“ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp Nhà nước tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất của một nền sản xuất lớn,
hiện đại nên nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế là rất cao. Trong khi
đó, tuy thị trường chứng khoán ở nước ta đã ra đời nhưng việc huy động vốn
trung và dài hạn cho nền kinh tế chưa nhiều, do đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn
của nền kinh tế chủ yếu vẫn do hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó chủ yếu
là các ngân hàng thương mại quốc doanh cấp. Đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư
vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thương
mại.
Trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn, tín dụng trung và dài hạn đối với
doanh nghiệp Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng. Đối với các ngân hàng,
hoạt động này đóng góp không nhỏ vào tổng lợi nhuận của ngân hàng. Đối với
các Doanh nghiệp nhà nước, nó đáp ứng vốn cho các Doanh nghiệp nhà nước để
họ thực hiện vai trò to lớn của mình: là lực lượng mở đường, hỗ trợ và định
hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh tế- xã hội;
góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội của đất
nước, đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội và đặc biệt sẽ là lực lượng quan trọng để
Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Hoạt động trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp nhà nước tại Sở giao dịch
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam tuy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng
vẫn còn một số mặt hạn chế, do đó chưa phát huy được hết khả năng to lớn của
mình.
Với ý nghĩa này, việc tìm hiểu về tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh
nghiệp nhà nước để nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động này là vô cùng
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quan trọng. Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng trung và dài hạn đối với Doanh nghiệp Nhà nước tại Sở giao
dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt

Như vậy có nhiều cách hiểu về “ tín dụng”, tuy nhiên theo quan điểm của em
thì tín dụng có thể được hiểu là: sự vay mượn hoặc sử dụng vốn của nhau dựa
trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng.
Căn cứ vào hai tiêu thức là chủ thể và đối tượng tín dụng thì quan hệ tín dụng
gồm có các loại hình: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà
nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế. Trong mỗi loại
hình này, tín dụng lại được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu, em chỉ xin đề cập đến “tín dụng” gắn liền với chủ
thể nhất định là ngân hàng. Theo đó, tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ (cho
vay) của ngân hàng cho khách hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp
tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào nhiều
tiêu thức khác nhau. Trong đó, phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối
với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín
dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian thì tín dụng
được phân thành:
• Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lưu động
của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Ngân hàng
có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn
mức, có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân
chuyển.
• Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm (theo quy định của ngân
hàng nhà nước Việt Nam), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải,
trang thiết bị chóng hao mòn, mở rộng sản xuất kinh doanh hay để xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp,

 Cấp tín dụng cho cá nhân: các cá nhân có thể sử dụng vốn vay từ ngân
hàng nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng nhưng chủ yếu là để tiêu dùng.
Quy mô khoản tín dụng thường nhỏ hơn so với khoản cấp cho các doanh nghiệp,
lãi suất thường “cứng nhắc” và cao.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Cấp tín dụng cho các đơn vị khác: các đơn vị như các tổ chức xã hội cũng
cần vốn với nhiều mục đích khác nhau, để giải quyết sự thiếu hụt vốn họ cũng có
thể vay từ ngân hàng.
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo:
 Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp: Để giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng của mình
phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp. Và trên nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của
ngân hàng đều có đảm bảo.
 Tín dụng không đảm bảo bằng tài sản (Gồm: tín chấp và bảo lãnh bằng uy
tín). Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có
uy tín, trung thực trong kinh doanh, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên
có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả, ít xảy ra tình trạng nợ
nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản
cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm
bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc
những khoản cho vay mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng... cũng
có thể không cần tài sản đảm bảo.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng:
 Cho vay kinh doanh: các cá nhân, tổ chức vay vốn từ ngân hàng để mở
rộng sản xuất; đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mới...nhằm tăng lợi nhuận, nâng
cao doanh số...chứ không phải để thỏa mãn các nhu cầu (ăn, mặc...) của cá nhân.
 Cho vay tiêu dùng: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính
quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe

thể ở các “cung bậc” khác nhau: khoản có mức độ an toàn cao, khá, trung bình và
thấp. Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
căn cứ để chia loại rủi ro. Xếp loại tín dụng theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến
cao, nhiều ngân hàng có thể chia tới rất nhiều thang bậc rủi ro. Cách phân loại
này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục tín dụng, dự trù quỹ
cho các khoản tín dụng rủi ro cao, đồng thời để đánh giá chất lượng tín dụng.
 Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
 Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như
khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính...
 Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị
lớn...
 Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì...
- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
 Tín dụng có thời hạn: là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng. Trong loại này lại được phân chia tiếp, bao gồm:
 Tín dụng chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại chỉ thanh toán một lần theo
thời hạn đã thỏa thuận.
 Tín dụng có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là tín dụng trả góp:
là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
Loại này thường được áp dụng rộng rãi trong cho vay bất động sản nhà ở
thương mại, cho vay tiêu dùng...
 Tín dụng không có thời hạn cụ thể: đối với loại này thì ngân hàng có thể
yêu cầu hoặc để người vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo
trước một thời gian hợp lý (có thể được thỏa thuận trong hợp đồng).
- Căn cứ vào các tiêu thức khác:

NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng thường thiết lập các công ty còn để chuyên
quản. Công ty con này có nhiệm vụ nghiên cứu cùng với bên vay để lựa chọn các
máy móc, trang thiết bị thích hợp để thực hiện hợp đồng thuê mua.
1.1.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Tín dụng trung và dài hạn cũng là hoạt động tín dụng nên nó cũng có vai trò
như hoạt động tín dụng nói chung. Vai trò đó được thể hiện ở các điểm sau:
 Góp phần làm ổn định nền kinh tế (quá trình sản xuất kinh doanh của các
cá thể, cá nhân thường xuyên hơn), tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền
kinh tế: hoạt động sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng suôn sẻ, các tổ
chức, cá nhân luôn phải đương đầu với những khó khăn để tồn tại cũng như để đi
lên. Một trong những khó khăn mà đa số họ gặp phải trong bối cảnh cạnh tranh
hiện nay là sự thiếu hụt vốn trong kinh doanh. Bên cạnh việc đi vay mượn ở
người thân, bạn bè...còn gọi là vay nóng thì việc các tổ chức, cá nhân đi vay ở
các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn là rất thường xuyên.
 Tích tụ và tập trung vốn (góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và khắc phục lạm phát
tiền tệ).
Mỗi người, với một khoản tiền nhỏ thì rất khó có thể đầu tư, kinh doanh hay
mua những vật có giá trị lớn. Nhưng nếu nhiều người góp lại thì nó sẽ trở thành
một khoản tiền lớn. Tuy nhiên việc tập trung các lượng vốn nhỏ này lại rất khó
khăn đối với chỉ một người hay một nhóm người mà họ không được mọi người
trong xã hội biết đến. Trong khi đó lại có rất nhiều người cần một lượng tiền lớn,
nhiều công trình, dự án cần vốn lớn để đầu tư…Để kết nối những trường hợp trên
lại, chúng ta phải nhờ đến các tổ chức tín dụng mà đặc biệt là các ngân hàng.
Cũng thông qua hoạt động này của ngân hàng, số tiền nhàn rỗi trong dân cư sẽ
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.1.4.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng
Trong thời gian qua, hoạt động của các ngân hàng đã đạt được nhiều thành
công, đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng vẫn còn có nhiều khó
khăn đe dọa đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng nói riêng và của toàn xã hội
nói chung; vẫn còn nhiều mối quan tâm, lo ngại cần các ngành, các cấp giải
quyết. Một trong những mối quan tâm lo ngại đó chính là chất lượng tín dụng của
các ngân hàng. Cho đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về hệ thống các chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng. Chính vì vậy, việc xây dựng một
hệ thống như vậy là cần thiết không chỉ đối với đội ngũ thanh tra trong quá trình
thực hiện thanh tra, kiểm soát các ngân hàng thương mại mà còn là cơ sở để các
ngân hàng thương mại tự đánh giá độ an toàn và chất lượng của đồng vốn mà họ
cung cấp cho các khách hàng.
Vậy chất lượng tín dụng là gì? Có thể hiểu: chất lượng tín dụng là sự đáp ứng
yêu cầu của khách hàng ( bao gồm cả người gửi và người vay), phù hợp sự phát
triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Với khái
niệm này, chất lượng tín dụng được thể hiện ở cách khía cạnh sau:
• Đối với ngân hàng thương mại:
Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của ngân hàng
và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng
thời hạn và có lãi.
• Đối với khách hàng:
 Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải có thái độ đón tiếp, hướng dẫn
và phục vụ khách hàng một cách hòa nhã, ân cần.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Thủ tục đơn giản.
 Phục vụ nhanh nhất cho khách hàng trong phạm vi thờigian quy định.
 Đảm bảo cung ứng đúng và đủ lượng tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký.
 Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn của khách hàng.

 Chỉ tiêu định lượng
• Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ gia hạn trung và dài hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn trung -
dài hạn và tổng dư nợ trung – dài hạn của Ngân hàng thương mại ở một thời điểm
nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Nợ gia hạn về bản chất cũng
là nợ quá hạn nhưng đã được tăng thêm thời hạn vay. Tỷ lệ này làm rõ trong dư
nợ ngoài phần nợ thực sự quá hạn thì đã có bao nhiêu phần trăm quá hạn.
Vì tín dụng là việc sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự
tin tưởng nên trong hoạt động tín dụng, tính an toàn (khả năng hoàn trả của người
vay) là yếu tố quan trọng nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản
vay không được trả một đúng hạn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng
thì nó đã vi phạm nguyên tắc trong hoạt động tín dụng của ngân hàng và nó bị
chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế,
phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả năng mất vốn,
tức là tính an toàn thấp.
Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro xảy ra cho ngân hàng là điều đương nhiên
và do đó việc tồn tại nợ quá hạn và nợ gia hạn là không thể tránh khỏi. Tuy
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiên, nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn thì nó sẽ gặp
nhiều khó khăn trong kinh doanh vì có thể bị mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán và làm giảm thu nhập của ngân hàng, nặng hơn nữa thì ngân hàng có
thể đi đến bờ vực phá sản. Còn nợ gia hạn là một biện pháp giúp khách hàng vượt
qua những khó khăn tạm thời nhưng nếu quá nhiều khoản được gia hạn nợ thì
chứng tỏ danh mục cho vay của ngân hàng thương mại thực sự đang có vấn đề.
Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ gia hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng
tín dụng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ở thời điểm hiện tại cũng như
trong tương lai.
• Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Khoản mục tín dụng thường chiếm khoảng 70% tổng tài sản, trong đó có sự

cho vay quá nhiều trong một ngành, lĩnh vực nào đó mà không đa dạng hóa các
lĩnh vực đầu tư thì như người ta thường nói, ngân hàng đã “đặt quá nhiều trứng
trong một rổ”, không phân tán được rủi ro. Do đó, các ngân hàng phải quyết định
quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa bảo đảm an toàn
vốn lại vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất.
• Giá trị tài sản đảm bảo và tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người
vay:
Để vay được tiền từ ngân hàng, các cá nhân, doanh nghiệp sẽ phải áp dụng
các biện pháp để bảo đảm tiền vay, các biện pháp đó có thể là: tín chấp, bảo lãnh,
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có tài sản cầm cố, thế chấp. Trong trường hợp hoạt động kinh doanh của người
vay thua lỗ, không thể lấy từ lợi nhuận để trả ngân hàng:
 Nếu là bảo lãnh, tín chấp: người vay phải bán tài sản để trả nợ ngân hàng.
 Nếu là vay có tài sản đảm bảo: ngân hàng sẽ là người bán tài sản đó đi để
xiết nợ. Nếu số tiền bán được lớn hơn số tiền vay thì sau khi trừ đi khoản nợ,
ngân hàng sẽ phải trả lại người vay, nếu số tiền bán được lại nhỏ hơn số tiền
vay thì ngân hàng sẽ phải chịu lỗ.
Ta gọi chung khoản tiền thực mà ngân hàng thu được từ việc bán tài sản của
khách hàng là A, tổng doanh số thu nợ là B. Khi đó xác định được chỉ tiêu:
Tỷ lệ thanh toán nợ do việc bán tài sản của người vay =A/B
Chỉ tiêu định tính:
• Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng (qua uy tín, kết quả hoạt
động, các dịch vụ đi kèm như tư vấn…): Một ngân hàng sẽ không thể hoạt động
được nếu không có khách hàng. Khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng
không chỉ phụ thuộc vào kết quả hoạt động của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
uy tín về chất lượng phục vụ, về quan hệ với các tổ chức tài chính khác...của
ngân hàng. Khách hàng sẽ không muốn giao dịch với những ngân hàng không có
uy tín vì rủi ro có thể xảy ra đối với họ làm gián đoạn quá trình kinh doanh, hoặc
làm mất đi cơ hội kinh doanh của họ. Bên cạnh đó, ngân hàng có thể tăng khả

nước có cổ phần hoặc vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty cổ
phần nhà nước, công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân
sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do
doanh nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên
lãnh thổ Việt Nam.
1.2.1.2. Đặc điểm
 Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được nhà nước thành lập để thực
hiện những mục tiêu do nhà nước giao.
 Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ
phần, vốn góp chi phối.
 Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp
nhân theo quy định của pháp luật.
 Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là
nó tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài
sản do doanh nghiệp quản lý.
1.2.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
 Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,
thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định. Công ty nhà nước
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.
Trong đó, Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu
tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh
nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành
viên có mối liên hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và
các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên nghành
kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi
ích của các đơn vị và toàn tổng công ty.

 Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà
cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ
quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.
1.2.1.4. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường
• DNNN là lực lượng quan trọng để nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh
tế:
Nhà nước nào cũng vậy, muốn điều tiết được nền kinh tế thì phải có một tiềm
lực kinh tế mạnh. Kinh tế nhà nước mà trong đó tiêu biểu là Doanh nghiệp nhà
nước sẽ là chỗ dựa vật chất to lớn, tạo ra tiềm lực kinh tế mạnh để Nhà nước thực
hiện yêu cầu đó. DNNN có ở những khâu trọng yếu của nền kinh tế, cung ứng
phần lớn những tư liệu sản xuất chủ yếu và tư liệu tiêu dùng thiết yếu, đóng vai
trò nòng cốt trong việc củng cố, phát triển các bộ phận cấu thành hệ thống kinh tế
nhà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế. DNNN là một lực lượng vật
chất quan trọng để Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế, bảo đảm cho
nền kinh tế phát triển ổn định, bảo đảm những cân đối lớn và đủ khả năng sẵn
sàng ứng phó với những đột biến trong nền kinh tế. Trong các cuộc kháng chiến
cứu nước, DNNN đã khẳng định vị trí đó của mình và trong giai đoạn hiện nay,
khi nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, khi những biến động của nền
kinh tế thế giới cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nước ta thì vai
trò đó càng thể hiện rõ hơn: DNNN cùng với nhiều loại hình doanh nghiệp khác
đã góp phần quan trọng trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát…
• DNNN có vị trí then chốt trong kinh tế nhà nước; là lực lượng mở đường, hỗ
trợ, định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh tế,
xã hội của đất nước.
 Trong nền kinh tế, việc mở ra một loại hình kinh doanh mới sẽ luôn gặp
phải những khó khăn, trở ngại. Song, nếu không có người mở đường đi vào lĩnh
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vực đó, thì nền kinh tế sẽ mất đi những cơ hội kinh doanh, mất đi tính cạnh tranh
trên thị trường quốc tế và do đó sẽ tụt hậu so với các nước khác. Vì vậy, để đảm

trống, đồi trọc; giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,
giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền trong cả nước.
Hiện nay nước ta đang trong tiến trình cổ phần hóa (CPH) các DNNN vì CPH
là giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong việc cơ cấu lại DNNN để DNNN có
cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của
nền kinh tế. Trong tương lai, khi nhiều DNNN được CPH thì số lượng các
DNNN tuy bị giảm đi nhưng chất lượng hoạt động của các DNNN sẽ tăng lên
đáng kể, từ đó loại hình doanh nghiệp này sẽ càng phát huy hơn nữa vai trò to lớn
của mình.
1.2.2.VAI TRÒ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN
 Đối với ngân hàng thương mại:
Tín dụng trung và dài hạn tuy là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro hơn so
với tín dụng ngắn hạn đồng thời nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn nhưng hoạt
động này lại đem lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận lớn hơn.
Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng trung và dài hạn là một hoạt động có đóng
góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, do đó sẽ góp phần
nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng thương mại.
 Đối với DNNN:
• Tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho nhu cầu tài sản cố định và bộ phận tài
sản thường xuyên của doanh nghiệp do đó các doanh nghiệp có thể duy trì, mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhu cầu về vốn để duy trì sản xuất kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp là
rất lớn, bên cạnh các nguồn khác có thể tài trợ vốn cho doanh nghiệp thì hoạt
động tín dụng trung và dài hạn sẽ cung cấp một lượng vốn quan trọng cho các
doanh nghiệp, giúp các DNNN tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.
• Tín dụng trung và dài hạn tài trợ vốn, giúp các DNNN có một cơ cấu vốn
hợp lý đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp.
Vốn là một nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi

1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về phía ngân hàng
 Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:
Thông thường, mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng vì các
ngân hàng thường có những thế mạnh riêng. Tuy nhiên, các chiến lược kinh
doanh đó trước tiên phải phù hợp với chính sách phát triển chung của Nhà nước,
tiếp theo đó, chiến lược kinh doanh của ngân hàng phải phù hợp với khả năng của
mình. Một ngân hàng nhỏ, không có nhiều kinh nghiệm thì không thể theo đuổi
chiến lược kinh doanh là thâm nhập vào các thị trường cần nhiều vốn đầu tư, rủi
ro quá cao. Ta có thể lấy một ví dụ cụ thể như: nếu một ngân hàng có khả năng
huy động vốn trung và dài hạn không lớn thì không thể tiến hành chiến lược kinh
doanh là tập trung vào cho vay trung và dài hạn. Trong thời kỳ hiện nay, mặc dù
chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng có thể tập trung vào các đối tượng
khác nhau nhưng các ngân hàng thương mại đều đã cho vay trung và dài hạn đối
với tất cả các thành phần kinh tế, từ kinh tế tư nhân đến doanh nghiệp Nhà nước,
bằng nguồn vốn huy động ngắn hạn. Nhiều ngân hàng thương mại còn có chiến
lược kinh doanh là cho vay trung và dài hạn bằng ngoại tệ. Với chiến lược này,
nếu ngân hàng không dự tính được những biến động về tỷ giá, về xu hướng phát
triển của nền kinh tế trong tương lai hoặc nếu doanh nghiệp đi vay sử dụng khoản
NguyÔn Thu Ph¬ng Líp Ng©n hµng 43B

Trích đoạn Chênh lệch lãi suất bình quân đầu ra đầu vào tối thiểu 2%/năm Xây dựng chiến lược kinh doanh và chính sách tín dụng hợp lý Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Nâng cao chất lượng cán bộ trong ngân hàng Kiến nghị với Chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status