Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu to lớn đạt được sau hơn 20 năm đổi mới, với những
bước tiến nhanh và dài để hội nhập với nền kinh tế Thế giới cho thấy sự chủ
động chuyển mình và chủ động hội nhập của kinh tế Việt Nam. Nhưng để có
thể tiến xa hơn nữa cần đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành phần kinh tế,
trong đó đặc biệt phải kể đến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đó cũng là đường lối, chiến lược của Đảng và Nhà nước, nhưng không
thể phủ nhận rằng chúng ta vẫn đang rất lúng túng trong việc triển khai nó
bởi còn tồn tại rất nhiều khó khăn.Trong đó, khó khăn về vốn, về đổi mới
công nghệ và tiếp cận các dịch vụ tài chính là đáng kể nhất.
Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong
những hoạt động cho vay chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay. Đây là một đề tài cũ mà mới. Nó cũ về lý thuyết, nhưng mới về
mặt giải pháp cụ thể trong từng điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội của Đất
nước.
Xuất phát từ quan điểm trên và từ thực trạng của các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện nay, qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam – Chi nhánh MSB Cầu Giấy, em đã chọn đề tài :
“ Phát triển hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam- Chi nhánh MSB Cầu Giấy
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam- Chi nhánh MSB Cầu Giấy
Do hạn chế về trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên
của các DN VVN. Cùng với nó, chủ trương đẩy nhanh hội nhập quốc tế, việc
gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế giới WTO, kết quả thu hút vốn đầu tư
nước ngoài ngày một nhiều hơn (năm 2006 đạt mức kỷ lục trên 10,2 tỷ USD
vốn FDI) và những cải cách hành chính, chống tham nhũng đã thực sự tạo đà
cho sự phát triển của các doanh nghiệp này, từng vước khẳng định vai trò và
vị trí của mình trong nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Trong số các DN VVN đang hoạt động hiện nay, ta dễ dàng nhận thấy
một số đặc điểm sau:
a) Vốn nhỏ
Đặc điểm nổi bật nhất của các DN VVN hiện nay là có vốn nhỏ. Qua điều
tra cho thấy, ở nước ta hiện nay bình quân một Doanh nghiệp có vốn đạt 7 tỷ
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
đồng, trong đó số Doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%, Doanh
nghiệp có 1 - 5 tỷ đồng tiền vốn chiếm 37,03%. Đây là nguyên nhân rất đến
các đặc điểm khác của DN VVN đồng thời cũng nguyên nhân chính dẫn đến
khó khăn lớn nhất của các DN VVN là tình trạng thiếu vốn để sản xuất. Hiện
nay trên 70% các DN VVN gặp khó khăn về tài chính.
b) Quy mô nhỏ
Dù giới hạn của DN VVN là có bình quân lao động trong năm là 300
người nhưng con số này của các DN VVN hiện nay chỉ có khoảng 32 người.
Vì vậy có thể nói các DN VVN hiện nay có quy mô rất nhỏ, dẫn theo đó là
cơ cấu tổ chức cũng rất đơn giản. Các nhân viên có thể phải đảm nhiệm
nhiều công việc cùng một lúc. Một thực tế khác nữa là trình độ cán bộ quản
lý và lao động của các doanh nghiệp này còn rất hạn chế, khả năng quản trị
điều hành thấp, số lượng chủ doanh nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học còn
thấp. Hoạt động kinh doanh chủ yếu theo thương vụ, chạy theo phong trào
đây mới chính là thế mạnh, là lợi thế so sánh của các Doanh nghiệp này.
Bên cạnh đó, DN VVN còn có thể linh hoạt trong việc đổi mới công nghệ
và thiết bị vì yêu cầu bỏ vốn không nhiều và giảm được sự thiệt hại khi có sự
cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác. Đó cũng chính là lý do
mà các DN VVN thường ưa mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro để mạnh dạn
đầu tư vào những ngành mới.
e) Sự ra đời của các hiệp hội
Do có vốn nhỏ, quy mô nhỏ nên tiếng nói của các DN VVN hiện nay
cũng hết sức yếu ớt và rời rạc. Vì vậy, các hiệp hội đã ra đời giúp các doanh
nghiệp vừa hợp sức lại vừa tăng tính độc lập. Vai trò hết sức quan trọng của
hiệp hội là có nhiều hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp như giúp đỡ về
đào tạo nghề; quảng bá giới thiệu doanh nghiệp, cung cấp thông tin thị
trường... trên các phương tiện thông tin đại chúng; huy động các nguồn tài
trợ quốc tế; và hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng doanh
nghiệp; kiến nghị các cơ quan chức năng điều chỉnh chính sách, pháp luật
… tạo điều kiện cho DN NVV phát triển.
1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trường
Chiếm số đông trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, DN VVN đang
vươn lên trong mọi lĩnh vực và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của
mình trong nền kinh tế:
a) DN VVN có vai trò to lớn trong việc thu hút nguồn vốn trong dân
cư.
Với tính chất nhỏ bé, dễ đi sâu vào các cộng đồng dân cư và số lượng vốn
cần ban đầu không nhiều, các DN VVN có vai trò rất lớn trong việc thu hút
được nguồn vốn trong dân cư vốn đang nằm phân tán và rải rác, hạn chế số
tiền nhàn rỗi, không sinh lời trong nền kinh tế, và đây thực sự là một nguồn
tài chính dồi dào và tiềm năng.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
e) DN VVN chiếm tỷ lệ cao về số lượng và khả năng thu hút lao động
và đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu vào ngân sách.
Có đặc điểm là năng động, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng lại có số lượng ngày càng tăng nhanh nên khả năng
đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu ngân sách của các DDN VVN
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
ngày càng tăng, nhất là khi gia nhập vào WTO thì nguồn thu từ Doanh
nghiệp Nhà nước, từ thuế xuất nhập khẩu sẽ khó được đảm bảo.
Trong khi đó, các DN VVN có kỹ thuật sản xuất chủ yếu là nửa cơ giới
và lao động chân tay chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn các Doanh nghiệp này
hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, xây
dựng giao thông vận tải, chế biến nông lâm hải sản, … nên nó có khả năng
thu hút nhiều lao động, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu
nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động.
f) DN VVN bước đầu tham gia vào quá trình hình thành mối liên kết
giữa DN VVN và các Doanh nghiệp lớn.
Có thể nói đây là quan hệ hai chiều, ràng buộc và hỗ trợ nhau: các doanh
nghiệp lớn đảm bảo vững chắc cho các DN VVN về thị trường, tài chính,
công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược lại, DN VVN
đảm bảo cho các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, hợp
đồng phụ và thành lập mạng lưới vệ tinh phân phối sản phẩm.
DN VVN hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, tuy nhiên vai trò của chúng
đối với sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận. Cùng với các
doanh nghiệp lớn, các DN VVN cùng góp phần tạo ra sự cân đối cho nền
kinh tế. Một nền kinh tế nếu chỉ toàn các DN VVN thì sẽ không thể tích tụ
và tập trung vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ. Trong khi
các tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi ( Mục 2 – Điều 3 – 1627/2001/QĐ-NHNN)
Cho vay DN VVN của NH TM là các NH TM giao cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Về tính chất nghiệp vụ, cho vay DN VVN cũng giống như các hoạt động
truyền thống khác, phải thực hiện đầy đủ và chặt chẽ qui trình cho vay cũng
như đảm bảo các nguyên tắc và dựa trên chính sách cho vay của NHTM.
Tuy nhiên đối tượng vay vốn ở đây là các DN VVN, có những đặc điểm
khác với các đối tượng vay vốn khác, đó là tuy có tư cách pháp nhân, nhưng
vốn tự có lại ít, không đủ tài sản thế chấp nên khó vay được vốn, không đủ
vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, không có nhiều lợi nhuận và tài sản vì
thế cũng chẳng có nhiều tài sản thế chấp. Điều này đã tạo nên một cái vòng
luẩn quẩn trong việc vay vốn Ngân hàng cho các Doanh nghiệp này, trong
khi đó tình hình tài chính không minh bạch và hạn chế về việc nắm bắt thông
tin cũng như tiếp xúc với các dịch vụ của Ngân hàng, đã tạo cho các Doanh
nghiệp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn của các NH TM.
Mặc dù vậy, do có một vai trò rất lớn và ngày càng được khẳng định
trong nền kinh tế, trong khi số lượng lớn, ngành nghề đa dạng, nhu cầu về
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
vốn lại rất tiềm năng, nên các DN VVN là nhóm khách hàng cần được sự
quan tâm, chú trọng của các NH TM.
1.2.2 Phân loại
Để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất, Ngân hàng đưa ra rất
nhiều sản phẩm cho vay khác nhau tương ứng với sự đa dạng trong mục đích
vay vốn, sử dụng vốn và hoàn trả vốn của khách hàng, giúp họ có thể dễ
================================================================
===================
năng thanh toán tức thời thì đó sẽ là khoản vay ngắn hạn, còn nếu để mua
sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực hiện các dự án nhất định thì đó là
các khoản vay trung dài hạn. Còn đối với cá nhân và các hộ gia đình, các
khoản vay tiêu dùng đa phần là các khoản vay trung dài hạn. Phân chia các
khoản vay theo thời hạn giúp Ngân hàng có thể chủ động trong việc huy
động, giải ngân, và thu hồi vốn và lãi vay, đảm bảo được tính thanh khoản
trong khi vẫn có thể đem lại khả năng sinh lời cao nhất.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
d) Phương thức vay:
Do mục đích vay vốn và thời hạn vay vốn của các đối tượng vay rất đa
dạng, do vậy Ngân hàng cần phải đưa ra các sản phẩm cho vay có quá trình
giải ngân, thu hồi lãi và gốc hết sức linh hoạt, tạo điều kiện cho khách hàng
sử dụng đồng vốn một cách an toàn nhất và hiệu quả nhất. Người tiêu dùng
thường sử dụng hình thức thấu chi thông qua thẻ tín dụng hoặc cho vay trả
góp để mua các tài sản có giá trị lớn như mua bất động sản và ô tô. Các
doanh nghiệp tùy vào mục đích vay vốn áp dụng các phương thức khác
nhau: Nếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thì có thế vay
trực tiếp từng lần, mỗi lần vay phải làm đơn và trình ngân hàng phương án
sử dụng vốn vay. Nếu doanh nghiệp là khách hàng vay mượn thường xuyên,
vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh lại thường
áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức. Trong kì khách hàng có thể vay
trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng.
e. Tài sản đảm bảo:
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng phải có tài
sản đảm bảo khi xin vay. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro
ngân hàng. Đó cũng chính là nội dung cơ bản của hợp đồng cho vay được ký
kết giữa Ngân hàng và khách hàng, là cơ sở để cả hai bên đảm bảo quyền lợi
và nghĩa vụ của mình. Khách hàng cần phải nắm rõ các đặc tính này để lựa
chọn một sản phẩm vay tối ưu nhất cho mình. Còn về phía ngân hàng, nắm
rõ các đặc tính này là vấn đề có tính sống còn. Chính vì vậy những vấn đề
này còn được quy định rất rõ ràng và chặt chẽ bởi chính sách tín dụng nói
chung và chính sách cho vay của mỗi ngân hàng nói riêng.
1.2.3 Vai trò của cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM.
a) Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn nhỏ hiện nay là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều khó khăn trong quá
trình hoạt động kinh doanh của các DN VVN. Để giải quyết khó khăn về vốn
của các Doanh nghiệp này có thể xuất phát từ 3 nguồn chủ yếu
Vốn tự có: vốn riêng của chủ Doanh nghiệp, vốn đóng góp của các cổ
đông.
Vốn phi chính thức: vay bạn bè, gia đình, vay nặng lãi trên thị trường
phi chính thức.
Vốn chính thức: vay từ các NH TM, tổ chức tín dụng, các nguồn vốn
phi chính phủ và chính phủ.
Có thể nói trong các nguồn vốn trên thì nguồn vốn linh hoạt nhất, dồi dào
nhất là vốn vay từ phía các NHTM, do đó đây là nguồn vốn có vai trò rất to
lớn đối với các DN VVN nhằm mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công
nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…. Có thể nói hoạt
động cho vay của NHTM không chỉ là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ cho sự ra đời
và phát triển của các DN VVN mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của các Doanh nghiệp này
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
b) Đối với Ngân hàng thương mại
năng nhận được nguồn vốn hỗ trợ này là rất cao.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại
1.3.1. Nhân tố thuộc về phía Ngân hàng thương mại
Khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bất kỳ của NH TM thì
điều trước tiên là phải xem xét các nhân tố chủ quan, tức là các nhân tố xuất
phát từ chính bản thân Ngân hàng. Dưới đây là một số các nhân tố không chỉ
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DN VVN nói riêng mà còn là các nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay nói chung vì DN VVN chỉ là một trong
những đối tượng cho vay của NH TM.
a) Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế hiện đại, các NHTM muốn tồn tại và kinh doanh có lợi
nhuận cao thì phải xây dựng được cho mình một chiến lược kinh doanh hiệu
quả. Vì thị trường ngày càng đa dạng, nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày
càng tăng cao, NH TM trong giới hạn nguồn lực của mình không thể đáp
ứng hết. Trong khi đó, các NHTM hiện nay lại đang phải chịu sức ép về đa
dạng hóa sản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh. Do đó một chiến lược kinh
doanh hiệu quả là rất cần thiết để giúp Ngân hàng có một phương hướng
phát triển nhất quán, khai thác tốt nhất năng lực hiện có của mình, đồng thời
giúp Ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất những biến đổi trong
môi trường kinh doanh.
Hiện nay rất nhiều NHTM đã chuyển trọng tâm sang hoạt động cho vay
DN VVN thậm chí xác định cho vay DN VVN là một bước chuyển đổi tích
cực trong cơ cấu đầu tư, hay là hoạt động mũi nhọn bởi Nhà nước chủ
trương phát triển DNNVV giai đoạn 2006- 2010 sẽ trở thành bộ phận cấu
thành quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010
Khả năng huy động vốn tiền gửi và vay mượn trên các thị trường tài
chính, nguồn vốn tự có, khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản sinh lời, quy mô
tài chính, và khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng... có ảnh hưởng rất lớn
đến chính sách cho vay , do đó cũng tác động đến hoạt động cho vay của
Ngân hàng. Nếu vốn chủ sở hữu của Ngân hàng lớn, ngân hàng có thể theo
đuổi chính sách cho vay mạo hiểm, nghiêng về tìm kiếm lợi nhuận. Nếu
Ngân hàng có một nguồn tièn gửi dồi dào, ổn định cho phép Ngân hàng có
thể gia tăng các khoản tín dụng trung và dài hạn với mức lãi suất tốt hơn.
Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng với đối thủ của mình.
e) Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ của Ngân hàng
Vị trí của ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng ở vị thế
thuận lợi, thiết bị hiện đại sẽ giúp phục vụ khách hàng tiện lợi và nhanh
chóng. Trình độ công nghệ của ngân hàng càng hiện đại sẽ giúp cho việc
thực hiện nghiệp vụ của nhân viên Ngân hàng càng hiệu quả và việc tiếp cận
các dịch vụ Ngân hàng của khách hàng càng tiện lợi.
f) Hoạt động marketing của Ngân hàng
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
Là những yếu tố liên quan đến nghiên cứu thị trường khách hàng và hệ
thống thông tin marketing. Vị thế cạnh tranh trên thị trường, xác định khách
hàng mục tiêu, đa dạng hoá về sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, giá cả của
ngân hàng (lãi suất)...sẽ có tác dụng rất tốt trong hoạt động cho vay của
Ngân hàng. Đặc biệt trong điều kiện các NH TM của Việt Nam đang ồ ạt
bành trướng thị trường như hiện nay thì có một chính sách Marketing tốt sẽ
là ưu thế rất lớn của Ngân hàng. Vì hiện nay đang có quá nhiều ngân hàng
đang tranh nhau phục vụ khách hàng: 6 NH TM nhà nước, khoảng 37 ngân
hàng cồ phần, và 36 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên
hoặc từng lần cho một dự án, phương án sản xuất kinh doanh. Nó là nhân tố
quan trọng nhằm bù đắp những rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN VVN, do vậy là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá
Doanh nghiệp. Một DN VVN có vốn tự có quá nhỏ sẽ ít có khả năng chống
chọi với hoàn cảnh bất lợi.
Trong khi đó vốn đi vay chỉ là để bổ sung, hỗ trợ cho vốn tự có để DN
VVN có thể hoạt động liên tục và hiệu quả. Nếu vốn đi vay nhiều, chi phí trả
lãi của doanh nghiệp cao sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh thua lỗ và hạn chế
khả năng thanh toán nợ vay Ngân hàng của các doanh nghiệp này.
b) Năng lực tài chính của DN VVN
Ngoài vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn của doanh
nghiệp, năng lực tài chính của DN VVN còn thể hiện ở khả năng sinh lời,
hiệu quả hoạt động, tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Đây là các chỉ tiêu được Ngân hàng phân tích và đánh giá một cách
cẩn thận vì nó giúp Ngân hàng đánh giá được khả năng hoàn trả vốn vay của
Doanh nghiệp cũng như đánh giá rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng, là nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cho vay và là nội dung quan
trọng của quy trình cho vay của Ngân hàng. Tuy nhiên để các NHTM có thể
đánh giá một cách chính xác năng lực tài chính của Doanh nghiệp thì các
báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải đầy đủ, trung thực và tốt nhất là
được qua kiểm toán.
c) Năng lực sản suất của DN VVN
Năng lực sản xuất của DN VVN biểu hiện ở giá trị máy móc, thiết bị, nhà
xưởng và công nghệ sản xuất hiện đại, biểu hiện cụ thể ở quá trình sản xuất
sản phẩm, cơ cấu và việc làm chủ giá thành sản phẩm. Tiêu thụ sản phẩm tốt
nhưng nếu giá thành lớn hơn giá bán sẽ ảnh hưởng lớn đến thu nhập của
doanh nghiệp. Việc nghiên cứu giá thành và năng lực sản xuất sẽ cho thấy
tính cấp thiết và vai trò của việc phải đầu tư mới.
d) Năng lực thị trường của DN VVN
Năng lực thị trường của doanh nghiệp biểu hiện ở khả năng đáp ứng nhu
chung và hoạt động cho vay DN VVN nói riêng.
a) Môi trường chính trị - xã hội
Các nhân tố xã hội như văn hoá tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ
ngân hàng trong đời sống, tập quán tiết kiệm, đầu tư, ứng xử trong quan hệ
giao tiếp, kỳ vọng cuộc sống, xu hướng về lao động...cũng có tác động đến
việc cung cấp dịch vụ tài chính của Ngân hàng.
Tác động từ môi trường chính trị tới hoạt động của các NH TM không có
tính thường xuyên nhưng tác động của nó tới Ngân hàng lại vô cùng to lớn.
Một sự thay đổi hệ thống chính trị có thể làm cho các Ngân hàng mất phần
lớn hoặc toàn bộ khoản cho vay của mình, điều này sẽ đẩy các Ngân hàng
đến bờ vực phá sản.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
b) Môi trường pháp lý
Ngân hàng là hoạt động được kiểm soát chặt chẽ về phương diện pháp
luật hơn so với các ngành khác. Các chính sách tác động đến hoạt động động
kinh doanh của ngân hàng như chính sách cạnh tranh, phá sản, sát nhập, cơ
cấu và tổ chức ngân hàng, các quy định về cho vay, bảo hiểm tiền gửi, dự
phòng rủi ro tín dụng, quy định về quy mô vốn tự có... được quy định trong
luật ngân hàng và các quy định hướng dẫn thi hành luật. Ngoài ra, các chính
sách tiền tệ, chính sách tài chính, thuế, tỷ giá, quản lý nợ của Nhà nước và
các cơ quan quản lý hữu quan như ngân hàng Trung ường, Bộ tài chính...
cung thường xuyên tác động vào hoạt động của ngân hàng.
c) Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế phù hợp và phát triển có thể tạo ra những thuận lợi
cho phát triển kinh tế. Các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động hiệu
quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô vốn, nhu cầu về vốn sẽ tăng nhanh, thúc
đẩy hoạt động cho vay của các Ngân hàng, trung gian tài chính quan trọng
Đặc biệt Ngân hàng TMCP Hàng Hải ra đời ở thời điểm trên nhiều diễn
đàn, người ta còn đang không ngớt tranh luận về vấn đề thành công, thất
bại của các NH TM. Cho đến ngày 08/06/1991, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước đã cấp giấy phép số 0001/NHNN-GP tạo điều kiện cho Ngân hàng
Hàng Hải chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/07/1991, trở thành
NHTM cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập sau khi có Pháp lệnh
Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính. Đây là ngân hàng TMCP
của Nhà nước và nhân dân, được thực hiện hoạt động Ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo quy định của Pháp luật vì mục
tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Ban đầu Ngân hàng Hàng Hải chỉ có 24 cổ đông, khoảng 300 cán bộ
nhân viên và 7 chi nhánh ở Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Hồ
Chí Minh. Sau hơn 17 năm hoạt động, Ngân hàng đã có trên 850 cán bộ
nhân viên và 90 điểm giao dịch khắp cả nước. Cũng không phải quá lời khi
nói rằng: Những năm đầu mới thành lập, Ngân hàng Hàng Hải là một trong
những Ngân hàng TMCP hàng đầu có chất lượng dịch vụ thanh toán quốc
tế tốt nhất.
Thời gian qua, Ngân hàng Hàng Hải đã gặp không ít khó khăn, thử
thách. Nhưng bằng một quá trình cố gắng bền bỉ, Ngân hàng vẫn duy trì
mối quan hệ toàn diện với các khách hàng truyền thống và đang chuyển
mình vươn lên mạnh mẽ, tiến nhanh về mục tiêu trở thành một trong những
ngân hàng hiện đại có chất lượng dịch vụ hàng đầu của Việt Nam.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
Những cột mốc đáng nhớ của Maritime Bank
♦ Ngày 12/7/1991: Maritime Bank chính thức khai trương tại thành
phố Cảng Hải Phòng
♦ Thời kỳ 1992 – 1994: Maritime Bank phát triển mạnh việc thực hiện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
hàng đầu của cả nước. Sự kiện này đã đóng vai trò quan trọng thúc
đẩy sự phát triển toàn diện của Maritime Bank. Đây là một sự chuyển
hướng chiến lược, thể hiện quyết tâm lớn của Maritime Bank trong
việc mở rộng ảnh hưởng và mở rộng thị trường;
♦ Năm 2006-2007: Maritime Bank đã tiến hành việc tái cấu trúc bộ
máy một cách cơ bản, toàn diện theo hướng tách riêng các hoạt động
kinh doanh và hoạt động hỗ trợ, hình thành các Khối nghiệp vụ
(Khối Dịch vụ và Khách hàng cá nhân, Khối Khách hàng doanh
nghiệp, Khối Kinh doanh Nguồn vốn và Khối Quản lý rủi ro) đồng
thời tăng cường vai trò, năng lực quản lý tập trung tại Trụ sở chính.
Cơ cấu tổ chức mới sau khi tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính chỉ đạo
xuyên suốt toàn hệ thống. Sản phẩm được quản lý theo định hướng
khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro được quan tâm đúng mức.
Các kênh phân phối tập trung phân phối sản phẩm dịch vụ cho Khách
hàng mục tiêu;
♦ Năm 2008 :
Tính đến ngày 24/12/2008, tổng tài sản toàn hàng đạt trên 32.000 tỷ
đồng, bằng 164% kế hoạch năm; Maritime Bank đã đạt và vượt kế hoạch
năm ở hầu hết các chỉ tiêu hoạt động cơ bản. Đặc biệt, lợi nhuận trước thuế
của Ngân hàng đã đạt 430 tỷ đồng tăng gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2007
và đạt 102 % kế hoạch năm và dự kiến cả năm nay sẽ đạt mức 450 tỷ đồng,
vượt xấp xỉ 20% so với kế hoạch.
Với tầm nhìn và chiến lược đúng đắn, chính xác trong đầu tư công nghệ
và nguồn nhân lực, nhạy bén trong điều hành và tinh thần đoàn kết nội bộ,
trong điều kiện ngành Ngân hàng có những bước phát triển mạnh mẽ và
môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện cùng sự phát triển của nền
thay thế bằng Giấy chứng nhận ĐKKD số 0103008429 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp ngày 01/07/2005, thay đổi
lần thứ 8 ngày 28/12/2007
Mã số thuế 02.001.24891
Ngành nghề
kinh doanh
Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển;
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
Chiết khấu giấy tờ có giá;
Hùn vốn, tham gia đầu tư vào các tổ chức kinh tế;
Cung cấp dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước;
Tài trợ thương mại;
Kinh doanh ngoại hối;
Các dịch vụ ngân hàng khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Cơ cấu bộ máy quản trị của Maritime Bank
Đại hội đồng Cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Maritime
Bank, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Luật pháp
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Đại hội đồng
cổ đông
Ban
Kiểm Soát
Hội đồng
Kế
Toán
Khối
Quản
lý Rủi
ro
Các
Phòng
Ban
hỗ trợ
Sở Giao dịch, các Chi nhánh và Phòng Giao dịch
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
và Điều lệ Maritime Bank quy định.
Hội đồng Quản trị
Do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân
danh Ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi
của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT
giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hằng năm; chỉ đạo và
giám sát hoạt động của Ngân hàng thông qua Ban điều hành và các Hội
đồng.
Ban Kiểm soát
Do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân
hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động của hệ
thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng; thẩm định báo cáo tài
chính hàng năm; báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp
về báo cáo tài chính của Ngân hàng.
Các Hội đồng, Ủy ban
Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị ngân
hàng Nhà nước Việt Nam), Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đã tích
cực tham gia vào công cuộc đổi mới của nền kinh tế Việt Nam và đã khẳng
định được thương hiệu và uy tín trên thị trường Việt Nam. Danh mục sản
phẩm của Maritime Bank rất đa dạng, có chính sách riêng tập trung vào danh
mục khách hàng mục tiêu bao gồm các cá nhân và các doanh nghiệp.
Năm 2008 là một năm đầy khó khăn, thử thách, có ảnh hưởng lớn tới hoạt
động kinh doanh của hệ thống NH TM, đặc biệt là các Ngân hàng cổ phần.
Chính Phủ và Ngân hàng Nhà Nước đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt, kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao, sử dụng các
công cụ như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, thị trường mở để điều tiết lượng
vốn khả dụng của các NH TM. Trong điều kiện trên, ngay từ đầu năm 2008
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần phải tập trung
mọi nguồn lực vào việc phòng chống rủi ro thanh khoản và thực hiện kế
hoạch kinh doanh trong điều kiện có nhiều diễn biến phức tạp.
Trong quý II và quý III năm 2008, lãi suất cơ bản gia tăng liên tục kèm
theo dự báo lạm phát cao đã làm ảnh hưởng lớn tới công tác huy động vốn
của hẹ thống Ngân hàng. Tới quý IV năm 2008, để chống giảm phát Ngân
hàng Nhà Nước nới lỏng dần các chính sách điều hành vốn, dự trữ bắt buộc
giảm dần, lãi suất cơ bản lại quay trở về mức đầu năm; Hệ thống Ngân hàng
chịu sức ép đối với khối lượng vốn do đã huy động mới hoặc phải duy trì
tiền gữi dân cư với lãi suất cao, trong khi đầu tư tín dụng điều chỉnh giảm
dần theo quy định của Nhà Nước.
Trong điều kiện trên, Maritime Bank cũng phải chịu áp lực rất lớn, có
thời điểm Toàn hệ thống phải tập trung toàn bộ nguồn lực để đối phó với vấn
đề thanh khoản. Trong bối cảnh thị trường tiền gữi biến động mạnh và mức
độ cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng. Hội đồng quản trị và Ban điều
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B