LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
ĐỐI VỚI DNNN.........................................................................................................5
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN............5
1.1.1. KHÁI NIỆM TÍN DỤNG..........................................................................5
1.1.2. PHÂN LOẠI TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN....................................7
1.1.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG...........................................................11
1.1.4.CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN..............................13
1.1.4.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng....................................................13
1.1.4.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn..........15
1.2. TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN...................................19
1.2.1. TỔNG QUAN VỀ DNNN.......................................................................19
1.2.1.1. Khái niệm.........................................................................................19
1.2.1.2. Đặc điểm..........................................................................................19
1.2.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước.....................................................20
1.2.1.4. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường................................21
1.2.2.VAI TRÒ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN............23
1.2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN.........................................................25
1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về phía ngân hàng................................................25
1.2.3.2. Các nhân tố thuộc về DNNN............................................................28
1.2.3.3. Các nhân tố khác..............................................................................30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN
TẠI SGD NH ĐT&PTVN.........................................................................................31
2.1. KHÁI QUÁT VỀ SGD NH ĐT&PTVN.........................................................32
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của SGD.............................................32
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của SGD..........................................................................32
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của SGD NH ĐT&PT VN........................33
2.1.3.1. Công tác huy động vốn.....................................................................35
2.1.3.2. Công tác tín dụng..............................................................................36
3.1.4. Sản phẩm tín dụng...................................................................................54
3.1.5. Một số định hướng quan trọng khác.........................................................54
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN TẠI SGD NHĐT&PTVN....................55
3.2.1. Xây dựng chiến lược kinh doanh và chính sách tín dụng hợp lý...............55
3.2.2.Cải tiến quy trình phân tích tín dụng, không ngừng hoàn thiện nội dụng của
sổ tay tín dụng...................................................................................................57
3.2.3. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khâu trong hoạt động tín dụng................60
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ......................................60
3.2.5. Nâng cao chất lượng cán bộ trong ngân hàng...........................................62
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ....................................................................................64
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ..........................................................................64
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước..........................................................66
3.3.3. Kiến nghị với NH ĐT&PTVN.................................................................68
3.3.4. Kiến nghị với các DNNN.........................................................................70
KẾT LUẬN...................................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................73
2
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất của một nền sản xuất lớn, hiện
đại nên nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế là rất cao. Trong khi đó, tuy thị
trường chứng khoán ở nước ta đã ra đời nhưng việc huy động vốn trung và dài hạn cho
nền kinh tế chưa nhiều, do đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế chủ yếu vẫn
do hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại quốc
doanh cấp. Đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ
thống các ngân hàng thương mại.
Trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn, tín dụng trung và dài hạn đối với doanh
nghiệp Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng. Đối với các ngân hàng, hoạt động này
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực
tế thì thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
• Xét trên giác độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
• Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể.
• Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp
cho khách hàng.
• ....
Như vậy có nhiều cách hiểu về “ tín dụng”, tuy nhiên theo quan điểm của em thì tín
dụng có thể được hiểu là: sự vay mượn hoặc sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc
hoàn trả và sự tin tưởng.
Căn cứ vào hai tiêu thức là chủ thể và đối tượng tín dụng thì quan hệ tín dụng gồm có
các loại hình: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê
mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế. Trong mỗi loại hình này, tín dụng lại được
phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu, em chỉ xin đề cập đến “tín dụng” gắn liền với chủ thể
nhất định là ngân hàng. Theo đó, tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ (cho vay) của
ngân hàng cho khách hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá
5
5
nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo
lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào nhiều tiêu thức
khác nhau. Trong đó, phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng
hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian thì tín dụng được phân thành:
• Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lưu động của các
- Căn cứ vào loại khách hàng:
Cấp tín dụng cho doanh nghiệp: Ngân hàng cấp tín dụng cho những tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Quy mô
của hầu hết các khoản vay này là lớn, lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường.
Cấp tín dụng cho cá nhân: các cá nhân có thể sử dụng vốn vay từ ngân hàng nhằm
mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng nhưng chủ yếu là để tiêu dùng. Quy mô
khoản tín dụng thường nhỏ hơn so với khoản cấp cho các doanh nghiệp, lãi suất
thường “cứng nhắc” và cao.
Cấp tín dụng cho các đơn vị khác: các đơn vị như các tổ chức xã hội cũng cần vốn
với nhiều mục đích khác nhau, để giải quyết sự thiếu hụt vốn họ cũng có thể vay
từ ngân hàng.
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo:
Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp: Để giảm thiểu rủi ro trong
hoạt động tín dụng, các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng của mình phải có
tài sản cầm cố hoặc thế chấp. Và trên nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân
hàng đều có đảm bảo.
Tín dụng không đảm bảo bằng tài sản (Gồm: tín chấp và bảo lãnh bằng uy tín).
Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy
tín, trung thực trong kinh doanh, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có
7
7
lãi, tình hình tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả, ít xảy ra tình trạng nợ nần
dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho
vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm bảo.
Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những
khoản cho vay mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng... cũng có thể
không cần tài sản đảm bảo.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Cho vay kinh doanh: các cá nhân, tổ chức vay vốn từ ngân hàng để mở rộng sản
bộc lộ khuyết điểm là các trung gian có thể lợi dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng
không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành
viên khác cho riêng mình.
- Căn cứ vào mức độ rủi ro: Xem xét về mặt rủi ro hay tính an toàn, tín dụng có thể ở các
“cung bậc” khác nhau: khoản có mức độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Để phân
loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi
ro. Xếp loại tín dụng theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao, nhiều ngân hàng có thể
chia tới rất nhiều thang bậc rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên
đánh giá lại khoản mục tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao, đồng thời
để đánh giá chất lượng tín dụng.
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách
hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai,
khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính...
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và
khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn...
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp
nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì...
- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
9
9
Tín dụng có thời hạn: là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo
hợp đồng. Trong loại này lại được phân chia tiếp, bao gồm:
Tín dụng chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại chỉ thanh toán một lần theo thời hạn
đã thỏa thuận.
Tín dụng có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là tín dụng trả góp: là loại
tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại này
thường được áp dụng rộng rãi trong cho vay bất động sản nhà ở thương mại,
cho vay tiêu dùng...
Tín dụng không có thời hạn cụ thể: đối với loại này thì ngân hàng có thể yêu cầu
thuê khi người thuê không trả nợ được. Điều này góp phần làm giảm thiệt hại cho ngân
hàng. Thông thường, để thực hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng thường thiết lập các
công ty còn để chuyên quản. Công ty con này có nhiệm vụ nghiên cứu cùng với bên vay
để lựa chọn các máy móc, trang thiết bị thích hợp để thực hiện hợp đồng thuê mua.
1.1.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Tín dụng trung và dài hạn cũng là hoạt động tín dụng nên nó cũng có vai trò như hoạt
động tín dụng nói chung. Vai trò đó được thể hiện ở các điểm sau:
Góp phần làm ổn định nền kinh tế (quá trình sản xuất kinh doanh của các cá thể,
cá nhân thường xuyên hơn), tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế:
hoạt động sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng suôn sẻ, các tổ chức, cá
nhân luôn phải đương đầu với những khó khăn để tồn tại cũng như để đi lên. Một
trong những khó khăn mà đa số họ gặp phải trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay là
sự thiếu hụt vốn trong kinh doanh. Bên cạnh việc đi vay mượn ở người thân, bạn
bè...còn gọi là vay nóng thì việc các tổ chức, cá nhân đi vay ở các ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu về vốn là rất thường xuyên.
11
11
Tích tụ và tập trung vốn (góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và khắc phục lạm phát tiền tệ).
Mỗi người, với một khoản tiền nhỏ thì rất khó có thể đầu tư, kinh doanh hay mua
những vật có giá trị lớn. Nhưng nếu nhiều người góp lại thì nó sẽ trở thành một khoản
tiền lớn. Tuy nhiên việc tập trung các lượng vốn nhỏ này lại rất khó khăn đối với chỉ một
người hay một nhóm người mà họ không được mọi người trong xã hội biết đến. Trong
khi đó lại có rất nhiều người cần một lượng tiền lớn, nhiều công trình, dự án cần vốn lớn
để đầu tư…Để kết nối những trường hợp trên lại, chúng ta phải nhờ đến các tổ chức tín
dụng mà đặc biệt là các ngân hàng. Cũng thông qua hoạt động này của ngân hàng, số tiền
nhàn rỗi trong dân cư sẽ giảm xuống vì họ có một nơi để “đầu tư” kiếm lời thay vì cất
giữ ở nhà, do đó lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm, khắc phục lạm phát tiền tệ.
Là công cụ điều tiết vĩ mô thông qua việc phân bổ lại các nguồn lực, qua đó góp
quan tâm, lo ngại cần các ngành, các cấp giải quyết. Một trong những mối quan tâm lo
ngại đó chính là chất lượng tín dụng của các ngân hàng. Cho đến nay vẫn chưa có quy
định cụ thể về hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng.
Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ thống như vậy là cần thiết không chỉ đối với đội ngũ
thanh tra trong quá trình thực hiện thanh tra, kiểm soát các ngân hàng thương mại mà còn
là cơ sở để các ngân hàng thương mại tự đánh giá độ an toàn và chất lượng của đồng vốn
mà họ cung cấp cho các khách hàng.
Vậy chất lượng tín dụng là gì? Có thể hiểu: chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu
cầu của khách hàng ( bao gồm cả người gửi và người vay), phù hợp sự phát triển kinh tế
- xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Với khái niệm này, chất
lượng tín dụng được thể hiện ở cách khía cạnh sau:
• Đối với ngân hàng thương mại:
Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của ngân hàng và đảm
bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn và có lãi.
• Đối với khách hàng:
13
13
Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải có thái độ đón tiếp, hướng dẫn và phục
vụ khách hàng một cách hòa nhã, ân cần.
Thủ tục đơn giản.
Phục vụ nhanh nhất cho khách hàng trong phạm vi thờigian quy định.
Đảm bảo cung ứng đúng và đủ lượng tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn của khách hàng.
• Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hóa; giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người đi vay cũng như người cho
vay, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín
dụng.
Với việc phân tích trên đây ta thấy rằng:
• Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể lại vừa trừu tượng vì nó vừa có thể
nên trong hoạt động tín dụng, tính an toàn (khả năng hoàn trả của người vay) là yếu tố
quan trọng nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả
một đúng hạn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên
tắc trong hoạt động tín dụng của ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất
cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản
nợ có vấn đề, có khả năng mất vốn, tức là tính an toàn thấp.
Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro xảy ra cho ngân hàng là điều đương nhiên và do
đó việc tồn tại nợ quá hạn và nợ gia hạn là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu một
ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn thì nó sẽ gặp nhiều khó khăn trong
kinh doanh vì có thể bị mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và làm giảm thu
nhập của ngân hàng, nặng hơn nữa thì ngân hàng có thể đi đến bờ vực phá sản. Còn nợ
gia hạn là một biện pháp giúp khách hàng vượt qua những khó khăn tạm thời nhưng nếu
quá nhiều khoản được gia hạn nợ thì chứng tỏ danh mục cho vay của ngân hàng thương
15
15
mại thực sự đang có vấn đề. Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ gia hạn cao sẽ bị
đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ở thời điểm
hiện tại cũng như trong tương lai.
• Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Khoản mục tín dụng thường chiếm khoảng 70% tổng tài sản, trong đó có sự đóng góp
không nhỏ của tín dụng trung và dài hạn. Với quy mô đó, hoạt động tín dụng trung và dài
hạn mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng; có ảnh hưởng cũng lớn đến rất nhiều yếu tố
như chiến lược kinh doanh của ngân hàng, dự trữ, đầu tư, vay… chính vì lý do đó mà có
thể nói rằng chỉ tiêu này cũng rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng.
Dựa vào chỉ tiêu này ta còn có thể tính thêm được một vài chỉ tiêu khác phản ánh chất
lượng tín dụng như:
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ sinh lời trung và dài hạn =
Tổng dư nợ trung và dài hạn
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Nếu là vay có tài sản đảm bảo: ngân hàng sẽ là người bán tài sản đó đi để xiết nợ.
Nếu số tiền bán được lớn hơn số tiền vay thì sau khi trừ đi khoản nợ, ngân hàng sẽ
phải trả lại người vay, nếu số tiền bán được lại nhỏ hơn số tiền vay thì ngân hàng
sẽ phải chịu lỗ.
Ta gọi chung khoản tiền thực mà ngân hàng thu được từ việc bán tài sản của khách hàng
là A, tổng doanh số thu nợ là B. Khi đó xác định được chỉ tiêu:
Tỷ lệ thanh toán nợ do việc bán tài sản của người vay =A/B
17
17
Chỉ tiêu định tính:
• Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng (qua uy tín, kết quả hoạt động, các
dịch vụ đi kèm như tư vấn…): Một ngân hàng sẽ không thể hoạt động được nếu
không có khách hàng. Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng không chỉ phụ
thuộc vào kết quả hoạt động của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào uy tín về chất
lượng phục vụ, về quan hệ với các tổ chức tài chính khác...của ngân hàng. Khách
hàng sẽ không muốn giao dịch với những ngân hàng không có uy tín vì rủi ro có
thể xảy ra đối với họ làm gián đoạn quá trình kinh doanh, hoặc làm mất đi cơ hội
kinh doanh của họ. Bên cạnh đó, ngân hàng có thể tăng khả năng thu hút khách
hàng thông qua các hoạt động đi kèm với hoạt động tín dụng như: dịch vụ tư vấn,
thẻ tín dụng...
• Tuân thủ các quy định do ngân hàng nhà nước đề ra trong lĩnh vực tín dụng trung
và dài hạn: Nhận thức được vai trò và chức năng của các ngân hàng trong nền
kinh tế, Nhà nước luôn có những chính sách quy định về hoạt động của họ, mà
một trong những quy định hết sức quan trọng đó là những quy định về hoạt động
tín dụng trung và dài hạn. Tuân thủ các quy định này của Nhà nước chính là sự
tuân thủ pháp luật, góp phần ổn định nền tiền tệ quốc gia, giúp cho nền kinh tế có
sự tăng trưởng cao và bền vững - tăng chất lượng tín dụng của ngân hàng.
• Góp phần vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
(đáp ứng vốn cho những ngành, lĩnh vực mũi nhọn nhờ đó đã giải quyết công ăn
việc làm cho nhiều lao động…): Hoạt động tín dụng mở rộng sẽ đáp ứng nhu cầu
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là nó tự
chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài sản do doanh
nghiệp quản lý.
19
19
1.2.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành
lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định. Công ty nhà nước được tổ
chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước. Trong đó,
Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa
các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc được
hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối liên hệ gắn bó
với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác,
hoạt động trong một hoặc một số chuyên nghành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng
cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị và toàn tổng công ty.
Tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập là hình thức liên kết và
tập hợp các công ty thành viên hạch toàn độc lập và có tư cách pháp nhân, hoạt
động trong một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường tích
tụ, tập chung vốn và chuyên môn hoá kinh doanh của các đơn vị.
Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết thông qua
đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước quy mô lớn do Nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó công ty nhà nước giữ quyền chi
phối doanh nghiệp khác.
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là tổng công ty được thành lập
để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu
hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập và các
công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do mình thành lập; thực
hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và quyền, nghĩa vụ của chủ
sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển
đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ công ty nhà nước độc lập.
kinh tế thế giới cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nước ta thì vai trò đó
càng thể hiện rõ hơn: DNNN cùng với nhiều loại hình doanh nghiệp khác đã góp phần
quan trọng trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát…
• DNNN có vị trí then chốt trong kinh tế nhà nước; là lực lượng mở đường, hỗ trợ,
định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh tế, xã hội
của đất nước.
Trong nền kinh tế, việc mở ra một loại hình kinh doanh mới sẽ luôn gặp phải
những khó khăn, trở ngại. Song, nếu không có người mở đường đi vào lĩnh vực
đó, thì nền kinh tế sẽ mất đi những cơ hội kinh doanh, mất đi tính cạnh tranh trên
thị trường quốc tế và do đó sẽ tụt hậu so với các nước khác. Vì vậy, để đảm bảo
hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội, cần thiết phải có các doanh nghiệp kinh doanh
trong lĩnh vực này. Đóng vai trò này không có ai khác ngoài các doanh nghiệp nhà
nước. Ở một khía cạnh khác, trong xã hội, bên cạnh những doanh nghiệp hoạt
động với mục đích kinh doanh thì phải có những doanh nghiệp khác sản xuất các
hàng hóa công cộng. Việc sản xuất các hàng hóa này thường đem lại lợi nhuận
thấp hoặc là sẽ có rất nhiều rủi ro trong việc đầu tư, nhưng xét trên phạm vi toàn
xã hội lại rất cần thiết cho sự phát triển như đường sá, cơ sở hạ tầng, nghiên cứu
khoa học…Ở những lĩnh vực đó cần thiết phải phát triển các DNNN.
DNNN có điều kiện về mọi mặt để đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện các quy
hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
như giao thông, điện…DNNN có điều kiện để đi đầu trong việc tập trung nghiên
cứu, xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất những hàng hóa
mà trong nước có lợi thế, có khả năng cạnh tranh, thị trường có nhu cầu, đem lại
lợi nhuận cao, thu hút và sử dụng nhiều lao động, tạo điều kiện để kinh tế trong
nước phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. DNNN có vai trò quyết định
trong việc thăm dò và cùng các thành phần kinh tế khác khai thác tài nguyên nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, vừa khai thác có hiệu quả tài
nguyên, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. DNNN là tấm gương tiêu biểu cho các
22
22
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhu cầu về vốn để duy trì sản xuất kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp là rất lớn,
bên cạnh các nguồn khác có thể tài trợ vốn cho doanh nghiệp thì hoạt động tín dụng trung
và dài hạn sẽ cung cấp một lượng vốn quan trọng cho các doanh nghiệp, giúp các DNNN
tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.
• Tín dụng trung và dài hạn tài trợ vốn, giúp các DNNN có một cơ cấu vốn hợp lý
đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp.
Vốn là một nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. Trong
đó, vốn của chủ có thể bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên,
lợi nhuận không chia. Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn.
Một cơ cấu vốn hợp lý không thể thiếu nợ vay, hơn nữa doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ tạo
ra đòn bẩy tài chính, tức là việc sử dụng nợ có thể giúp người vay tiền tạo ra các khoản
thu nhập lớn hơn chi phí của khoản nợ, làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Do đó có
thể khẳng định rằng: tín dụng nói chung và tín dụng trung – dài hạn nói riêng đã tài trợ
vốn cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có một cơ cấu vốn hợp lý.
Trong hoạt động tín dụng, để đảm bảo an toàn và giảm thiểu rủi ro thì các ngân hàng
không thể bỏ qua một khâu quan trọng: Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của các
doanh nghiệp trong quá trình tín dụng. Với công việc này, ngân hàng đã không chỉ mang
lại lợi ích cho bản thân ngân hàng mà còn giúp các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục
đích, có trách nhiệm hơn với đồng vốn đi vay bởi vì chỉ cần phát hiện ra một trục trặc
nhỏ về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh…của doanh nghiệp là ngân
hàng có thể thu hồi vốn lại. Nhờ đó, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp sẽ được
nâng cao.
24
24
1.2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN
Hoạt động tín dụng bao giờ cũng tiềm ẩn những rủi ro mà không một ai cũng có thể
dự đoán chính xác những vấn đề gì sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng