Lời mở đầu
Với sự phát triển của nền kinh tế như hiện nay, ngân hàng đã trở thành
một cầu nối quan trọng góp phần kích thích và bôi trơn các hoạt động trong nền
kinh tế. Tuy nhiên, lĩnh vực ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp,
đòi hỏi người tham gia phải có những hiểu biết rộng và chính xác. Ngân hàng là
“doanh nghiệp” đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ, là người “đi vay để cho
vay” để thu lợi nhuận dựa trên sự chênh lệch lãi suất. cho vay là hoạt động chủ
chốt để tạo ra lợi nhuận trong đó có cho vay tiêu dùng. Hiện nay, cho vay tiêu
dùng đang trở thành mục tiêu của nhiều Ngân hàng. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế , trình độ của người dân được nâng cao, đời sống nhân dân ngày
càng được cải thiện, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển.
Tóm lại, cho vay tiêu dùng trong hoạt động của NHTM là cần thiết bởi
nhu cầu vay tiền để tài trợ cho hoạt động tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình là
rất lớn. Đẩy mạnh cho vay tiêu dùng đang là xu hướng tất yếu của các Ngân
hàng trong nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, so với các nguồn tài trợ tín dụng
khác, nhìn chung, NHTM thường được đánh giá là có khả năng đáp ứng tốt nhất
nhu cầu cho vay tiêu dùng.
Là một sinh viên của Ngân hàng – Tài chính của trường Đại học kinh tế
quốc dân, thời gian được thực tập tại Sở giao dịch NHNN
O
&PTNT Việt Nam đã
giúp em có được những hiểu biết thực tế về những lĩnh vực hoạt động của ngân
hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Được tiếp xúc với nhiều khía
cạnh của hoạt động tín dụng, em thấy rằng nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng là một vấn đề đang được quan tâm tại
NHNo&PTNT Việt Nam. Để hiều biết sâu rộng hơn về vấn đề này, em đã chọn
đề tài: “Nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cho vay tieu dùng và hiệu quả cho vay tiêu dùng của các
hai, các Ngân hàng trên Thế giới đã liên tục phát triển và trở thành những tổ
chức cấp tín dụng chính trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Một trong những
nguyên nhân cơ bản khiến cho Ngân hàng có được vị trí thống trị trên lĩnh vực
này là đã không ngừng khai thác nguồn tiền gửi của dân cư và coi đây là nguồn
vốn hoạt động quan trọng nhất để tài trợ cho các món vay thương mại.
Hơn nữa, thực tế cho thấy, tín dụng tiêu dùng thường là một trong những
khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng. Tuy nhiên,
dịch vụ cho vay tiêu dùng có thể là một trong những dịch vụ có chi phí cao nhất
với nhiều rủi ro nhất đối với Ngân hàng vì tình hình tài chính của các cá nhân và
hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức
khỏe của họ. Chính vì lý do đó mà các khoản cho vay tiêu dùng phải được quản
lý chặt chẽ và linh hoạt.
Tại Việt Nam cho vay tiêu dùng ra đời từ những năm 1990 nhưng phải
đến năm 2000 khi nền kinh tế và đời sống của người dân có những bước chuyển
biến rõ rệt thì loại hình tín dụng này mới thực sự phát triển. Hình thức này nằm
trong chiến lược đa dạng hóa các loại hình tín dụng, mở rộng danh mục sản
phẩm, dịch vụ mà còn giúp Ngân hàng gia tăng lợi nhuận và tạo dựng thương
hiệu.
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM
1.2.1. Khái niệm
Tín dụng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng. Đây là hoạt
động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho NHTM, phản ánh hoạt động đặc
trưng của Ngân hàng. Cho vay tiêu dùng cũng là một hoạt động tín dụng Ngân
hàng.
Cho vay tiêu dùng là hoạt động tín dụng trong đó Ngân hàng đưa tiền cho
khách hàng với cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong khoảng thời
gian thoả thuận, nhằm giúp khách hàng có thể sử dụng hàng hoá và dịch vụ
trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức
sống cao hơn.
Như vậy, cho vay tiêu dùng chính là hình thức cấp tín dụng cho người
của người đi vay.
- Tư cách khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết
định sự hoàn trả của khoản vay.
1.2.3. Phân loại
Căn cứ vào mục đích vay
• Cho vay tiêu dùng cư trú.
Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo
nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
• Cho vay tiêu dùng không cư trú.
Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm
phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí, du lịch, y tế…
Căn cứ vào hình thức cho vay
• Cho vay gián tiếp
Là hình thức cho vay, trong đó Ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh
của các Doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho
người tiêu dùng, hình thức này Ngân hàng cho vay thông qua các Doanh nghiệp
bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Thông thường, cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:
(1) Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp
đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán
chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu...
(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu
hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4) Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng.
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Ưu điểm của loại hình này là dễ dàng cho phép tăng doanh số cho vay
tiêu dùng, tiết kiệm hơn, giảm được chi phí cho vay, mở rộng quan hệ với khách
hàng và các tổ chức khác đồng thời có sự bảo đảm của tổ chức nên cũng khá an
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
NGÂN HÀNG CÔNG TY BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
(3)
_
(5)
_
(2)
_
(4)
_
(1)
_
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, loại hình này có một số ưu điểm như:
Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của cán bộ tín dụng được đào tạo
một cách có bài bản, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng, do đó các
quyết định trực tiếp từ ngân hàng sẽ có chất lượng hơn, từ đó giảm thiểu rủi ro
cho các khoản vay. Mặt khác, cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho vay
tiêu dùng gián tiếp vì ngân hàng và khách hàng có thể chủ động hơn trong quan
hệ tín dụng mà không phải thông qua trung gian. Ngân hàng có thể thực hiện
thêm nhiều dịch vụ khác có liên quan, và khách hàng có thể được hưởng một
dịch vụ tốt hơn thông qua một hệ thống dịch vụ hoàn hảo.
Bên cạnh những ưu điểm như vậy, cho vay trực tiếp cũng có những hạn
chế do cán bộ Ngân hàng phải trực tiếp làm việc với khách hàng nên Ngân hàng
tốn nhiều thời gian và chi phí so với cho vay theo hình thức gián tiếp, nhất là
khi lượng khách hàng đến đông cùng một thời gian thì sẽ gây khó khăn cho
Ngân hàng.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
• Cho vay tiêu dùng trả góp
thủ tục chủ yếu xoay quanh tài sản cầm cố đó là: kiểm tra tài sản cầm cố, thẩm
định tài sản cấm cố, kí hợp đồng, giải ngân, bảo quản và xử lí tài sản cầm cố.
• Cho vay thế chấp lương
Ngân hàng cho khách hàng vay tiền trên cơ sở thế chấp lương. Do đó chủ
yếu áp dụng cho những khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài trang
trải chi tiêu thường xuyên còn tích lũy để trả nợ. Trong việc xét duyệt cho vay,
Ngân hàng cần một bảng kê khai các khoản thu nhập về lương và thu nhập khác
của người vay. Số tiền cho vay được quyết định dựa trên nhu cầu vay và thu
nhập ròng thường xuyên của khách hàng.
• Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo, hoặc
tài sản đó không đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng có thể
yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của
ngân hàng làm vật đảm bảo. Hình thức này áp dụng chủ yếu với tài sản có giá
trị lớn, thời gian sử dụng dài như cho vay sửa chữa nhà, mua nhà, mua quyền sử
dụng đất… Mức cho vay của Ngân hàng trong trường hợp này phụ thuộc vào
tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng, giá trị tài sản mua sắm,
mức tối đa thường từ 50-70% giá trị tài sản mua sắm. Để đảm bảo rằng khách
hàng sẽ không bán hoặc sử dụng không cẩn thận, làm giảm giá trị của tài sản,
Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo
hiểm và người thụ hưởng là Ngân hàng.
1.2.4. Quy trình cho vay tiêu dùng
Qui trình này được soạn thảo với mục đích giúp cho quá trình cho vay diễn ra
thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín
dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng dân
cư. Qui trình này cũng xác định người thực hiện công việc và trách nhiệm của
các cán bộ có liên quan trong quá trình cho vay.
Thông thường các khoản cho vay dành cho cá nhân được bắt đầu bằng việc
khách hàng đến xin vay vốn. Đây là thời điểm đầu tiên khách hàng và cán bộ tín
dụng nói chuyện với nhau về khoản vay. Cuộc trò chuyện giữa cán bộ tín dụng
tài sản này nếu khoản cho vay không được hoàn trả.
Sự ổn định về việc làm và nơi cư trú: Hầu hết các ngân hàng đều không muốn
cho vay đối với những người chỉ mới làm việc tại nơi làm việc hiện tại được
một vài tháng, nhất là cho vay những khoản tiền lớn. Thời gian sống tại nơi cư
trú hiện tại cũng thường được coi trọng vì nếu một khoảng thời gian một người
sống tại một nơi càng lâu thì có thể tin ràng cuộc sống của người đó càng ổn
định. Còn nếu một người thường xuyên thay đổi chỗ ở thì sẽ là một yếu tố bất
lợi cho ngân hàng khi quyết định cho vay….
Bước 3: Phân tích tín dụng
Mục tiêu của phân tích tín dụng là xác định rủi ro và các biện pháp hạn
chế rủi ro. Nội dung phân tích tín dụng là thu thập và phân tích thông tin nhằm
xác định uy tín, tư cách pháp lý, sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của
người vay trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngày nay trong môi trường cạnh
tranh đòi hỏi Ngân hàng phải tiến hành quy trình phân tích tín dụng nhanh, gọn
và tiết kiệm.
Nội dung phân tích bao gồm:
- Đánh giá tài sản của khách hàng
- Đánh giá các khoản nợ
- Đánh giá phương án vay vốn của khách hàng
Bước 4: Xét duyệt và quyết định cho vay
Cán bộ tín dụng gửhi hồ sơ và báo cáo thẩm định tới cán bộ chịu trách
nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ để tiến hành xem xét, tái thẩm
định (nếu cần thiết) và trình giám đốc quyết định. Giám đốc Ngân hàng căn cứ
vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) quyết định cho vay hoặc không
cho vay sau đó cán bộ tín dụng sẽ thông báo quyết định của Giám đốc Ngân
hàng tới khách hàng. Nếu đơn xin vay của khách hàng được chấp thuận thì cán
bộ tín dụng phụ trách cho vay tiêu dùng cùng với khách hàng lập hợp đồng tín
dụng như ở bước 5.
Bước 5: Xây dựng, kí kết hợp đồng và tiến hành giải ngân
Hợp đồng tín dụng chính là văn bản viết ghi lại thỏa thuận giữa khách
mới liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng đó.
1.2.5. Lợi ích của hoạt động cho vay tiêu dùng
Đối với ngân hàng
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng tiền đó để cho vay. Các ngân hàng thương mại bên cạnh việc nỗ lực huy
động vốn là khai thác tối đa thị trường tín dụng, nghĩa là đáp ứng tốt nhất nhu
cầu tín dụng của nền kinh tế. Có thể nói khách hàng cá nhân chính là thị trường
tiềm năng để Ngân hàng tiến hành cho vay tiêu dùng. Trước hết cho vay tiêu
dùng giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu mua sắm hàng hóa và sử dụng dịch vụ
với khả năng thanh toán của người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng là một phương thức đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư
của Ngân hàng. Do đó, vừa nâng cao thu nhập, vừa phân tán rủi ro,và thông qua
hoạt động cho vay tiêu dùng Ngân hàng sẽ mở rộng được quan hệ với khách
hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động vốn của mình.
Đối với khách hàng
Người tiêu dùng là người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất những
lợi ích mà hình thức cho vay tiêu dùng mang lại. Xã hội ngày càng phát triển có
tác động ngày càng mạnh đến nhu cầu tiêu dùng của người dân, tuy nhiên
không phải lúc nào họ cũng có khả năng thỏa mãn nhu cầu này. Nhiều khi
người dân chỉ có thể hưởng thụ những nhu cầu này sau khi có sự tích lũy về tài
chính. Vì vậy, cho vay tiêu dùng của Ngân hàng giúp người dân kết hợp nhu
cầu hiện tại với khả năng thanh toán trong tương lai.
Bên cạnh đó, khi xuất hiện hình thức này sức mua của người dân tăng
nhanh và mang lại sức mua lớn cho thị trường. Khi đó người tiêu dùng sẽ có sự
lựa chọn hàng hóa một cách kĩ càng hơn. Điều này thúc đẩy các nhà sản xuất
cạnh tranh và đưa ra thi trường những sản phẩm tốt nhất.
Đối với nền kinh tế - xã hội
Một trong những chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của xã hội là mức sống
của người dân. Thông qua các khoản cho vay tiêu dùng, Ngân hàng đã góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Cho vay tiêu dùng góp phần
Doanh số cho
vay kì trước
- 1
* 100
Doanh số cho vay phản ánh quy mô của hoạt động cho vay tiêu dùng.
Tốc độ tăng doanh số phản ánh khả năng mở rộng cho vay qua các thời kỳ.
Doanh số cho vay và tốc độ cho vay phản ánh khả năng mở rộng tín dụng
tuy nhiên chưa đủ để phản ánh hiệu quả cho vay của Ngân hàng.
Doanh số thu nợ
Phản ánh số vốn mà khách hàng trả cho Ngân hàng trong từng thời kỳ
nhất định. Doanh số thu nợ phán ánh hai khả năng:
- Khách hàng hoàn trả vốn vay Ngân hàng đúng hạn.
- Ngân hàng tăng thu nợ quá hạn, thu hồi nợ sớm do có dấu hiệu không
lành mạnh trong tình hình tài chính.
Dư nợ cho vay
Là tổng dư nợ của Ngân hàng tại một thời điểm nhất định
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không hoàn trả được cho Ngân
hàng khi đến hạn thanh toán theo thỏa thuận trên hợp đồng. Các chỉ tiêu nợ quá
hạn phản ánh mức độ an toàn của hoạt động tín dụng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ bình quân.
Tỷ lệ nợ quá hạn
cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện độ an toàn tín dụng của Ngân hàng cao
và ngược lại. Tỷ lệ nợ quá hạn ngầm chỉ ra rủi ro đối với các khoản cho vay.
Ngân hàng có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ có nguy cơ mất vốn cao làm cho hiệu
quả tín dụng tai Ngân hàng thấp. Nếu chỉ số này dưới mức 5% Ngân hàng được
đánh giá có nghiệp vụ tín dụng, chất lượng cho vay cao. Người ta chia thành 2
loại như sau:
Nợ quá hạn CVTD
nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng
quay vốn nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn lớn cho thị
trường. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn
cho vay tiêu dùng càng tốt, chất lượng tín dụng tiêu dùng càng cao.
1.3.3. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD
1.3.3.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố xuất phát từ phía Ngân hàng
• Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng, với tầm quan
trọng và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng
được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng. Chính
sách tín dụng của mỗi ngân hàng là khác nhau tùy thuộc vào tình hình và khả
năng hoạt động của ngân hàng đó. Nếu các yếu tố này được đưa ra một cách
Thu nhập từ hoạt động CVTD
=
Tổng thu nhập của Ngân hàng
Doanh số thu nợ CVTD
=
Dư nợ CVTD bình quân
hợp lý, linh hoạt, đáp ững được nhu cầu của người tiêu dùng thì hoạt động cho
vay tiêu dùng của ngân hàng sẽ ngày một phát triển. Ngược lại, chính sách tín
dụng không hợp lý, hài hòa sẽ không thu hút được khách hàng sử dụng sản
phẩm dịch vụ, từ đó sẽ kìm hãm sự phát triển của cho vay tiêu dùng. Vì vậy,
ngân hàng phải luôn nghiên cứu đưa ra chính sách tín dụng đúng đắn hợp lý tùy
thuộc vào định hướng phát triển của ngân hàng và phù hợp với từng nhóm đối
tượng khách hàng.
• Hoạt động Marketing
Hoạt động này có vai trò thúc đẩy các hoạt động sự phát triển của Ngân
hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng. Đây là nhân tố có sức mạnh
tiềm ẩn đưa hình ảnh của Ngân hàng đến với khách hàng. Trong mỗi giai đoạn,
việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng là rất quan trọng.
• Sự ổn định về nghề nghiệp và nơi cư trú
Những người làm nghề nghiệp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao thường
được trả lương hậu hĩnh và ổn định, thông thường họ có nhu cầu vay tiêu dùng
lớn. Thời gian sống tại nơi cư trú hiện tại cũng là một yếu tố được coi trọng vì
nếu một khoảng thời gian một người sống tại một nơi càng lâu thì có thể tin
ràng cuộc sống của người đó càng ổn định. Những người thường xuyên thay đổi
chỗ ở thường không được Ngân hàng đánh giá cao.
Ngoài ra, những nhân tố như trình độ văn hóa, đạo đức của khách hàng...
cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay tiêu dùng của Ngân
hàng.
1.3.3.2. Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Bất cứ một sự biến động nào của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến tất cả
các lĩnh vực khách hàng trong đó có sản xuất và tiêu dùng. Chẳng hạn, khi nền
kinh tế phát triển người tiêu dùng yên tâm về mức thu nhập của họ trong tương
lai vì vậy họ sẽ phát sinh nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn, hoạt động cho vay tiêu
dùng từ đó có cơ hội phát triển hơn. Ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái,
người dân có xu hướng tiết kiệm hơn, nhu cầu chi tiêu ít hơn và hạn chế việc
vay mượn từ Ngân hàng. Khi đó hoạt động cho vay tiêu dùng không có điều
kiện để phát triển. Vì vậy, các NHTM phải thường chú ý đến những dự báo kinh
tế trong năm để đưa ra những chính sách tín dụng thật phù hợp.
Môi trường chính trị
Một quốc gia có tình hình chính trị ổn định thì khi đó người dân mới có
thể yên tâm lao động sản xuất kích thích nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu
dùng của dân cư sẽ tăng, kích thích sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu
dùng. Còn nếu tình hình chính trị mất ổn định dẫn đến những hoạt động bạo
loạn trong dân chúng, người dân không chú tâm vào lao động sản xuất ảnh
hưởng đến nền kinh tế. Từ đó nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sút và ảnh
hưởng đến hoạy động cho vay của Ngân hàng.
khách hàng lớn nhất và có quan hệ đại lí với rất nhiều quốc gia khác trên thế
giới.
Trụ sở chính: Đặt tại số 2 Láng Hạ, quận Ba Đình, Hà Nội.
Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập trên cơ sở sắp xếp,
tổ chức lại Sở kinh doanh hối đoái NHNo&PTNT Việt Nam theo quyết định số
235/QĐ/HĐQT-02 ngày 16/05/1999 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNT Việt
Nam. Sở giao dịch là đầu mối trong toàn hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và
trực tiếp thực hiện chức năng kinh doanh đa năng. Sở là đại diện theo theo ủy
quyền của NHNo&PTNT Việt Nam và có con dấu riêng, có bảng cân đối tài sản
và nhận khoán tài chính theo quyết định của Ngân hàng nông nghiệp. Có quyền
tự chủ trong kinh doanh nhưng Sở giao dịch chỉ là một thành viên hạch toán phụ
thuộc trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam.
Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam.
Tên viết tắt bằng tiếng Việt: Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp.
Tên tiếng Anh: Banking Operations Center Of Vietnam Bank For
Agriculture and rural development.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – nhân sự
Giám đốc