LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng là
xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới. Chính điều
này tạo ra sự phát triển và mở rộng không ngừng của các ngân hàng hiện nay.
Đây cũng là một thách thức lớn khi các ngân hàng tham gia thị trường phải
đối đầu. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt này, buộc các ngân hàng phải tìm
hướng đi mới, đưa ra dịch vụ, sản phẩm mới thu hút khách hàng.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định thương mại giữa
Việt Nam và các nước được ký kết; nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục
với tốc độ cao; đời sống của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện.
Điều đó tạo tiền đề thuận lợi cho các dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển.
Chính vì vậy hiện nay các ngân hàng không ngừng cạnh tranh mở rộng, nâng
cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ như về dịch vụ thẻ ATM, cho vay
tiêu dùng…
Khi nền kinh tế nước ta đang phát triển, đời sống người dân được nâng
cao, nhu cầu sử dụng và mua sắm các vật dụng đắt tiền rất lớn, nhưng họ
không thể chi trả cho tất cả nhu cầu mua sắm cùng lúc được. Vì vậy, nếu
người tiêu dùng có thể vay được tiền từ ngân hàng, thì họ có thể thỏa mãn nhu
cầu của họ ngay trong hiện tại, về phía ngân hàng thì có thể thu lợi từ hoạt
động cho vay. Không chỉ có vậy, với việc cho vay này, ngân hàng gián tiếp
thúc đẩy nền kinh tế phát triển do sự tăng tiêu dùng hàng hóa, thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh cả về số lượng và chủng loại sản phẩm, góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với kiến thức thực tiễn thu được trong
quá trình thực tập tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam,
1
em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt
động cho vay tiêu dùng tại Sở Giao Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam”, làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Ngoài phần mở bài, kết luận, chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng và khả năng cạnh
phục vụ các nhu cầu trong cuộc sống như du học, mua nhà đất, ôtô... Đối với
các doanh nghiệp, ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng cung cấp tín
dụng cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp cần thêm vốn để tiến hành sản xuất
kinh doanh, mua sắm trang thiết bị...
3
Bên cạnh các hoạt động cơ bản đó, ngân hàng còn đứng ra cung cấp một
loạt các dịch vụ sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đang phát sinh theo xu
hướng phát triển của xã hội như bảo lãnh, tư vấn tài chính...
Ngoài ra, NHTM dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương còn tiến
hành thực hiện các chính sách tiền tệ nhằm góp phần điều tiết sự tăng trưởng
kinh tế và đảm bảo sự ổn định của xã hội.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Ngân hàng có thể đuợc định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò
mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang
không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các
công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân
hàng. Ngược lại ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh bằng
cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ.
Cho nên cách tiếp cận thận trọng nhất chính là xem xét ngân hàng trên
phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, theo PGS.TS. Phan
Thị Thu Hà, Đại học Kinh tế quốc dân: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
1.1.2 .Chức năng của NHTM
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số
lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất
trữ; nó trở thành tiền giấy.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu.
1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá rị
hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm
chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như
thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng
lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng
cần. Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng
Trung ương hoặc qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua
ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được
mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được
các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được
chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của
thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thah toán quan
trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
6
1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng
Ngân hàng là một doanh cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch
vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu
quả.
ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh
tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng
như là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín
dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng
nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
+ Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng càng
trở lên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là
trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói
chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào
đất.
1.1.3.4. Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho
khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ
biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất
8
cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như
tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân
hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy
thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy
bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng
phải trả phí bảo quản.
1.1.3.5. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng
không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ.
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt,
tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết
giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân
hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an
phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy
phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy
phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó
các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải
mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà
ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với điều kiện ưu đãi cho các
doanh nghiệp của Chính phủ.
10
1.1.3.8. Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
1.1.3.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn,
nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Cuối
hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê
mua). Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa
chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hựp đồng thuê mua, trong
đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường
phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho
thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay,
và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
1.1.3.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có nhiều chuyên gia
về quản lí tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển
sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu
tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, đặc biệt là hoạt động cho vay.
Cho vay là một hoạt động truyền thống và là chức năng kinh tế hàng
đầu của Ngân hàng, giúp Ngân hàng chuyển tiết kiệm thành đầu tư.
Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là
một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
1.2.1.2.Phân loại cho vay
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay thích hợp và cơ sở
khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao
hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau
đây:
+ Theo mục đích:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại dịch vụ.
13
- Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu…
- Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính…
- Cho vay cá nhân là cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản vay để trang trải các chi phí thong
thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
+ Theo thời hạn cho vay
nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này sẽ được thỏa thuận
trong hợp đồng
• Theo cách thức tài trợ
Dựa vào căn cứ này cho vay tín dụng chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời gian
thanh toán.
15
1.2.2. Cho vay tiêu dùng của NHTM
1.2.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng của NHTM
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi
tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài
chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia
đình và xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du
lịch… cũng có thể được tài trợ bở cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng không có một định nghĩa chuẩn, nhưng nó có những
đặc điểm sau:
• Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu
tiêu dùng tại thời điểm hiện tại nhưng chưa có khả năng thanh toán.
• Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh.
• Qui mô khoản vay: Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối
nhỏ so với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có
thể có giá trị lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món
vay khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ
vay tiêu dùng khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng
để bổ sung số tiền còn thiếu (so với vay kinh doanh, có thể chủ đầu
tư vay toàn bộ số tiền cần thiết cho dự án). Mặt khác, do cho vay
và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo
cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân
xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản
vay cho dù có khả năng thanh toán.
17
o Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại
của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất
việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng
tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là rủi ro
khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế
được thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án.
o Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế. Khi nền
kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân
hàng nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp
tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng.
• Chi phí: Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi
phí lớn nhất trong danh mục cho vay của Ngân hàng. Do trong cho
vay tiêu dùng số lượng món vay nhiều, khách hàng đông và đa dạng
nhưng mỗi khoản vay số lượng lại nhỏ, ngân hàng phải huy động
nhiều nhân lực cho công việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm
định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát
và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay. Mặt khác, Ngân hàng
cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản cho vay tiêu dùng
với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá nhân,
thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch
như ở các công ty lớn. Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên
một đơn vị tiền tệ cho vay cao hơn so với các loại hình cho vay
khác.
• Lợi nhuận: Lợi nhuận của cho vay tiêu dùng thường cao do cho vay
tiêu dùng có rủi ro cao, chi phí cao và tâm lý người vay “kém nhạy
Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng
hóa và dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo
điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho người
lao động trong xã hội.
Chính vì lợi ích như vậy NHTM một mặt cho vay để tạo nên sự hòa
hợp giữa cung và cầu tiêu dùng, mặt khác lại có thể giải quyết tốt được nhiệm
vụ kích cầu tiêu dùng của nền kinh tế.
1.2.2.3. Các loại cho vay tiêu dùng của NHTM
Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu thức khác
nhau:
a. Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng được chia ra làm hai loại:
• Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu
cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá
nhân hoặc hộ gia đình.
• Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc
trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học
hành, giải trí du lịch…
b. Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả
Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm ba
loại:
• Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong
đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều
lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn vay. Phương thức
này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu
nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán
hết một lần số nợ vay.
20
• Cho vay phi trả góp: theo phương thức này tiền vay được khác hàng
thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các
Theo M.Porter 1980: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của
cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận
trung bình mà hãng đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa
lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có
thể giảm đi”
Khái quát lại: “Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể
trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích
nhất cho mình”.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng
(Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người
tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản
xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có nhiều biện
pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá...) hoặc phi giá cả (quảng cáo...).
Trong lĩnh vực ngân hàng, khả năng cạnh tranh là một chỉ tiêu rất tổng
hợp, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ khác biệt
và chỉ rõ lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu, đồng
thời phải làm cho khách hàng thấy được lợi ích thực tế từ những sản phẩm
dịch vụ đó. Khả năng cạnh tranh của một ngân hàng cũng được biểu hiện cụ
thể qua thị phần của Ngân hàng đó trên thị trường.
Vậy khả năng cạnh tranh của ngân hàng là gì, theo TS. Hà Thị Ngọc
Oanh tại Viện nghiên cứu thành phố Hồ Chí Minh thì: “ Năng lực cạnh tranh
22
của ngân hàng được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi
nhuận của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Vì
vậy năng lực cạnh tranh NHTM là sự tổng hợp của các yếu tố từ công tác chỉ
đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán bộ uy tín và thương hiệu của ngân
hàng”.
1.3.2. Sự cần thiết năng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay tiêu dùng
của Ngân hàng thương mại
tiêu dùng. Nếu dư nợ cho vay tiêu dùng tăng rất khả quan, nhưng thu lãi từ
cho vay tiêu dùng lại có xu hướng tăng chậm hoặc giảm sút thì NH phải xem
xét lại chính sách lãi suất của mình. Tỷ trọng này còn giúp việc xây dựng định
hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng.
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng thu lãi cho vay tiêu dùng =
- Thị phần cho vay tiêu dùng của Ngân hàng so với các ngân hàng khác
cùng thị trường: Chỉ tiêu này cho biết sức cạnh tranh về cho vay tiêu dùng của
ngân hàng so với các ngân hàng khác, khả năng chiếm lĩnh thị trường mục
tiêu cũng như hướng phát triển trong tương lai.
1.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng
của Ngân hàng
- Mức độ sử dụng vốn vay trên tổng vốn huy động: chỉ tiêu này cho
phép xác định khả năng cho vay nói chung và khả năng cho vay tiêu dùng nói
24
riêng trong tương lai của Ngân hàng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh
trong hoạt động này.
Mức độ sử dụng vốn để cho vay =
- Tỉ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng: Như đã phân
tích ở trên, cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có nhiều rủi ro, do đó cũng
có tỉ lệ nợ quá hạn cao hơn so với tỉ lệ nợ quá hạn chung của toàn Ngân hàng.
Hoạt động cho vay tiêu dùng của một Ngân hàng được coi là phát triển và
hiệu quả khi tỉ lệ nợ quá hạn nằm trong giới hạn cho phép và có xu hướng
giảm so với các năm trước hoặc đã thu hồi được nhiều khoản quá hạn của kỳ
trước. Tỷ trọng này cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
=
- Mức độ đa dạng các hình thức cho vay tiêu dùng: Số lượng sản phẩm
cho vay tiêu dùng ngân hàng cung cấp càng đa dạng thì ngân hàng càng đáp
ứng và thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó phát triển hoạt