẽ không thể khai thác hết được tiềm năng của
thành phần kinh tế này.
1.1.3.5 Sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh góp phần vào quá trình Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra mục tiêu đến năm
2010, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Bên cạnh đó cũng đặt ra mục tiêu
Trang 11
đến năm 2005 có khoảng 60% doanh nghiệp Nhà nước sẽ cổ phần hoá. Như vậy với
vai trò của mình, trong những năm tới kinh tế ngoài quốc doanh sẽ được mở rộng và
là nơi tập trung vốn, nhân lực vào các ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lượng tri
thức như công nghệ thông tin, điện tử... cũng như có thể lấp đầy những khoảng
trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn, có mức lợi
nhuận không cao mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm tới. Đây cũng là quan điểm của
Đảng ta trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
1.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế ngoài
quốc doanh.
1.2.1 Khái niệm Tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng
hoá. Nó là động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, ngày nay tín dụng được hiểu
theo ngôn ngữ thông thường là quan hệ vay mượn dựa trên những nguyên tắc:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá,
máy móc, thiết bị, bất động sản...
- Người đi vay chỉ sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi
hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay nói cách khác
người đi vay phải trả thêm phần lãi vay.
Trong quá trình phát triển lâu dài của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá
quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển thông qua các hình thức: tín dụng Nhà

các dự án có quy mô vừa và nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này
chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn như: xây dựng nhà ở, các
máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, đầu tư xây dựng các nhà máy,
xí nghiệp.
 Căn cứ vào mục đích sử dụng, tín dụng bao gồm:
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các chủ
thể kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá.
+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cung cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, các hàng hoá tiêu
Trang 13
dùng... Tín dụng tiêu dùng được cấp phát dưới hình thức cho vay bằng tiền hoặc
dưới hình thức bán chịu hàng hoá.
 Căn cứ vào sự bảo đảm cho vay, tín dụng bao gồm:
+ Tín dụng không có bảo đảm (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản
cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba để đảm bảo cho khả năng hoàn trả
của khoản vay. Việc đi vay chỉ dựa vào uy tín của người vay hoặc bảo lãnh bằng uy
tín của một bên thứ ba là các doanh nghiệp hay các tổ chức đoàn thể chính trị - xã
hội.
+ Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà khi Ngân hàng cấp tín dụng đòi
hỏi người vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba (có thể
bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc bảo lãnh của tổ chức tín dụng khác) để
đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay. Đây là loại tín dụng được tất cả các Ngân hàng
áp dụng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, đặc biệt là khoản vay lớn, các
khoản đầu tư trung, dài hạn.
 Căn cứ vào đối tượng, tín dụng bao gồm:
+ Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cấp để bổ sung vốn lưu động
cho các tổ chức kinh tế, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh như
mua nguyên vật liệu, hàng hoá dự trữ, chi cho các chi phí sản xuất, cho vay để thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn. Tín dụng vốn lưu động thường được sử dụng để bù đắp

Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.Doanh nghiệp
khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ
khi doanh nghiệp bán hàng.Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về
phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu
thụ.hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một hoặc vài năm.
Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được
áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho taì sản cố định hoặc
hàng lâu bền.Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ.
Trang 15
Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp.Bên cạnh đó, ngân
hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp-là hình thức cho vay thông qua
các tổ chức trung gian.
+Bảo lãnh:là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng của mình thông qua uy tín của ngân hàng,qua đó để thu lợi.
+Cho thuê:Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thỏa thuận nhất định.Sau thời gian nhất định, khác hàng phải trả cả
gốc và lãi cho ngân hàng
Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài
hạn.Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng
phải thu gần đủ(hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi.Hết hạn thuê,khách
hàng có thể mua lạo tài sản đó.
1.2.3. Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, các bước
phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một món vay. Thông thường, để đảm
bảo hiệu quả tín dụng thì quy trình tín dụng phải tuân theo các bước sau:
1. Khai thác khách hàng cũ, tìm kiếm dự án, khách hàng mới.

tắc hoàn trả và có lãi để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động, các tổ chức kinh tế có thể mở tài khoản tiền gửi
tại Ngân hàng để phục vụ cho hoạt động giao dịch với các tổ chức khác và tiền gửi
trong tài khoản của các đơn vị luôn phải có số dư nhất định. Nhờ vậy mà Ngân hàng
có thể huy động những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các tổ chức kinh tế - xã hội và nguồn dự trữ chưa dùng đến của ngân sách
Nhà nước, hình thành nên nguồn vốn. Từ đó, ngân hàng tiến hành phân phối các
nguồn đó một cách có kế hoạch, đáp ứng nhu cầu của quá trình tái sản xuất mở
rộng.
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản
xuất, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế
mũi nhọn.
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị
trường thông qua các công cụ tài chính tín dụng để sử dụng có hiệu quả nhất nguồn
Trang 17
tài nguyên và sức lao động. Muốn phát huy thế mạnh về tài nguyên để chuyển
hướng cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì không thể thiếu
vai trò của tài chính tiền tệ. Trong đó, tín dụng Ngân hàng tạo nguồn vốn bằng cách
huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và phù hợp với
chỉ số trượt giá của đồng tiền để đầu tư vào các ngành, các công trình trọng điểm...
Bên cạnh đó, Ngân hàng còn tập trung tín dụng tài trợ cho những ngành kinh tế mũi
nhọn mà sự phát triển của các ngành này sẽ tạo cơ hội, cơ sở thúc đẩy các ngành
kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí, xây dựng cơ
sở hạ tầng...
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ.
Bằng việc nhận và trả tiền gửi, mở tài khoản và thanh toán qua Ngân hàng
với quy mô ngày càng lớn và có tính chất thường xuyên, liên tục. Hoạt động thanh
toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra qua hệ thống NHTM đã làm tăng tốc
độ luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ.

thị trường tiền tệ là các mặt hoạt động có liên quan đến tín dụng ngân hàng.
Như vậy tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và hoạt
động kinh doanh của khu vực kinh tế NQD.
-Tín dụng ngân hàng góp phần tăng khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp NQD
Thị trường đang trở nên cạnh tranh khốc liệt từng ngày. Để đứng vững trong
thương trường, chiến thắng trong cạnh tranh các doanh nghiệp luôn chú trọng vào
bốn lĩnh vực. Đó là: giá cả và chất lượng; sự kịp thời và bí quyết; cổ phần và chi
phối; đầu tư chiều sâu. Đối với các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế NQD ở Việt
Nam thì lĩnh vực được quan nhất đó là giá cả và chất lượng. Muốn nâng cao chất
lượng sản phẩm với giá thành hợp lý thì phải đầu tư áp dụng khoa học công nghệ
mới. Ở đây khó khăn lại là vấn đề vốn. Tín dụng ngân hàng là yếu tố hợp lý nhất để
tháo gỡ vấn đề này (hợp lý cả về số lượng, giá cả, lãi suất và thời hạn). Như vậy, tín
dụng ngân hàng tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế NQD.
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp NQD hoạt động kinh
doanh và đầu tư có hiệu quả
Trang 19
Tín dụng ngân hàng không phải rải đều bất kỳ cho khách hàng nào có nhu
cầu mà chọn lọc khách hàng làm ăn có hiệu quả. Vì vậy, để tiếp cận tín dụng ngân
hàng một cách dễ dàng trước hết các doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh có hiệu
quả.
Bên cạnh đó, khi cấp tín dụng cho một dự án đầu tư, thì trước đó quá trình thẩm
định khắt khe của ngân hàng phải thấy được tính khả thi, hiệu quả của nó. Trong
quá trình cho vay, ngân hàng luôn giám sát việc sử dụng vốn vay của các doanh
nghiệp. Do đó, chính tín dụng đã có khả năng loại trừ các dự án không khả thi.
Điều này góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
-Tín dụng ngân hàng là cầu nối cho các thành phần kinh tế NQD Việt
Nam thiết lập quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Ngày nay trong quan hệ kinh tế quốc tế, sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi
giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang được phát triển mạnh mẽ. Trong

thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
sản xuất.
- Đối với NHTM: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực
lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
của tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại
lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động
tín dụng.
1.3.2.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.
1.3.2.1.Nhóm các chỉ tiêu đánh giá quy mô
a)Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản Có(Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu)
Tỷ lệ này được đo bởi công thức:
Vốn tự có
Tỷ lệ vốn tự có trên = --------------------------
tổng tài sản Có Tổng tài sản Có
-Vốn tự có ở đây xác định gồm có hai phần: Vốn điều lệ của ngân hàng và
quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.
Trang 21
-Tổng tài sản Có: Là các loại tài sản Có của ngân hàng đã được điều chỉnh
theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản(bao gồm cả các cam kết ngoại bảng của
ngân hàng).Việc quy định mức độ rủi ro đối với từng loại tài sản Có tùy thuộc vào
đặc điểm riêng cụ thể của từng nước và từng thời kỳ khác nhau, phản ánh tỷ lệ rủi ro
dự đoán đối với tài sản có của ngân hàng.
-.Về cơ bản,một ngân hàng có hai sự lựa chọn khi xác dịnh quy mô vốn tự
có.Ngân hàng có thể tăng vốn tự có khi các rủi ro dự đoán gia tăng hoặc có thể đầu
tư vào các tài sản tương đối ít rủi ro.Việc quyết định quy mô vốn của ngân hàng
không dễ dàng nhưng rất quan trọng,một ngân hàng muốn phát triển phải mở rộng
cơ sở vốn của nó nhưng đồng thời phải giữ được mức rủi ro nhất định.
b)Tình hình cho vay , dư nợ và thu nợ NQD.
Chỉ tiêu này được phản ánh qua các con số về doanh số cho vay, doanh số dư

b)Tình hình cho vay , dư nợ và thu nợ NQD.
Chỉ tiêu này được phản ánh qua các con số về doanh số cho vay, doanh số dư
nợ và doanh số thu nợ đối với kinh tế ngoài quốc doanh-Doanh số cho vay NQD là
số tiền cho vay của ngân hàng đối với khách hàng thuộc kinh tế ngoài quốc doanh
trong một thời kỳ.
-Dư nợ tín dụng NQD là số tiền mà khách hàng thuộc kinh tế ngoài quốc
doanh còn nợ ngân hàng tại một thời điểm.
DN tín dụng = DN tín dụng + DS cho vay - DS thu nợ
NQD NQD kỳ trước NQD trong kỳ NQD trong kỳ
-Doanh số thu nợ tín dụng NQD là số tiền ngân hàng thu nợ khách hàng
thuộc kinh tế ngoài quốc doanh trong một thời kỳ.
Thông qua đó, đánh giá được chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với
thành phần này thông qua sự tăng trưởng hay giảm sút của các con số.
c)Tỷ lệ Nợ quá hạn NQD
Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là khi đến thời hạn thanh toán
khoản nợ, người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối
với người cho vay.Nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo,
trước hết, nó vi phạm đặc trưng của tín dụng về tính thời hạn,tính hoàn trả và lòng
tin của người cấp tín dụng với người nhận tín dụng.
Trang 23
Tỷ lệ Nợ quá hạn NQD được đo bởi công thức sau:
Tổng số dư nợ quá hạn NQD
Tỷ lệ Nợ quá hạn NQD = ------------------------------ ------ *100%
Tổng dư nợ cho vay NQD
Về cơ bản, Tỷ lệ Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh các khoản tín dụng có
vấn đề - những khoản cho vay quá hạn mà ngân hàng không thu hồi được.Mặc dù
các khoản tín dụng có vấn đề là kết quả của nhiều yêú tố nhưng cơ bản là kết quả
của sự không sẵn lòng chi trả của khách hàng vay vốn, hoặc không có khả năng thực
hiện hợp đồng để giảm bớt dư nợ hay toàn bộ khoản vay như đã thỏa thuận, cá biệt
có âm mưu chiếm dụng vốn.

hàng.
-Quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế, đảm bảo
quản lý chặt chẽ quá trình cấp tín dụng,vừa thuận tiẹn với khách hàng,vừa đảm bảo
tín dụng cho ngân hàng.
-Uy tín mà ngân hàng đã tạo dựng được trong nền kinh tế và các mối quan
hệ với các khách hàng truyền thống.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng đối
với kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam.
chất lượng tín dụng là hai chỉ tiêu luôn đi liền nhau. Bởi lẽ, nếu mở rộng quy
mô mà không tính đén chất lượng thì sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn. Nếu chỉ tăng chất
lượng mà không quan tâm đến quy mô tín dụng thì không đạt hiệu quả kinh tế tối
ưu. Do mối quan hệ mật thiết giữa hai chỉ tiêu này mà hầu hết những nhân tố tác
động lên chỉ tiêu này thì cũng có tác động lên chỉ tiêu khác và ngược lại.
1.3.3.1. Nhóm nhân tố khách quan
a) Kinh tế
Về tổng thể, nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tín dụng. Khi đó, các quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nói
chung và của các doanh nghiệp NQD nói riêng sẽ phát triển lành mạnh. Và như thế,
quy mô và chất lượng tín dụng đều được nâng cao. Một khi môi trường kinh tế
không ổn định, môi trường kinh doanh biến động sẽ gây khó khăn cho hoạt động
Trang 25

Trích đoạn Chuyển dịch cơ cấu cho vay một chiến lược quan trọng của các Ngân hàng thương mại. Đa dạng hoá các hình thức về lãi suất Thay đổi phương pháp tính hạn mức tín dụng. Kiến nghị về các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status